ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TỐNG THỊ HƢƠNG
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN
Tống Thị Hƣơng MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO PHÁP
LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 6
1.1. Mục đích bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam 11
1.2. Chủ thể bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam 12
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng Dân sự
LSHTT : Luật Sở hữu Trí tuệ
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bảo vệ quyền sở hữu luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều chủ
thể trong xã hội bởi nó gắn liền với thực thi quyền sở hữu của các tổ chức, cá
nhân trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu là cơ sở thúc đẩy quá trình tạo ra của cải,
vật chất cho xã hội và bảo vệ của cải, vật chất đó cũng như người tạo ra
chúngtrước mọi hành vi gây hại. Bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự là
vấn đề diễn ra hàng ngày, thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng,tác động trực
tiếp đến quyền và lợi ích của các bên trong đời sống. Vì vậy, việc nghiên cứu
vấn đề bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam sẽ đóng góp thêm
nước” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn… cùng với nhiều tiểu luận, khóa luận
có nội dung xoay quanh vấn đề bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự.
Mỗi công trình nghiên cứu, bài viết tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền sở
hữu theo các góc độ khác nhau. Trong đó, phần lớn các công trình tiếp cận
theo hướng gắn liền với bảo vệ quyền sở hữu với các quy định về quyền sở
hữu theo quy định của pháp luật dân sự cũng như phân tích, đánh giá từng
biện pháp bảo vệ quyền sở hữu cụ thể và đưa ra các đánh giá cũng như giải
pháp hoàn thiện mà chưa có một đề tài mang tính tổng quan, khái quát.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nêu được các đặc điểm của bảo vệ
quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam, làm rõ quy định pháp luật dân
sự về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, đồng thời đề xuất hướng nâng cao
khả năng bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự.
3
3.2. Mục tiêu cụ thể:
Để đạt được mục đích cuối cùng của luận văn, cần phải hoàn thành các
mục tiêu cụ thể sau:
- Khái quát được đặc điểm của bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân
sự Việt Nam trong tương quan với bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật hình
sự, pháp luật hành chính;
- Phân tích các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự
Việt Nam, đánh giá được các ưu, nhược điểm;
- Đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu theo pháp
luật dân sự Việt Nam trên phương diện hoàn thiện pháp luật cũng như giải
pháp thực tế.
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài
4.1. Tính mới của đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền sở hữu luôn nhận được sự quan tâm của nhiều tổ
sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và một số văn bản pháp luật liên quan. Luận văn tập
trung phân tích, đánh giá các vấn đề mang tính lý luận, không đánh giá nhiều về
thực trạng thực hiện bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế.
6. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các nội dung sau: Khái quát về bảo vệ quyền sở
hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam; Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo
pháp luật dân sự Việt Nam; Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền
sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam.
Các phương pháp nghiên cứu của Luận văn được xây dựng trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các phương pháp mà luận văn sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa các quy phạm pháp luật,
5
phương pháp so sánh pháp luật và phương pháp đánh giá thực trạng pháp luật.
Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích, làm rõ các đặc
điểm bảo vệ quyền sở hữu, làm rõ quy định của pháp luật dân sự về các
phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng kết hợp với phương pháp phân
tích. Cụ thể, từ những kết quả nghiên cứu bằng phân tích, Luận văn sử dụng
phương pháp tổng hợp kết hợp chúng lại với nhau để có được sự nhận thức về
vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ, hoàn chỉnh. Kết quả tổng hợp được thể
hiện chủ yếu bằng các kết luận, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Phương pháp so sánh được sử dụng khi so sánh bảo vệ quyền sở hữu
theo pháp luật dân sự với bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật hành chính,
pháp luật hình sự để đáng giá được các ưu điểm, sự lựa chọn tối ưu đối với
các chủ thể quyền sở hữu khi thực hiện bảo vệ quyền sở hữu theo quy định
của pháp luật dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
cao nhất, pháp luật hình sự quy định một số hành vi xâm phạm quyền sở hữu
được xác định là tội phạm và đặt ra các chế tài áp dụng đối với các chủ thể
thực hiện các hành vi phạm tội này. Chương XIV Bộ luật hình sự về các loại
tội xâm phạm sở hữu bao gồm 12 Điều, từ Điều 133. Tội cướp tài sản đến
Điều 145. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, với hình phạt áp
dụng từ cải tạo không giữ đến ba năm, phạt tù từ sáu tháng đến chung thân và
cao nhất là tử hình. Ngoài ra, người bị tuyên là phạm tội còn có thể bị phạt
7
tiền cao nhất đến 100 triệu đồng, tịch thu tài sản hoặc bị cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định Các tội xâm phạm sở
hữu là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây
thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện đầy đủ bản chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Quan hệ sở hữu là đối tượng được
bảo vệ theo quy định của pháp luật hình sự rộng hơn khái niệm quyền sở hữu ghi
nhận trong luật dân sự. Theo đó, chủ sở hữu trong một số trường hợp vẫn có thể
bị xác định là người gây ra thiệt hại cho quan hệ sở hữu trong khi chủ sở hữu
luôn luôn là người bị thiệt hại khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản. Bảo vệ
quyền sở hữu bằng biện pháp hình sự được thực hiện thông qua hệ thống cơ
quan tố tụng như cơ quan cảnh sát điều tra, cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan Tòa
án, cơ quan Thi hành án với các quy định đầy đủ về thẩm quyền từ phát hiện,
điều tra, khởi tố đến xét xử và thi hành án. Trong đó, người bị xâm phạm bởi
hành vi trái pháp luật cũng như người thực hiện hành vi xâm phạm tham gia với
tư cách là bị can, bị cáo, người bị hại, cung cấp các tài liệu, bằng chứng trong vụ
án mà không giữ vai trò quyết định đối với phán quyết của Tòa. Và không phải
mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu đều xác định là tội phạm và bị trừng trị
theo quy định của pháp luật hình sự. Chỉ những hành vi được cơ quan tiến hành
tố tụng xác định là có dấu hiệu tội phạm mới bị điều tra, truy tố và xét xử. Và chỉ
khi có bản án của Tòa án thì hành vi xâm phạm quyền sở hữu mới bị tuyên là
hành vi phạm tội căn cứ trên tính chất nguy hiểm của hành vi, giá trị tài sản bị
dụng trong từng lĩnh vực cụ thể. Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý
các hành vi xâm phạm quyền sở hữu bao gồm chủ thể thực hiện, các thủ tục
hành chính, hình thức hay biện pháp xử lý hành chính mà có thể áp dụng đối
với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhằm đảm bảo trật tự quản lý hành
chính nhà nước. Hiểu theo nghĩa hẹp, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu
9
bằng biện pháp hành chính được thể hiện qua các hình thức xử phạt hành
chính và biện pháp khắc phục hậu quả mà chủ thể có hành vi xâm phạm
quyền sở hữu phải thực hiện. Thông qua Quyết định xử phạt hành chính của
chủ thể có thẩm quyền như: Chủ tịch Ủy ban nhân dân, cơ quan công an,
thanh tra, cơ quan thuế, cơ quan hải quan , người có hành vi xâm phạm sở
hữu trong lĩnh vực hành chính sẽ có khả năng bị áp dụng các hình phạt chính
bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính hay bị trục xuất. Ngoài ra, người bị xử phạt
còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc khôi phục
lại tình trạng ban đầu, buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng
không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép, buộc tiêu hủy
hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và
môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại, buộc loại bỏ yếu tố vi phạm
trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm, buộc thu
hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng, buộc nộp lại số lợi bất
hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền
bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán,
tiêu hủy trái quy định của pháp luật và các biện pháp khắc phục hậu quả khác
do Chính phủ quy định. Như vậy, cũng tương tự như phương thức bảo vệ
quyền sở hữu bằng biện pháp hình sự, mục tiêu hướng đến của bảo vệ quyền
sở hữu bằng biện pháp hành chính là trật tự quản lý nhà nước mà pháp luật đã
ghi nhận. Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính được áp dụng trên người
lại cho chủ thể quyền khả năng bảo vệ quyền sở hữu một cách nhanh chóng,
hiệu quả và giảm thiểu rủi ro, thiệt hại xảy ra đồng thời giúp các giao dịch dân
sự được thực hiện liên tục nhằm gia tăng lợi ích và tài sản cho cá nhân và xã
hội. Bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự được thể hiện cụ
thể qua các đặc điểm sau:
11
1.1. Mục đích bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam
Quyền sở hữu với tư cách là một quyền dân sự của cá nhân, tổ chức được
pháp luật công nhận và bảo vệ, không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp
luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng
dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của chủ thể khác theo
quy định tại Điều 169 Bộ luật Dân sự. Khác với việc thực hiện bảo vệ quyền sở
hữu theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luật hành chính bên cạnh việc
bảo vệ quyền sở hữu còn nhằm hướng tới mục đích cao hơn là trật tự xã hội, trật
tự quản lý hành chính do nhà nước thông qua pháp luật thiết lập. Mục đích cao
nhất của việc quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự
chính là đảm bảo quyền dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đảm bảo quá trình
thực hiện quyền sở hữu, chiếm hữu hợp pháp diễn ra một cách bình thường và
mang lại lợi ích cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp trong quá trình chiếm
hữu, khai thác, sử dụng tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài
sản. Mục đích của bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự là nhằm ngăn chặn
các hành vi có nguy cơ gây thiệt hại, cản trở quá trình nắm giữ, quản lý, khai
thác, sử dụng, định đoạt tài sản của người có quyền cũng như khôi phục lại tình
trạng ban đầu của tài sản hoặc đền bù cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp
pháp một lợi ích tương đương mà họ bị mất đi khi xuất hiện hành vi xâm phạm.
Kết quả của việc thực hiện biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của
pháp luật dân sự không nhằm trừng trị chủ thể thực hiện hành vi cản trở, hành vi
xâm phạm đến quá trình thực hiện quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp
thể bị hạn chế trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền sở hữu nhưng quy
định này không làm mất đi quyền lợi của chủ sở hữu.
Chủ thể thứ hai thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo quy
định của pháp luật dân sự chính là người chiếm hữu hợp pháp. Người chiếm
13
hữu hợp pháp được ghi nhận duy nhất tại Điều 255 BLDS tuy nhiên không có
khái niệm định nghĩa “người chiếm hữu hợp pháp”. Bộ luật dân sự hiện hành
chỉ quy định các trường hợp được coi là “chiếm hữu có căn cứ pháp luật” tại
Khoản 1 Điều 183 và “chiếm hữu không có căn cứ pháp luật” sẽ được hiểu
theo phương pháp loại suy. Theo đó, chiếm hữu có căn cứ pháp luật là chiếm
hữu trong các trường hợp: chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; người được chủ sở
hữu ủy quyền quản lý tài sản; người được chuyển giao quyền chiếm hữu
thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật; người phát
hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài
sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều
kiện do pháp luật quy định; người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi
dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định và các
trường hợp khác do pháp luật quy định Người chiếm hữu hợp pháp hiểu
theo nghĩa của từ “hợp pháp” là người chiếm hữu phù hợp với các quy định
của pháp luật. Như vậy, người chiếm hữu có căn cứ pháp luật chính là người
chiếm hữu hợp pháp. Tuy nhiên việc quy định người chiếm hữu hợp pháp đầu
tiên là chủ sở hữu là điều không cần thiết, vì chủ sở hữu mặc nhiên được coi
là người có quyền chiếm hữu đối với tài sản, đó cũng là cơ sở để họ thực hiện
quyền sử dụng tài sản của mình. Nếu hiểu người chiếm hữu hợp pháp là
người chiếm hữu tài sản phù hợp với các quy định của pháp luật thì người
chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng được coi là người
chiếm hữu hợp pháp. Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc
chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật bao gồm người chiếm hữu
họ bị vây bọc bởi bất động sản khác mà không có phía nào tiếp giáp với công
trình hạ tầng cơ sở kỹ thuật. Việc bảo vệ quyền sử dụng bất động sản liền kề
15
phát sinh từ thực tiễn bị hạn chế bởi bất động sản vây bọc nên chủ sở hữu nhà,
người sử dụng bất động sản liền kề phải nhờ đến bất động sản thuộc sở hữu,
sử dụng của người khác để có một lối đi, một đường cấp thoát nước, cấp khí
ga hoặc các nhu cầu cần thiết khác Quyền sử dụng của hai chủ thể này sinh
ra trên cơ sở sự chia sẻ phần quyền chiếm hữu, sử dụng từ chủ sở hữu theo
thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy không phải là người có
quyền sử dụng đối với đất đai hay bất động sản liền kề nhưng người sử dụng
đất và người sử dụng bất động sản liền kề vẫn có quyền thực hiện đầy đủ các
biện pháp bảo vệ mà pháp luật ghi nhận cho chủ sở hữu.
Pháp luật dân sự Việt Nam không tách biệt quyền sở hữu và quyền
chiếm hữu như pháp luật nhiều quốc gia khác mà ghi nhận chiếm hữu là một
trong những nội dung của quyền sở hữu, là hình thức biểu hiện bên ngoài của
sở hữu thể hiện ở việc thực tế đang nắm giữ, quản lý đối với tài sản. Do đó,
trong trường hợp chủ thể thứ 2 và thứ 3 đã ghi nhận ở trên, mặc dù khái niệm
người chiếm hữu có căn cứ pháp luật và người chiếm hữu trên cơ sở quyền sử
dụng đất và quyền sử dụng bất động sản liền kề được ghi nhận nhưng không
được hiểu những chủ thể này nắm quyền chiếm hữu một cách tuyệt đối,
quyền của họ được pháp luật quy định và bị hạn chế bởi thỏa thuận đối với
chủ sở hữu.
Trong nhiều trường hợp, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, người
có quyền sử dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề là người
chưa có đầy đủ năng lực hành vi, người hạn chế năng lực hành vi, người mất
năng lực hành vi hoặc vì lý do nào đó không thể tự mình thực hiện các biện
pháp tự bảo vệ quyền sở hữu thì người đại diện hợp pháp theo quy định của
pháp luật hoặc theo thỏa thuận như: người giám hộ, người được ủy quyền hợp
pháp sẽ thay mặt họ thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu theo quy định của
17
dụng đất, quyền sử dụng bất động sản liền kề chuyển giao quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt theo thỏa thuận thông qua một giao dịch hợp pháp như hợp
đồng ủy quyền, hợp đồng cho vay, thế chấp, hợp đồng thuê tài sản… Tuy
nhiên, trong thời gian thực hiện thỏa thuận, chủ thể này thực hiện hoặc không
thực hiện hành vi dẫn tới vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận giữa các bên
về việc chiếm hữu, khai thác, sử dụng tài sản, ảnh hưởng tới quyền lợi của
chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, người có quyền sử dụng đất, quyền
sử dụng bất động sản liền kề. Do đó, căn cứ trên các ràng buộc phát sinh từ
hợp đồng, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, người có quyền sử dụng
đất, quyền sử dụng bất động sản liền kề có thể yêu cầu chấm dứt hợp đồng,
đòi lại tài sản hay yêu cầu bồi thường thiệt hại. Việc bảo vệ quyền sở hữu
trong trường hợp này rõ ràng và thuận lợi hơn khi chứng minh quan hệ xác
lập giữa hai bên cũng như chỉ rõ các vi phạm dẫn đến chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp, người có quyền sử dụng đất, quyền sử dụng bất động
sản liền kề thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu của mình hay xác
định các thiệt hại mà bên vi phạm hợp đồng đã gây ra.
Chủ thể đối kháng thứ hai là người chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật đối với tài sản. Như đã nêu quy định chiếm hữu có căn cứ pháp luật ở
phần trên, chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hiểu theo phương thức loại
suy là chiếm hữu không căn cứ trên các căn cứ xác lập quy định tại Khoản 1
Điều 183 BLDS. Người chiếm hữu không có căn pháp luật có thể là người đã
lấy cắp, chiếm đoạt tài sản từ chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, hoặc là
người hiện đang chiếm hữu, sử dụng tài sản thông qua xác lập giao dịch với
người không phải là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp của tài sản
đó…Ví dụ: anh A là chủ sở hữu của chiếc xe máy SH nhập khẩu phân khối
125 cc màu xanh biển số 29A-032.21. Khi anh A vắng nhà, B đã phá khóa
cửa vào nhà anh A lấy trộm chiếc xe máy bao gồm cả giấy tờ chứng nhận
18
hữu đã thể hiện động cơ, mục đích giao dịch của mình như thế nào thông qua
việc xem xét, tìm hiểu về tình trạng pháp lý của tài sản, về tình trạng thực tế
của tài sản, về giá trị trao đổi mà người chiếm hữu đã thực hiện.
Nếu như tài sản mà người chiếm hữu có được từ một giao dịch xác lập
với người không phải là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp là một bất
động sản hoặc động sản phải đăng ký sở hữu thì mặc nhiên họ sẽ được hiểu là
người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình và luôn luôn là
chủ thể đối kháng trong quan hệ bảo vệ quyền sở hữu. Bởi tài sản phải đăng
ký quyền sở hữu là những tài sản có giá trị lớn, quyền sở hữu đối với các tài
sản này phải được nhà nước công nhận. Vì vậy, khi giao dịch chủ sở hữu phải
xuất trình được các giấy tờ chứng minh tư cách chủ sở hữu đối với tài sản,
còn người thiết lập giao dịch với người được coi là chủ sở hữu phải kiểm tra,
xem xét, đánh giá bằng mọi biện pháp để xác định đó là chủ sở hữu của tài
sản nhằm bảo đảm giao dịch của mình hợp pháp. Vì thế, không thể cho rằng
họ không biết về việc người thiết lập giao dịch với mình không phải là chủ sở
hữu của tài sản. Đương nhiên, trong thực tế cũng không ít trường hợp có
nhiều cá nhân, tổ chức đã thực hiện giả mạo hồ sơ, giấy tờ với mục đích lừa
đảo dẫn đến người xác lập quan hệ giao dịch với họ không thể biết các giấy tờ
đó là giả. Ví dụ như trường hợp một số cá nhân, tổ chức giả mạo giấy tờ
chứng nhận quyền sở hữu nhà chung cư hoặc quyết định cấp đất xây dựng nhà
chung cư sau đó bán lại cho các cá nhân có nhu cầu mà mức độ làm giả đến
mức những người lao động đang có mong muốn mua nhà, mua đất ở thủ đô
không thể biết các quyết định, con dấu đó là giả. Trong trường hợp này,
những người chiếm hữu tài sản buộc phải chứng minh về việc mình đã tìm
mọi biện pháp để tìm hiểu về chủ sở hữu tài sản nhưng không thể biết được
người giao dịch với mình không phải là chủ sở hữu thực tế. Quan hệ pháp luật
mà người chiếm hữu tài sản tham gia liên quan đến các quy định của pháp