Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông - Pdf 29

Mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường bất cứ một doanh nghiệp công nghiệp nào
khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều phải xuất phát từ yêu
cầu của thị trường, nhằm trả lời được 3 câu hỏi cơ bản "Cái gì, như thế nào,
cho ai". Thị trường vừa được coi là điểm xuất phát cũng vừa là điểm kết thúc
của quá trình sản xuất kinh doanh, là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng. Có
thể nói một doanh nghiệp chỉ làm ăn có hiệu quả khi nó xuất phát từ thị
trường, tận dụng một cách năng động, linh hoạt những cơ hội trên thị trường.
Hay nói cách khác, thông qua thị trường, sản phẩm hàng hoá của doanh
nghiệp được tiêu thụ, giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được diễn ra một cách liên tục trên cơ sở thực hiện được các mục tiêu
đã đề ra. Vì thế duy trì và mở rộng thị trường được coi là một trong những
nhiệm vụ cơ bản và lâu dài của doanh nghiệp, đặc biệt trong quá trình hội
nhập của nền kinh tế đất nước với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên hoạt động
trong cơ chế thị trường cũng đồng nghĩa với việc phải luôn luôn đối mặt với
các rủi ro thách thức trong quá trình cạnh tranh khốc liệt. Để phát triển thị
trường một cách có hiệu quả, trước hết doanh nghiệp cần nâng cao khả năng
cạnh tranh, khả năng nhận thức về thị trường. Tiếp đó doanh nghiệp cần phải
tiến hành nghiên cứu môi trường và khách hàng, sử dụng các thông tin, dữ
liệu đó để phán đoán thị trường lựa chọn mục tiêu thị trường, lập kế hoạch
chiến lược kinh doanh, kế hoạch duy trì thị trường cũ, chiếm lĩnh thị trường
mới. Sau cùng là triển khai thực hiện kế hoạch thông qua 4 công cụ (sản
phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến hỗn hợp) .
Trong tình hình thực tế hiện nay ngành sản xuất bóng đèn, phích nước ở
Việt Nam đang phát triển nhanh chóng và thu được nhiều thành tựu đáng kể
trên cả thị trường trong và ngoài nước. Hoà chung trong trào lưu đó, Công ty
bóng đèn phích nước Rạng Đông (với chất lượng hàng đầu của Việt Nam)
cũng là một công ty sản xuất hiệu quả càng ngày càng có nhiều khách hàng
ưa chuộng tiêu dùng sản phẩm của Công ty. Đây là một thế mạnh lớn nhưng
bên cạnh đó Công ty đã gặp phải không ít khó khăn. Thiết nghĩ cần ngay từ
bây giờ phải có phương hướng phát triển đúng đắn. Xuất phát từ vai trò của

của người lao động về việc làm bao lâu, cho ai đều được điều chỉnh bằng giá
cả.
1.3. Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong đó những người
mua và người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng người mua và người
bán nhiều hay ít phản ánh qui mô của thị trường lớn và nhỏ. Việc xác định
nên mua hay bán hàng hoá và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do
quan hệ cung cầu quyết định. Từ đó ta thấy thị trường còn là nơi thực hiện sự
kết hợp giữa 2 khâu sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
1.4. Thị trường là phạm trù riêng của nền sản xuất hàng hoá. Hoạt động
cơ bản của thị trường được thể hiện qua 3 yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với
nhau: Nhu cầu hàng hoá dịch vụ, cung ứng hàng hoá dịch vụ và giá cả hàng
hoá dịch vụ.
3
1.5. Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời khái niệm phân công
lao động xã hội. Các Mác đã nhận định "Hễ ở đâu và khi nào có sự phân công
lao động xã hội và có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy sẽ có thị trường.
Thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó
có thể phát triển vô cùng tận".
1.6. Thị trường về vấn đề Marketing được hiểu là bao gồm tất cả những
khách hàng tiềm ẩn cùng có nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có
khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Tóm lại thị trường được hiểu là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu của một
loạt hàng hoá, dịch vụ nào đó hay cho một đối tượng khác có giá trị. Ví dụ
như thị trường sức lao động bao gồm những người muốn đem sức lao động
của mình để đổi lấy tiền công hoặc hàng hoá. Để công việc trao đổi trên được
thuận lợi, dần dần đã xuất hiện nhiều những tổ chức kiểu văn phòng, trung
tâm giới thiệu xúc tiến việc làm cho người lao động. Cũng tương tự như thế
thị trường tiền tệ đem lại khả năng vay mượn, cho vay tích luỹ tiền và bảo
đảm an toàn cho các nhu cầu tài chính của các tổ chức, giúp họ có thể hoạt
động liên tục được. Như vậy điểm lợi ích của người mua và người bán hay

* Phân loại theo mục đích sử dụng của hàng hoá:
+ Thị trường tư liệu sản xuất: đối tượng hàng hoá lưu thông trên thị
trường là các loại tư liệu sản xuất như nguyên vật liệu, năng lượng, động lực,
máy móc thiết bị.
+ Thị trường tư liệu tiêu dùng: đối tượng hàng hoá lưu thông trên thị
trường là các vật phẩm tiêu dùng phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của dân
cư như đồ dùng dân dụng, quần áo, các loại thức ăn chế biến.
* Phân loại theo quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp:
+ Thị trường đầu vào: là nơi doanh nghiệp thực hiện các giao dịch nhằm
mua các yếu tố đầu vào (thị trường lao động, thị trường tài chính - tiền tệ, thị
trường khoa học công nghệ, thị trường bất động sản...).
+ Thị trường đầu ra: là nơi doanh nghiệp tiến hành các giao dịch nhằm
bán các loại sản phẩm đầu ra của mình. Tuỳ theo tính chất sử dụng sản phẩm
hàng hoá của doanh nghiệp mà thị trường đầu ra là thị trường tư liệu sản xuất
hay tư liệu tiêu dùng.
2.2. Phân đoạn thị trường:
Hiện nay, dân số trên thế giới đã đạt tới con số trên 6 tỉ người, một con
5
số khổng lồ và được phân bố trên phạm vi rộng với những sở thích thói quen
khác nhau. Mọi doanh nghiệp đều nhận thức được rằng làm cho tất cả mọi
người ưa thích sản phẩm của mình ngay là một điều không tưởng và không
thể được. Trước hết họ cần phải khôn khéo tập trung vào phục vụ một bộ
phận nhất định của thị trường, tìm mọi cách hấp dẫn và chinh phục nó. Từ đó
xuất hiện khái niệm "phân đoạn thị trường". Nó được hiểu là việc phân chia
thị trường thành những nhóm người mua hàng khác nhau theo độ tuổi, giới
tính, mức thu nhập, tính cách, thói quen, trình độ học vấn... Không hề có một
công thức phân đoạn thị trường thống nhất nào cho tất cả các doanh nghiệp
mà họ buộc phải thử các phương án phân đoạn khác nhau trên cơ sở kết hợp
những tham biến khác nhau theo ý tưởng của riêng mình. Tuy nhiên có thể
tóm lại 4 nguyên tắc phân đoạn thị trường tiêu dùng như sau:

đối với món hàng đó. Có nguyên tắc này bởi vì người tiêu dùng quyết định
mua hàng hoá nhằm thoả mãn một lợi ích đang mong đợi nào đó. Nếu sản
phẩm đủ sức hấp dẫn, họ sẽ trở thành khách hàng thường xuyên và trung
thành của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường
thì điều cần thiết nhất không phải là đẩy mạnh tiêu thụ mà phải nhận biết,
hiểu kỹ lưỡng hành vi của khách hàng để đáp ứng đúng thị hiếu của từng
nhóm khách hàng một và từ đó sản phẩm sẽ tự được tiêu thụ trên thị trường.
* Nguyên tắc tâm lý: Phân đoạn thị trường theo nguyên tắc tâm lý là
việc phân chia người mua thành những nhóm theo đặc điểm giai tầng xã hội,
lối sống và đặc tính nhân cách. Nguồn gốc giai tầng có ảnh hưởng mạnh đến
sở thích của con người, đặc biệt là đối với đồ dùng dân dụng, quần áo, thói
quen nghỉ ngơi, đi du lịch, đọc sách báo... Những người thuộc tầng lớp trung
lưu thường đi tìm những sản phẩm hàng đầu, hàm chứa nhiều giá trị thẩm mỹ
độc đáo và thậm chí cả cách chơi chữ, còn những người thuộc tầng lớp hạ lưu
lại vừa lòng với sản phẩm thông thường nhất, phù hợp với túi tiền của mình.
Ngoài ra phong cách hay lối sống thường ngày cũng được thể hiện khá rõ
trong cách tiêu dùng của người dân. Những người "cổ hủ" thường thích
những đồ dùng, kiểu cách giản dị, tiện lợi, hay những người năng động, cởi
mở lại là những người thích các loại xe môtô dáng thể thao khoẻ mạnh... Các
doanh nghiệp khi thiết kế sản xuất hàng hoá, dịch vụ đưa vào những tính chất
và đặc tính làm vừa lòng khách hàng.
II. Vai trò và chức năng của thị trường
1. Vai trò của thị trường
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoả mãn
các nhu cầu của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng
7
cao chất lượng nhu cầu... Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, thị trường có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Thị trường vừa là động lực, vừa là điều kiện và vừa là thước đo kết
quả, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

ứng kịp thời nhu cầu của thị trường và xã hội.
2. Chức năng của thị trường
2.1. Chức năng thừa nhận:
Nếu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra tiêu thụ được trên thị trường,
tức là khi đó hàng hoá của doanh nghiệp đã được thị trường chấp nhận, lúc ấy
sẽ tồn tại một số lượng khách hàng nhất định có nhu cầu và sẵn sàng trả tiền
để có hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu đó và quá trình tái sản xuất của
doanh nghiệp, nhờ thế mà cũng được thực hiện. Thị trường thừa nhận tổng
khối lượng hàng hoá và dịch vụ đưa ra giao dịch, tức thừa nhận giá trị và giá
trị sử dụng của chúng chuyển giá trị cá biệt thành giá trị xã hội. Sự phân phối
và phân phối lại các nguồn lực nói lên sự thừa nhận của thị trường. Chức
năng này đòi hỏi các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh phải tìm
hiểu kỹ thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường. Xác định cho được thị
trường cần gì với khối lượng bao nhiêu.
2.2. Chức năng thực hiện của thị trường:
Thông qua các hoạt động trao đổi trên thị trường, người bán và người
mua thực hiện được các mục tiêu của mình. Người bán nhận tiền và chuyển
quyền sở hữu hàng hoá cho người mua. Đổi lại, người mua trả tiền cho người
bán để có được giá trị sử dụng của hàng hoá. Tuy nhiên sự thực hiện về giá trị
chỉ xẩy ra khi thị trường đã chấp nhận giá trị sử dụng của hàng hoá. Do đó khi
sản xuất hàng hoá và dịch vụ doanh nghiệp không chỉ tìm mọi cách để giảm
thiểu các chi phí mà còn phải chú ý xem lợi ích đem lại từ sản phẩm có phù
hợp với nhu cầu thị trường hay không. Như vậy thông qua chức năng thực
hiện của thị trường, các hàng hoá và dịch vụ hình thành nên các giá trị trao
đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.
2.3. Chức năng điều tiết và kích thích của thị trường
Cơ chế thị trường điều tiết việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tức là kích
thích các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực có mức lợi nhuận
hấp dẫn, có tỉ suất lợi nhuận cao, tạo ra sự di chuyển tư liệu sản xuất từ ngành
này sang ngành khác. Thể hiện rõ nhất của chức năng điều tiết là sự đào thải

mà người mua sẵn sàng mua và có khả năng thanh toán ở mỗi mức giá nhất
định với các điều kiện khác không thay đổi.
Trong thực tế cuộc sống chúng ta hiểu rằng nhiều người thích mua hàng
hoá là do sự tác động của nhiều yếu tố, thể hiện chung qua mức độ hấp dẫn
của hàng hoá. Muốn tạo ra sự hấp dẫn hàng hoá của doanh nghiệp mình so
10
với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh khác thì doanh nghiệp cần tạo ra cho
một khả năng thích ứng lớn hơn với nhu cầu. Vì vậy nghiên cứu để nhận dạng
và hiểu biết cặn kẽ nhu cầu của khách hàng trở thành vấn đề cốt lõi của
doanh nghiệp trong đó phải đặc biệt chú ý đến những nhu cầu có khả năng
thanh toán. Doanh nghiệp có thể chế tạo ra nhiều loại hàng hoá với những đặc
tính cực kỳ hoàn mỹ, rút cục họ cũng chẳng bán được là bao nhiêu, nếu như
không bám sát nhu cầu thị trường. Hơn nữa nếu chi phí sản xuất của nó lại
quá lớn, giá cao quá thì người mua không thể mua được mặc dù người ta rất
thích dùng nó. Do vậy mong muốn hay nhu cầu tiềm năng không thể biến
thành nhu cầu hiện thực, thành sức mua đối với hàng hoá. Chừng nào nhà
kinh doanh đoán biết được khách hàng sẽ cần loại hàng hoá nào với những
đặc điểm gì và đặc trưng quan trọng nhất? Để tạo ra nó người ta phải tổn phí
bao nhiêu, tương ứng với nó là mức giá nào? ... thì khi đó họ mới thực sự nắm
bắt được nhu cầu của người tiêu dùng và mới hy vọng đem lại hiệu quả trong
kinh doanh.
2.2. Cung của thị trường
Cung của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ là khối lượng hàng hoá hoặc
dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán ở một mức giá nhất định với các điều kiện
khác không thay đổi. Trên thị trường chỉ có những loại hàng hoá có nhu cầu
mới được cung ứng và phải chú ý hàng hoá được cung ứng không phải là
bằng bất cứ giá nào mà phải căn cứ vào khả năng sẵn sàng bán. Cần phải nhận
thấy rằng điều mấu chốt mà người tiêu dùng quan tâm khi mua một loại hàng
hoá hay dịch vụ chính là những lợi ích do việc tiêu dùng hàng hoá dịch vụ đó
đem lại. Như vậy những hàng hoá và dịch vụ mà người kinh doanh đem cung

Sự gia tăng số người có học vấn làm sinh động thêm thị trường hàng hoá
chất lượng cao. Sự thay đổi về cơ cấu tuổi tác trong dân cư sẽ dẫn tới tình
trạng thay đổi cơ cấu khách hàng tiềm năng theo độ tuổi. Những thay đổi này
sẽ tác động quan trọng đến cơ cấu tiêu dùng và nhu cầu về các loại hàng hoá.
* Kinh tế
Môi trường kinh tế trước hết được phản ánh qua tình hình phát triển và
tốc độ tăng trưởng kinh tế chung về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng. Tình
hình đó có thể tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau đối
với các thị trường khác nhau. Bởi vì ngoài bản thân con người ra thì sức mua
của họ cũng rất quan trọng đối với các thị trường. Nói chung sức mua phụ
thuộc vào mức thu nhập hiện tại, giá cả hàng hoá số tiền tiết kiệm, khả năng
vay nợ của khách hàng, tỉ lệ thất nghiệp, lãi suất vay tín dụng. Môi trường
12
kinh tế cũng ảnh hưởng tới cơ cấu chỉ tiêu của người tiêu dùng. Những người
thuộc tầng lớp thượng lưu thường là thị trường tiêu thụ của các mặt hàng xa
xỉ và ngược lại tầng lớp hạ lưu trong xã hội buộc phải tính toán từng xu ngay
cả khi mua sắm thứ không thể dùng. Trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thì
cơ hội phát triển thị trường sẽ thuận lợi hơn rất nhiều so với thời kỳ nền kinh
tế suy thoái.
* Tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên (khí hậu, đất
đai, nguyên vật liệu, năng lượng dùng cho sản xuất...) ảnh hưởng nhiều mặt
tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các doanh nghiệp và do vậy chúng ta
có thể gây biến động lớn trên thị trường. Sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu thô,
sự gia tăng chi phí năng lượng, sự cạn kiệt những nguyên liệu không phục hồi
như dầu mỏ, than đá, các loại khoáng sản khác... ngày càng trở nên nghiêm
trọng. Xu thế chung đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm kiếm, nghiên cứu sử
dụng các nguồn năng lượng thay thế.
Hoạt động công nghiệp hầu như bao giờ cũng gây tổn hại cho môi
trường. Các nhà chức trách đang lên tiếng kêu gọi mọi người cùng suy nghĩ

Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật pháp, các công cụ chính
sách của nhà nước, cũng như cơ chế điều hành quản lý của chính phủ. Tất cả
đều tác động đến thị trường thông qua sự khuyến khích hay hạn chế các
doanh nghiệp tham gia vào thị trường. Luật pháp ra đời là để điều tiết hoạt
động kinh doanh. Nó bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp trước sự cạnh tranh
không lành mạnh, bảo vệ cho người tiêu dùng trước những việc làm gian dối
như sản xuất hàng hoá kém chất lượng, quảng cáo không đúng sự thật, đánh
lừa khách hàng bằng thủ đoạn bao bì nhãn gói và mức giá cả, bảo vệ lợi ích
tối cao của xã hội chống lại sự lộng hành của các nhà sản xuất. Môi trường
chính trị ảnh hưởng rất lớn tới thị trường. Chẳng hạn như việc điều hành xuất
nhập khẩu của chính phủ, nếu số lượng, giá cả, thời điểm... hàng nhập khẩu
không được điều hành tốt đều có thể làm cho thị trường trong nước biến
động.
* Văn hoá xã hội
Môi trường văn hoá bao gồm các nhân tố đa dạng như phong tục tập
quán, các giá trị văn hoá truyền thống, thái độ, thị hiếu, thói quen, đinh hướng
tiêu dùng... của mỗi dân tộc. Những giá trị văn hoá đôi khi trở thành "Hàng
rào gai góc" đối với việc thâm nhập thị trường của doanh nghiệp. Các giá trị
văn hoá truyền thống khó thay đổi tác động mạnh mẽ tới thái độ, hành vi mua
và tiêu dùng hàng hoá của cá nhân, nhóm người. Tuy nhiên những giá trị văn
14
hoá mang tính thứ phát thì dễ thay đổi hơn và sẽ tạo ra cơ hội thị trường hay
khuynh hướng tiêu dùng mới. Do vậy các doanh nghiệp cần phải chú ý thích
đáng tới yếu tố văn hoá trước khi tiến hành xâm nhập hay phát triển thị
trường nào đó. Ngày nay đặc trưng môi trường văn hoá ở Việt Nam đang thay
đổi theo xu hướng tôn trọng các giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời
mong muốn thoả mãn nhu cầu một cách nhanh chóng và có định hướng trí
tuệ trong các sản phẩm tiêu dùng.
2.2. Vi mô
* Nhóm nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp

các cơ quan nhà nước, các tổ chức quốc tế. Nhu cầu của họ luôn luôn biến đổi
và do đó người bán cần nghiên cứu kỹ những biến động đó.
* Các trung gian phân phối và tiêu thụ
Những người trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai
trò rất quan trọng hỗ trợ cho doanh nghiệp đi lên, tiêu thụ và phổ biến hàng
hoá đối với khách hàng. Họ có thể là những người môi giới thương mại, đại
lý, người bán buôn, bán lẻ, tổ chức dịch vụ Marketing lưu thông hàng hoá tổ
chức tài chính tín dụng. Những tổ chức này có ảnh hưởng trực tiếp tới hình
ảnh của doanh nghiệp trên thị trường, ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ, tính
sáng tạo và chi phí, vì vậy điều nên làm đối với các doanh nghiệp là cần phải
cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định cộng tác với một loại hình trung gian
phân phối cụ thể nào. Cần phải tiến hành đánh giá hoạt động của họ để tránh
bị ràng buộc đồng thời thiết lập những mối quan hệ bền vững với những tổ
chức có tính quyết định nhất đối với mình.
* Các đối thủ cạnh tranh
Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế. Mỗi quyết định của đối thủ cạnh
tranh đều ảnh hưởng đến thị trường nói chung và đến doanh nghiệp nói riêng.
Nhiều doanh nghiệp cứ lầm tưởng người tiêu dùng có nhu cầu về giá trị hàng
hoá của mình nhưng về bản chất là họ cần giá trị sử dụng hàng hoá đó và trên
thị trường có rất nhiều sản phẩm thay thế cho họ lựa chọn, đôi khi các nhu
cầu này bị triệt tiêu nhau, tức sự thành công của doanh nghiệp này lại chính là
thất bại của doanh nghiệp khác, sự phát triển thị trường của doanh nghiệp này
lại chính là sự thu hẹp thị trường của doanh nghiệp khác và ngược lại. Vì vậy
mọi quyết định của doanh nghiệp không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh.
IV. Cơ chế thị trường và vai trò của nó đối với các doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường
1. Đặc trưng của cơ chế thị trường
16
Kinh tế tư bản là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Đến lượt
mình cơ chế thị trường là cơ chế của nền sản xuất hàng hoá ở đâu có sản xuất

* Cơ chế thị trường đòi hỏi phải có sự thay đổi về kỹ thuật công nghệ để
có thể phát huy được thế mạnh trong cạnh tranh. Thắng lợi trong cạnh tranh
17
trong cơ chế thị trường phụ thuộc rất lớn vào trình độ sản xuất, đôi khi nó là
nhân tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh cả về giá cả, chất lượng sản
phẩm, qui cách mẫu mã sản phẩm. Điều này đã được C.Mác nêu: "Sự khác
nhau của các thời đại kinh tế không phải là sản xuất ra cái gì mà là sản xuất
bằng cách nào". Vì vậy cơ chế thị trường đòi hỏi phải có sự đổi mới cải tiến
kỹ thuật để có thể phát huy được thế mạnh trong cạnh tranh.
* Cơ chế thị trường đòi hỏi trình độ tay nghề của công nhân ngày càng
cao để sản xuất sản phẩm với chất lượng tốt. Điều này hoàn toàn hợp với
lôgic phát triển. Khoa học công nghệ càng phát triển sau bao nhiêu thì đòi hỏi
kĩ năng của người lao động càng phải cao bấy nhiêu để có thể làm chủ được
nó. Đây là một vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn vô cùng lớn đối với nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam hiện nay.
* Cơ chế thị trường đòi hỏi trong phân phối phải có sự đãi ngộ thoả đáng
đối với công nhân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật và tay nghề cao. C. Mác
đã từng nói: "Lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn". Vì thế để
công bằng và làm hài lòng những người đã có nhiều công lao động góp vào
quá trình phát triển của doanh nghiệp thì buộc các doanh nghiệp phải áp dụng
các biện pháp khuyến khích cả về vật chất lẫn tinh thần.
* Cơ chế thị trường đòi hỏi phải tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ để
phục vụ một cách kịp thời nhất đối với khách hàng. Phân phối là một mắt
xích quan trọng giúp cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục, không
có phân phối thì không thể thực hiện được hoạt động sản xuất. Để thực hiện
tốt chức năng phân phối đòi hỏi doanh nghiệp phải tiếp cận và phục vụ khách
hàng một cách tốt nhất, kịp thời nhất. Muốn vậy doanh nghiệp phải tìm hiểu
thị trường, cung cấp sản phẩm theo nhu cầu, thực hiện các hoạt động dịch vụ
cả trước, trong và sau khi bán.
2. Vai trò của cơ chế thị trường

nay chất lượng hàng hoá và dịch vụ không chỉ là độ bền hay tính cơ lý hoá
cao nữa mà còn được thể hiện qua hình dáng mầu sắc, mẫu mã, bao gói, dịch
vụ kèm theo. Cuộc sống của con người ngày càng trở nên gấp gáp đòi hỏi cần
được tiết kiệm về không gian và thời gian. Các loại máy móc, phương tiện
vận chuyển, thông tin liên lạc hiện đại đã thay nhau ra đời vì nhu cầu đó. Hay
có thể nói cơ chế thị trường thúc đẩy sự tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng,
làm tăng năng suất lao động, tăng số lượng sản phẩm qua đó làm tăng của cải
vật chất cho toàn xã hội.
19
Phần thứ hai
Phân tích thực trạng về thị trường tiêu thụ sản phẩm ở Công ty bóng đèn
phích nước Rạng Đông
I. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu có ảnh hưởng đến thị
trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông
1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty
Cùng với sự hình thành và phát triển của đất nước, là sự hình thành và
phát triển mạnh mẽ của rất nhiều công ty, xí nghiệp, liên doanh, liên hiệp xí
nghiệp... Sự xuất hiện hàng loạt các loại hình kinh doanh trên bắt nguồn từ
nhận thức đúng đắn, từ trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật từ nhu cầu tiêu
dùng và sinh hoạt của xã hội ngày càng cao. Nhớ lại vào khoảng năm 1959
Bộ Công nghiệp nhẹ giao trách nhiệm cho một đoàn cán bộ công nhân đi học
nghề làm bóng đèn phích nước tại Trung Quốc, dẫn đoàn cán bộ công nhân
này đi là:
Ông Nguyễn Quang Kiêm (nguyên giám đốc đầu tiên của nhà máy). Sau
2 năm thực tập, nhờ trí thông minh và cần cù của công nhân và cán bộ Việt
Nam và lòng nhiệt tình chỉ bảo của cán bộ và công nhân nước bạn. Công ty đã
bỏ khung ban đầu sản xuất ra những sản phẩm đầu tiên cho đất nước đồng
thời đào tạo một số thợ mới từ các thiết bị chuyên dụng mà anh chị em đi
thực tập đã sản xuất nhiều ngày trên nước bạn. Người xưa có nói "Vạn sự
khởi đầu nan" tuy được chính phủ và Bộ công nghiệp nhẹ rất quan tâm (Phó

đã biết bao thăng trầm từ sản xuất nhỏ theo bao cấp, lại bị chiến tranh tàn
phá, bom đạn Mỹ đã phá huỷ nhà xưởng. Thiết bị vật tư sản xuất kỹ thuật gần
như bị phủ định. Với hàng ngàn cán bộ công nhân viên (CBCNV) cùng với
vật tư thiết bị - kỹ thuật chuyên sơ tán theo lệnh trên phân tán thành 3 cơ sở
(C1, C2, C3). Vừa chiến đấu vừa sản xuất, tất cả tập trung xây dựng phấn đấu
duy trì sự tồn tại và thực hiện mọi nghĩa vụ, chi viện phục vụ cho tuyền tuyến
như C2 sản xuất bóng đèn ôtô đáp ứng nhu cầu quốc phòng. Khó khăn chồng
chất nhưng đều hướng theo Đảng "thắng không kiêu, bại không nản" luôn
vững vàng tin tưởng thực hiện theo đường lối chủ trương của Bác - Đảng đã
vạch ra.
Với sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ xí nghiệp qua từng thời kỳ mặc
dù có những thời điểm mâu thuẫn theo kiểu cá nhân phi thực tế, song mọi
hành động gây mất đoàn kết đều bị CBCNV phủ định và đấu tranh cho sự
đoàn kết ấy, đồng tâm nhất trí phấn đấu cho nhà máy luôn phát triển không
ngừng, thực sự rạng rỡ. Với hơn ba thập kỷ qua do cơ chế bao cấp điều tiết
gây sự trì trệ cho sản xuất và đời sống. Bước vào thời kỳ chuyển đổi cơ chế,
21
bỡ ngỡ lúng túng, lo lắng là điều không thể tránh được nhưng với quyết tâm
làm theo lời Bác khó khăn mấy có chí vẫn làm nên. Từ tình trạng Công ty
phải đóng cửa 6 tháng liền vì hàng ngoại tràn lan không tiêu thụ được đến
duy trì sản xuất liên tục, sản lượng tăng từ 3-5 lần để đáp ứng nhu cầu của thị
trường. Từ một cơ sở kinh doanh thua lỗ, tiến tới hàng năm làm ăn ngày càng
có lãi, nộp ngân sách ngày càng tăng. Từ tình trạng chất lượng sản phẩm kém,
nhân dân kêu ca, bị hàng ngoại lấn át nhưng đã vươn lên hai năm liền 2000 và
2001 là cơ sở duy nhất ở phía bắc được lựa chọn vào Topten '93 và Topten '94
(mười mặt hàng tiêu dùng Việt Nam được ưa thích nhất). 5 năm trước 1997-
2001 là quá trình vươn lên của Công ty, khẳng định sự đứng vững và phát
triển trong cơ chế mới. Với thành tích phấn đấu tháng 9/2001 Chủ tịch nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tăng huân chương lao động hạng
nhất cho tập thể cán bộ công nhân viên chức Công ty và huân chương hạng ba

thời kỳ và đối với từng khâu Công ty đã xây dựng những mục tiêu cụ thể
đúng vừa đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu vươn lên, vừa có khả năng phấn đấu
vươn lên và có khả năng thực hiện thực tiễn trong thực hiện.
+ Lề lối và phong cách làm việc đã biến đổi về chất: giảm mệnh lệnh
hành chính, tăng việc trao đổi gợi mở, khuyến nghị tham gia ý kiến, giải
quyết tốt mối quan hệ ngang, chủ động phối hợp và chủ yếu làm biện pháp
kinh tế: lấy lợi ích hài hoà làm động lực tạo khả năng, phát huy tính chủ động
ở mọi cấp để đạt được mục tiêu. Đó là công tác hạch toán kinh tế nội bộ đã
được triển khai, nâng dần trình độ từ thấp đến cao, mở rộng từ sản xuất trực
tiếp sang các bộ phận phục vụ như động lực, nhà ăn ca,...
+ Bộ máy cán bộ giúp giám đốc điều hành công việc được sắp xếp lại
gọn nhẹ, giảm dần đầu mối và có hiệu lực cán bộ ở các vị trí then chốt thiết
yếu của dây chuyền công tác chính đã được sàng lọc, lựa chọn và bố trí đúng.
Sau 5 năm chuyển đổi sang nền kinh tế mới Công ty đã có một tài sản vô giá
đó là một đội ngũ cán bộ có ý chí quyết tâm cao, đoàn kết, chủ đống tổ chức;
một đội ngũ dày dạn kinh nghiệm, tâm huyết, trách nhiệm cao với công việc
chung và đời sống quần chúng.
Trong quá trình thực hiện đường lối của Đảng Công ty trải qua 3 giai
đoạn:
- Giai đoạn I (1997-2000)
Khai thác triệt để khả năng tiềm năng lao động sản xuất sắp xếp và bố trí
lại lao động sản xuất.
- Giai đoạn II (2001-2004)
23
Giai đoạn đổi mới công nghệ đòi hỏi nhiều vốn và con người có trình độ
cao nhưng khả năng của Công ty có hạn do đó Công ty đã không theo con
đường này và quyết định chọn con đường là đi theo chiều sâu, đầu tư vào
đúng cái mình có và có khả năng làm nhất.
Năm 2001 Công ty đã động viên công nhân cho Công ty vay tiền nhàn
rỗi để đầu tư vào máy thổi tự động được trên 8 tỉ đồng. Cũng vì đầu tư vào

Nó còn phản ánh cả chất lượng, trình độ công nghệ của các dây chuyền sản
xuất chủ yếu được từng bước được nâng cao. Đồng thời đó là sự tăng trưởng
bền vững do động lực nội sinh, do nhân tố con người có ý thức tự lực tự
cường, do hiệu quả của sản xuất kinh doanh tạo ra nguồn lực để đầu tư phát
triển.
* Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất của Công ty bóng
đèn phích nước Rạng Đông
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty là tổng hợp các bộ phận lao
động quản lý khác nhau có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn
hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí thành những
cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo các chức năng quản lý và phục vụ
mục đích chung của Công ty.
Hiện nay Công ty bao gồm các phòng ban, phân xưởng sau:
- Văn phòng giám đốc: 11người
- Phòng điều hành sản xuất: 22 người
- Phòng KCS: 22 người
- Phòng bảo vệ: 46 người
- Phòng quản lý kho: 36 người
- Phòng thống kê kế toán: 15 người
- Phòng dịch vụ đời sống: 43 người
- Phòng thị trường: 91 người (Cả 4 chi nhánh)
Các phân xưởng gồm
- Phân xưởng cơ động: 55 người
- Phân xưởng bóng đèn: 375 người
- Phân xưởng phích nước: 368 người
- Phân xưởng thuỷ tinh: 257 người
- Phòng kỹ thuật: 77 người (gồm tổ sản xuất đèn thường, đèn huỳnh
25

Trích đoạn Tăng cường nghiên cứu, xây dựng chiến lược thị trường Chính sách giá cả Tích cực đẩy mạnh hoạt động truyền thông, xúc tiến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status