Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị - thực tiễn tại địa bàn Thành phố Hà Nội Luận văn ThS. Luật - Pdf 28

1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ KIM ANH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ -
THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2012

2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ 10

1.1. Khái niệm và đặc điểm về môi trường đô thị 10

1.1.1. Khái niệm môi trường đô thị 10

1.1.2. Đặc điểm môi trường đô thị 15

1.1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường đô thị 17

1.2. Khái niệm, nội dung và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị . 21

1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị 21

1.2.2. Nội dung của quan hệ pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị 23

1.2.3. Vai trò của pháp luật môi trường trong bảo vệ môi trường đô thị 25

1.3. Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị của một số quốc gia trên thế giới28

1.3.1. Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị của Sing-ga-po 28

1.3.2. Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Nhật Bản 33

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40


3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Việt
Nam hiện nay 81

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
ở Việt Nam hiện nay 81

3.2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi
trường đô thị ở Việt Nam hiện nay 87

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

6

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sống, sự phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia và nhân loại. Quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế đang diễn ra có tác động mạnh mẽ tới đời sống kinh tế, xã
hội của mọi quốc gia, trong đó có ảnh hưởng nhiều mặt tới môi trường. Vì
vậy, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề cấp bách trên phạm vi toàn thế giới,
trong đó có nội dung bảo vệ môi trường đô thị.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm tới bảo vệ
môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị nói riêng. Tuy nhiên, các
vấn đề môi trường như mất cân bằng sinh thái, biến đổi khí hậu, sự cố môi
trường, ô nhiễm môi trường tại các đô thị vẫn diễn ra, gây tác hại cho con
người. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, như ý thức bảo vệ môi
trường của người dân còn thấp, chưa áp dụng thành tựu khoa học công nghệ

luật bảo vệ môi trường đô thị. Hay các công trình đã công bố nghiên cứu về
pháp luật bảo vệ môi trường nói chung hoặc các mảng pháp luật môi trường
như pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, pháp luật về bảo tồn
di sản, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí… Ví dụ như: Võ Kim
Cương (2006), Chính sách đô thị, NXB Xây dựng, Hà Nội; PGS, TS Nguyễn
Đức Khiển (2009), Quản lý môi trường đô thị, NXB Nông nghiệp, Hà Nội;
Đinh Quỳnh Phượng (2011), Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam -
Thực trạng và giải pháp
,
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội; Trần Phong Bình (2007), Pháp luật về bảo vệ môi trường trong
lĩnh vực du lịch ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội
8

Kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học có liên quan là tài liệu
tham khảo rất hữu ích trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn của tác giả.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá
thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay và thực
hiện pháp luật về môi trường đô thị tại địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệ
môi trường đô thị ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô
thị ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thi hành tại địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường đô thị ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng.
4. Phạm vi nghiên cứu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị ở Việt
Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện tại địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
ở Việt Nam hiện nay.
10

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
1.1. Khái niệm và đặc điểm về môi trường đô thị
1.1.1. Khái niệm môi trường đô thị
1.1.1.1. Khái niệm về môi trường
Về khái niệm môi trường, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Hiểu theo nghĩa rộng, môi trường là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội
cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên
nhiên, đất, nước, không khí, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng chịu sự tác động
của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động,
thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây
dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài
nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng
hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con
người thêm phong phú.
Hiểu theo nghĩa hẹp, môi trường không bao gồm tài nguyên thiên
nhiên, mà chỉ có các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất
lượng cuộc sống của con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà
trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí
nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội…[57, 1].

động từ bên ngoài; là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con
người và sinh vật trên trái đất. Ví dụ, tầng Ôzôn trong khí quyển hấp thụ và
phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời.
12

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Điều
này được lý giải bởi môi trường trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ
lịch sử trái đất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và
phát triển văn hóa của loài người; cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời
mang tính chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm họa đối với con người và
sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy
ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như mưa
bão, động đất, núi lửa ; cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen,
các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh
quan có giá trị thẩm mỹ để nghiên cứu, tham quan, du lịch và thưởng ngoạn,
tôn giáo và văn hóa khác [57, 4].

Như vậy, với những chức năng trên, môi trường có vai trò vô cùng quan
trọng với con người. Con người không thể tồn tại nếu thiếu môi trường. Vì thế,
con người cần phải tạo ra sự hòa hợp với môi trường mình đang sống, nếu
không có sự phù hợp, thì có nghĩa là con người đang tự hủy diệt mình. Do vậy,
con người cần giữ gìn và bảo vệ, cải thiện môi trường. Điều đó cũng đồng thời
với việc con người đang bảo vệ, cải thiện cuộc sống của chính mình.
1.1.1.2. Khái niệm về đô thị
Sự phát triển của phân công lao động xã hội, đặc biệt là sự hình thành
và phát triển của công nghiệp và thương mại đã dẫn tới sự hình thành và phát
triển một loại hình kết cấu kinh tế - xã hội mới là các điểm dân cư gắn với
hoạt động sản xuất tập trung có tính công nghiệp, mang tính chuyên môn hóa
và mang sắc thái khác với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đó là hình thái
ban đầu của đô thị.

yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững); kiến trúc, cảnh
quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến
trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh
đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô
14

thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi
trường, cảnh quan thiên nhiên [25]. Đó cũng là các tiêu chuẩn cơ bản để phân
loại đô thị của một quốc gia.
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay
chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định.
Đô thị có ba đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đô thị có một cấu trúc hoàn chỉnh, đồng bộ và luôn vận động.
Hệ thống cấu trúc hạ tầng của đô thị bao gồm hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hệ
thống hạ tầng xã hội. Sự vận động của đô thị là các hoạt động của nền kinh tế
- xã hội trên cơ sở cấu trúc của hệ thống hạ tầng đó.
Thứ hai, đô thị luôn luôn phát triển. Sự hình thành và phát triển của đô
thị luôn gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của loài người, đặc biệt là
từ khi xuất hiện nền kinh tế hàng hóa. Do đó, đô thị hình thành và phát triển
chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã hội, đặc biệt là các
quy luật của nền kinh tế thị trường. Các tác động này là thời cơ và cũng là
thách thức cho sự phát triển ổn định và bền vững của đô thị.
Thứ ba, sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được. Đô
thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế
- xã hội. Tuy nhiên, con người có thể định hướng, can thiệp vào sự phát triển
của đô thị theo ý chí chủ quan của mình dựa vào những quy luật nhất định. Ví
dụ: để trở thành khu đô thị du lịch thì phải đầu tư vào hạ tầng cơ sở dịch vụ,
khu đô thị khoa học công nghệ thì phải đầu tư vào giáo dục và đào tạo nguồn

16

Thứ hai, môi trường đô thị là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết (như
ánh sáng, đất, nước, không khí ) cho cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh
doanh của người dân đô thị.
Đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, trình độ phát triển kinh tế - xã
hội cao hơn các khu vực khác nên nhu cầu về tài nguyên của đô thị cũng cao
hơn, cả về số lượng và chất lượng nên môi trường đô thị chịu áp lực về tài
nguyên giới hạn.
Tính bình quân đầu người, dân số đô thị tiêu dùng tài nguyên thiên
nhiên (như năng lượng, nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa ) gấp 2 - 3 lần so
với người dân sinh sống ở nông thôn [7, 5-6].

Thứ ba, môi trường đô thị là nơi chứa đựng rất nhiều chất phế thải do
cư dân đô thị tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của
mình, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, gây bệnh tật cho cuộc sống
của con người.
Trong quá trình sinh sống và phát triển, con người luôn đào thải ra các
chất thải vào môi trường, nhất là tại các khu đô thị, với số lượng dân cư đông,
vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy các chất thải, do đó
chất lượng môi trường sẽ giảm, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, có khả
năng gây bệnh cho con người.
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hiện trạng môi
trường quốc gia năm 2010 thì do người dân đô thị tiêu dùng tài nguyên thiên
nhiên gấp 2 - 3 lần so với người dân sinh sống ở nông thôn nên chất thải do
dân đô thị thải ra cũng cao gấp 2 - 3 lần người dân nông thôn.
Tại đô thị, khí thải từ các hoạt động giao thông, sản xuất công nghiệp
và xây dựng cũng là nguyên nhân dẫn đến các bệnh về đường hô hấp, tiêu
hóa, tim mạch…
17

phát sinh chủ yếu từ các nguồn: chất thải sinh hoạt; chất thải từ các khu
thương mại; từ các công trình xây dựng; từ các dịch vụ công cộng; từ các nhà
máy xử lý; từ các nhà máy công nghiệp; từ các hoạt động nông nghiệp; từ các
cơ quan, bệnh viện, trường học Theo thống kê của Trung tâm Nghiên cứu
và Quy hoạch Môi trường Đô thị - Nông thôn, Bộ Xây dựng cho thấy, năm
2004, lượng chất thải rắn đô thị bình quân khoảng 0,9kg - 1,2 kg/người/ngày
ở các đô thị lớn và dao động từ 0,5kg - 0,65 kg/người/ngày tại các đô thị nhỏ.
Đến năm 2008, con số này đã tăng lên 1,45 kg/người/ngày ở khu vực đô thị.
Từ năm 2003 đến năm 2008, trên phạm vi toàn quốc, lượng chất thải rắn phát
sinh trung bình tăng từ 150% - 200%, chất thải rắn sinh hoạt đô thị tăng trên
200%, chất thải rắn công nghiệp tăng 181% và còn tiếp tục gia tăng trong thời
gian tới. Dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm
2015, khối lượng chất thải rắn phát sinh ước đạt khoảng 44 triệu tấn/năm, đặc
biệt là chất thải rắn đô thị và công nghiệp [7, 109-110].
Bên cạnh đó, khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt,
xây dựng cơ bản trong vùng đô thị theo nước mưa chảy xuống, thấm vào lòng
đất khiến cho chất lượng đất đô thị ngày càng xấu. Thêm nữa là ô nhiễm
nguồn nước mặt và nước ngầm do việc quản lý kém cũng đang làm cho ô
nhiễm đất đô thị gia tăng.
Tình trạng ô nhiễm đất như dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều
gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khỏe con người. Nếu sử
dụng nguồn nước hoặc sản phẩm trồng trọt có dư thừa Nitrat (từ đạm chuyển
hóa thành), con người có khả năng bị nhiễm hội chứng trẻ xanh (tắc nghẽn
vận chuyển ô xy trong cơ thể trẻ em) và gây bệnh ung thư dạ dày ở người lớn.
Thứ hai, ô nhiễm môi trường nước đô thị. Ô nhiễm môi trường nước là
sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý, hóa học và sinh học
của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở
19

nên độc hại với con người và sinh vật. Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt

môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khỏe con người bị suy giảm, quá trình
lão hóa trong cơ thể bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh
hen suyễn, viêm phế quản; gây ung thư, suy nhược thần kinh, tim mạch và
làm giảm tuổi thọ con người.
Đặc biệt, ở các đô thị, khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông,
sinh hoạt, xây dựng cơ bản, mùi hôi thối của các cống rãnh, kênh mương tiêu
thoát nước đã làm cho ô nhiễm không khí đô thị gia tăng.
Thứ tư, ô nhiễm tiếng ồn đô thị. Ô nhiễm tiếng ồn là tiếng ồn trong môi
trường vượt quá ngưỡng nhất định gây khó chịu cho người hoặc các loài động
vật. Tai người không thể chịu đựng được những âm thanh phát ra với cường
độ quá lớn. Thông thường, khi mức cường độ âm thanh đạt tới 140 decibel
(dB) thì người nghe sẽ cảm thấy chói tai.
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng lớn
đến sức khỏe con người, nhưng lại ít được quan tâm như các loại ô nhiễm
khác. Ô nhiễm tiếng ồn phổ biến ở hầu hết các đô thị.
Theo PGS. TS Nguyễn Đinh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tài
nguyên - Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, người đã thực hiện nhiều
nghiên cứu về tiếng ồn thì trong ba nguồn gây tiếng ồn chính ở đô thị, gồm
hoạt động công nghiệp, giao thông, xây dựng - dịch vụ thì tiếng ồn giao thông
là nặng nề nhất. Ông Nguyễn Đinh Tuấn nhận xét: “Các phương tiện giao
thông đều xả tiếng ồn ra môi trường, nhất là trong giờ cao điểm. Khi mật độ
xe cộ cao, tiếng ồn của đủ loại phương tiện, từ xe máy, taxi, xe buýt, đến các
loại xe tải đã cộng hưởng, gây ra tiếng ồn rất lớn. Những người dân sống ở
hai bên đường phố của những khu vực đó phải gánh chịu cả tiếng ồn lẫn ô
nhiễm không khí” [49].
21

Tiếng ồn tác động đến tai, sau đó tác động đến hệ thần kinh trung ương,
rồi đến hệ tim mạch, dạ dày và các cơ quan khác, sau đó mới đến cơ quan
thính giác. Vì thế ô nhiễm tiếng ồn có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe và hành

trường càng trở nên cần thiết. Con người tiến hành rất nhiều hoạt động để bảo
vệ môi trường đô thị, bảo vệ các thành phần của môi trường, trong đó có các
hoạt động nhằm đảm bảo sự trong lành của môi trường không khí, đảm bảo
độ trong sạch của nguồn nước, giữ gìn vệ sinh môi trường ở đô thị…
Hai là, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường đô thị,
ứng phó sự cố môi trường. Hiện nay, trong xu thế phát triển ngày càng mạnh
mẽ của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đã tạo nên sức ép
đối với môi trường nói chung và môi trường đô thị nói riêng. Vì vậy, để bảo
vệ môi trường đô thị, vấn đề hết sức quan trọng là phải phòng ngừa những tác
động xấu của đô thị hóa, của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đối với sức
khỏe con người tại các khu vực này, ứng phó kịp thời các sự cố môi trường,
bảo vệ môi trường sống tốt cho cộng đồng dân cư đô thị.
Ba là, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường
đô thị. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, nhất là từ khi xuất hiện nền
sản xuất hàng hóa loài người đã gây ra nhiều biến đổi cho môi trường, ảnh
hưởng xấu đến chất lượng môi trường sống. Tình trạng nguồn nước bị nhiễm
bẩn, môi trường không khí bị ô nhiễm là những thách thức lớn mà con
người phải đối đầu cho sự tồn tại và phát triển của mình. Vì vậy, việc khắc
phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm, phục hồi và cải thiện, nâng cao chất
lượng của môi trường là một yêu cầu bức xúc hiện nay của công tác bảo vệ
môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị nói riêng.
Bốn là, bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị. Đây là yếu tố giữ vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo mỹ quan đô thị nhằm thỏa mãn một trong những
23

nhu cầu không thể thiếu của con người, đó là nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi, giải
trí. Bên cạnh đó, về phương diện môi trường thì cảnh quan đô thị cũng góp
phần không nhỏ trong đảm bảo cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học.
Để đạt được các mục đích nêu trên, bảo vệ môi trường đô thị cần được
thực hiện bằng nhiều công cụ, biện pháp, trong đó công cụ có hiệu quả nhất là

trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc các hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về
giữ gìn vệ sinh môi trường đô thị…
Thứ hai, yếu tố khách thể. Khách thể của quan hệ pháp luật về bảo vệ
môi trường đô thị là những lợi ích mà các chủ thể hướng tới khi thực hiện các
hoạt động nhằm bảo vệ môi trường đó là giữ cho môi trường đô thị trong
lành, sạch đẹp; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị; ngăn ngừa và hạn chế
những tác động xấu đến môi trường đô thị; khắc phục sự cố, suy thoái, ô
nhiễm môi trường đô thị.
Thứ ba, yếu tố nội dung. Nội dung của quan hệ pháp luật về bảo vệ môi
trường đô thị là những quy định của pháp luật về việc bảo vệ môi trường đô
thị được ban hành nhằm đạt những lợi ích mà các chủ thể trong quan hệ pháp
luật bảo vệ môi trường đô thị mong muốn; quy định quyền và nghĩa vụ chủ
thể trong bảo vệ môi trường đô thị.
Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị gồm những nội dung chính: Các
quy định về bảo vệ môi trường đô thị nhằm ngăn ngừa, hạn chế những tác
động xấu đến môi trường đô thị. Đó là các quy định pháp luật về quy hoạch
bảo vệ môi trường đô thị, các quy định pháp luật về yêu cầu chung về bảo vệ
môi trường đối với đô thị, bảo vệ môi trường nơi công cộng, bảo vệ môi
trường đối với các hộ gia đình tại đô thị và các quy định khác của pháp luật về
bảo vệ môi trường đô thị. Ví dụ, pháp luật quy định quy hoạch bảo vệ môi
trường đô thị bao gồm hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng bảo vệ môi
25

trường như hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống
tiêu thoát nước mưa; hệ thống cây xanh, vùng nước… nhằm hạn chế, ngăn
ngừa những tác động xấu đến môi trường đô thị như hiện tượng sự cố môi
trường, suy thoái môi trường, hạn chế các chất gây ô nhiễm môi trường tại
các đô thị…; các quy định về yêu cầu đối với bảo vệ môi trường đô thị như
yêu cầu về bảo vệ môi trường nơi công cộng, yêu cầu về bảo vệ môi trường
đối với các hộ gia đình, yêu cầu đối với tổ chức tự quản bảo vệ môi trường tại

đô thị một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định các chế tài được áp dụng cho các
chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, nhằm
trừng trị những người vi phạm, đồng thời răn đe các tổ chức, cá nhân không
thực hiện các hành vi gây ô nhiễm môi trường đô thị.
Thứ hai, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị là công cụ để khắc phục ô
nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường đô thị thông qua các quy
định về trách nhiệm của các chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường tại đô
thị như: Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và
tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị (việc thực
hiện quy chuẩn quốc gia về chất lượng vệ sinh môi trường tại các đô thị; việc
báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược liên
quan đến môi trường đô thị; hoạt động quan trắc môi trường tại đô thị…); các
hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đô
thị như thu gom và vận chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định, xả
nước thải vào hệ thống thu gom nước thải; tham gia hoạt động vệ sinh môi
trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về

Trích đoạn Nhận xét, đánh giá pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam Những hạn chế, yếu kém Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status