Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết cái trống thiếc của gunter grass và trong thiên sứ của phạm thị hoài - Pdf 29

Khóa luận tốt nghiệp

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THU PHƢỢNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT CÁI TRỐNG THIẾC
CỦA GUNTER GRASS VÀ TRONG
THIÊN SỨ CỦA PHẠM THỊ HOÀI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI – 2014
Khóa luận tốt nghiệp

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu của tôi tiếp tục đƣợc hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thu Phượng
Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ
Phùng Gia Thế. Tôi xin cam đoan rằng:
- Khóa luận này là kết quả tìm tòi, nghiên cứu của riêng tôi.
- Những tƣ liệu đƣợc trích dẫn trong khóa luận là trung thực.
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình
nghiên cứu đƣợc công bố nào.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thu Phượng
Khóa luận tốt nghiệp

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3

CÁI TRỐNG THIẾC VÀ THIÊN SỨ 46
3.1. Đặc tính nhân vật 46
3.1.1. Oskar trong Cái trống thiếc, nhân vật phản nhân vật- một á hung thần46
3.1.2. Hoài trong Thiên sứ - một thiên sứ trinh khiết 51
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 54
3.2.1. Oskar trong Cái trống thiếc – kiểu nhân vật đƣợc xây dựng theo quan
điểm truyền thống 54
3.2.2. Hoài trong Thiên sứ và lối thiết tạo nhân vật phản truyền thống 55
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hiện nay, văn học so sánh là một bộ môn có vị trí quan trọng trong
ngành nghiên cứu văn học. Trƣớc đây, văn học so sánh còn chƣa có một vị
thế xứng đáng nhƣng trong một vài năm trở lại đây, văn học so sánh đã đƣợc
đƣa vào giảng dạy trong các trƣờng Cao đẳng và Đại học. Nó đã mở ra một
hƣớng tìm tòi mới và hấp dẫn hàng ngàn sinh viên. Văn học so sánh vì thế đã
chính thức đặt chân vào ngành nghiên cứu văn học và đòi hỏi sự quan tâm
hơn nữa của các nhà chuyên môn và ngƣời yêu thích văn học.
Việc giới thiệu văn học so sánh đã đƣợc thực hiện bằng một số chuyên
luận và bài viết, tiêu biểu là các bài trên Tạp chí văn học nhƣng mới chỉ dừng
lại ở lí thuyết chứ chƣa đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn văn học. Gần đây, ở
Việt Nam có một vài công trình nghiên cứu nhƣ: “Nghiên cứu so sánh thơ
hai-cƣ, thơ lục bát và thơ tứ tuyệt”, “So sánh tình yêu trong tác phẩm Mái Tây
của Vƣơng Thực Phủ và Romeo và Giu-li-et của Sechxpia”, “Cốt truyện trong
Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân và Đoạn trường tân thanh của

Gunter Grass trên các phƣơng diện: biểu tƣợng, mô-tip, huyền thoại trong xây
dựng nhân vật. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Huyền Trang cũng nghiên cứu, khai
thác một số thi pháp huyền thoại hóa nhƣ: sự lặp lại, không gian, độc thoại
nội tâm và kỹ thuật dòng ý thức, những ẩn dụ và chất hài hƣớc đen… trong
tác phẩm Cái trống thiếc của Gunter Grass. Tuy nhiên, việc phân tích các tác
phẩm bằng phƣơng pháp của văn học so sánh vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy,
việc tiến hành so sánh thế giới nhân vật giữa một tác phẩm của nền văn học
Đức, một tác phẩm đã làm nên tên tuổi của G.Grass với một tác phẩm của nền
văn học Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ và đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của
những ngƣời yêu thích văn học và nghiên cứu văn học.
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Việc tìm hiểu và so sánh hai tác phẩm văn học có thể đƣợc tiến hành
trên nhiều khía cạnh khác nhau. Trong phạm vi khóa luận này chúng tôi tiến
hành so sánh trên một khía cạnh cụ thể đó là thế giới nhân vật trong hai tiểu
thuyết Cái trống thiếc (Gunter Grass của nền văn học Đức) và Thiên sứ
(Phạm Thị Hoài của văn học Việt Nam).
4. Mục đích nghiên cứu
Việc áp dụng các phƣơng pháp của văn học so sánh vào nghiên cứu tác
phẩm nhằm khẳng định tính đặc thù của các nền văn học dân tộc, tìm ra nét
đặc sắc cùng những giá trị của mỗi tác phẩm. Hai tác phẩm viết về cuộc sống
của con ngƣời ở hai đất nƣớc khác nhau, hai nền văn hóa khác nhau, chính vì
vậy mà thế giới nhân vật trong mỗi tác phẩm cũng có những nét riêng biệt,
không trộn lẫn. Nghiên cứu đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Thiên
sứ của Phạm Thị Hoài và trong Cái trống thiếc của Gunter Grass” trên tinh
thần so sánh sẽ giúp ta hiểu rõ hơn nét đặc sắc trong cách thể hiện nhân vật
của mỗi tác phẩm cũng nhƣ hiểu rõ hơn về hai nền văn học độc lập, về quan
niệm của mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa… Đồng thời, việc so sánh hai tác

1.1.1. Khái niệm văn học so sánh
Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ “văn học so sánh” đã trở nên rất quen
thuộc trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học. Văn học so sánh ban đầu
chỉ là một phƣơng pháp so sánh văn học. Trong nghiên cứu, nó là một phƣơng
pháp dùng để xác định, đánh giá các hiện tƣợng văn học trong mối quan hệ
giữa chúng với nhau.
Thuật ngữ “văn học so sánh” trong tiếng Việt bắt nguồn từ thuật ngữ
tiếng Pháp “litterature comparee” và thuật ngữ tiếng Anh “comparative
literature” xuất hiện từ thế kỉ XVIII. Thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện vào
năm 1816 trong “Giáo trình Văn học so sánh” của Noel và Lapace, nhƣng
ngƣời làm cho nó trở nên thông dụng là Villemain với giáo trình “Đại cƣơng
văn học Pháp” (1827) và Ampere với giáo trình “So sánh lịch sử văn học các
nƣớc”. Ngoài thuật ngữ “văn học so sánh” còn có các thuật ngữ khác nhƣ
“Lịch sử các nền văn học đƣợc so sánh” (Pháp, Anh), “Lịch sử văn học so
sánh” (Đức), “Nghiên cứu văn học so sánh” (Nga). Khi nói đến văn học so
sánh, chúng ta không nên hiểu đó là “một nền văn học đƣợc so sánh” mà thực
chất nó là một bộ môn khoa học có chức năng so sánh một nền văn học này
với một hay nhiều nền văn học khác, hoặc so sánh các hiện tƣợng của các nền
văn học khác nhau.
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
6
Xuất phát từ các cách nhìn nhận và ở các thời điểm khác nhau, giới
nghiên cứu đã đƣa ra nhiều định nghĩa về văn học so sánh. Trong giáo trình
“Lý luận văn học so sánh”, Nguyễn Văn Dân đã đƣa ra định nghĩa: Về cơ bản có
thể hiểu: Văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ
giữa các nền văn học dân tộc ( hay các nền văn học quốc gia) [4, tr.21].
Nội hàm của cụm từ “mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” bao
gồm:
- Các mối quan hệ tiếp xúc trực tiếp giữa các nền văn học khác nhau

Ngày 15-7-1827, trong một cuộc nói chuyện khác, Goethe cũng khẳng
định: “Ngày nay, với các mối quan hệ chặt chẽ giữa ngƣời Pháp, ngƣời Anh,
ngƣời Đức, chúng ta đã có thể chỉnh lý lẫn nhau. Đây là lợi ích lớn mà văn
học thế giới đem lại, ích lợi này trong tƣơng lai sẽ càng lớn hơn nữa”.
Nhƣ vậy, khái niệm “văn học thế giới” của Goethe vừa có nghĩa là nền
văn học thế giới, vừa có nghĩa là bộ môn nghiên cứu lịch sử văn học thế giới.
- Ngoài điều kiện văn hóa- xã hội ta còn phải nói đến một điều kiện thứ
hai không kém phần quan trọng, đó là điều kiện về học thuật:
Từ đầu thế kỉ XIX, các ngành khoa học lịch sử đã phát triển cực thịnh
nhƣ ngƣời ta thƣờng nói thế kỉ XIX là thế kỉ của khoa học lịch sử, tạo điều
kiện dẫn đến sự hình thành và nở rộ của bộ môn khoa học sử, đồng thời
phƣơng pháp so sánh cũng đã đƣợc nhiều ngành khoa học lịch sử áp dụng,
đặc biệt là lịch sử ngôn ngữ học so sánh và lịch sử folklore so sánh.
1.1.3. Lược sử văn học so sánh
1.1.3.1. Những tiền đề lịch sử
Bộ môn văn học so sánh ra đời muộn nhƣng ý thức so sánh trong văn
học thì đã có từ lâu trong lịch sử. Từ trƣớc Công nguyên, trong “Nghệ thuật
thi ca” của Horace đã xem xét các nhà văn La Mã dƣới ánh sáng của các mẫu
mực Hi Lạp. Ta thấy toàn bộ hệ thống thần thoại La Mã là một sự tiếp thu và
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
8
cải biên hệ thống thần thoại Hi Lạp. Nhà lí luận Maropis đối chiếu tác phẩm
của Virgile với các sáng tác Hi Lạp cổ đại. Từ thời Phục Hƣng, các nhà nhân
văn chủ nghĩa chú ý đối sánh văn học trung đại với văn học cổ đại Hi- La.
Tới thời cổ điển, các nhà phê bình tiếp tục chú ý so sánh văn học chủ
yếu giới hạn vào việc chỉ ra sự vay mƣợn. Có thể kể tới một vài ví dụ nhƣ
Geogres de Scudery chê Pierre Cooc- nay sao chép đề tài từ “Thiếu thời của
Xit” của nhà soạn kịch Ghilende Castero (Tây Ban Nha) thành vở kịch Lơ-xit.
Sang thế kỉ XVIII, Sechxpia đã đƣợc giới thiệu vào Pháp, Đức. Vonte

so sánh”- tờ tạp chí chuyên ngành đầu tiên. Năm 1896, Joseph Text thành lập
bộ môn văn học so sánh tại Đại học Lion. 1899, thành lập bộ môn văn học so
sánh tại Đại học Columbia (New York).
- Nửa đầu thế kỉ XX: Giai đoạn phát triển.
Giai đoạn này tập trung vào nghiên cứu ảnh hƣởng và vay mƣợn. Giai
đoạn này gắn với công lao của các nhà nghiên cứu thực chứng lịch sử ngƣời
Pháp nhƣ Baldenspenger, Tieghem, Guyard… Năm 1903, ở Hoa Kỳ xuất hiện
tạp chí Văn học so sánh. Năm 1921, ở Pháp xuất hiện tạp chí Văn học so
sánh.
- Từ nửa sau thế kỉ XX đến nay: Giai đoạn hoàn chỉnh bộ môn văn học
so sánh.
Giai đoạn này văn học so sánh vƣợt qua chủ nghĩa thực chứng, khắc
phục lí thuyết vay mƣợn để nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế. Giai đoạn
này có sự góp công lớn của nhà nghiiên cứu Mỹ, Pháp nhƣ: Rên Wellek,
Etiemble (nghiên cứu tƣơng đồng không do ảnh hƣởng), nhà nghiên cứu Nga-
Xô nhƣ Zinmunsky, Meletinsky (nghiên cứu tƣơng đồng loại hình học).
Đến nay, hầu hết ở các Đại học phƣơng Tây đều có môn Văn học so
sánh (có nƣớc gọi là bộ môn “văn học thế giới và so sánh”). Năm 1954, hiệp
hội Văn học so sánh quốc tế thành lập, đến nay đã trải qua 15 kỳ Đại hội.
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
10
1.2. Tình hình nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam
Trong giáo trình “Lý luận văn học so sánh”, Nguyễn Văn Dân đã khẳng
định nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam chƣa có đủ bề dày lịch sử để có
thể đƣợc chia thành nhiều giai đoạn, và lại càng không thể phân nó thành các
giai đoạn giống nhƣ các giai đoạn trong quá trình phát triển của văn học Việt
Nam nói chung.
Nền văn học nƣớc nhà, đặc biệt là nền văn học cổ đã phải trải qua một
thời gian dài nằm trong mối quan hệ gần gũi với văn học Trung Quốc. Đến

phƣơng thức so sánh mình với ngƣời khác. Và cái ý thức so sánh nói trên
cũng chính là cái tiền đề tƣ tƣởng rất quan trọng cho văn học so sánh của
nƣớc ta sau này.
1.3. Cái trống thiếc của Gunter Grass và Thiên sứ của Phạm Thị Hoài:
một số vấn đề về tác giả, tác phẩm
1.3.1. Gunter Grass và tiểu thuyết Cái trống thiếc
1.3.1.1. Tác giả Gunter Grass
Gunter Grass sinh ngày 6 tháng 10 năm 1927 tại Danzing-Langfuhr,
nay là Gdansk (Danzing) thuộc Ba Lan. Sinh ra trong một gia đình có cha mẹ
làm nghề buôn bán nhỏ, thành phố quê hƣơng ông cũng nhƣ những ngày thơ
ấu sống ở đây đã là cảm hứng cho nhiều tác phẩm của ông.
Ở tuổi vị thành niên, ông từng tham gia phục vụ cho quân đội Hitler.
Ngày 8 tháng 5 năm 1945 ông bị bắt làm tù binh tại Marienbad và đã ở trong
trại giam tù binh cho đến ngày 24 tháng 4 năm 1946.
- Thời gian học tập và gia đình
Trong thời gian 1947 - 1948, Gunter Grass thực tập tại xƣởng nhà một
thợ đá ở Düsseldorf. Chính những năm tháng lao động ở đây đã cho ông
nhiều kinh nghiệm quý và ảnh hƣởng đến những tác phẩm của ông sau này.
Trƣớc khi chuyển sang viết văn, ông đã học hội họa và điêu khắc
ở Viện Nghệ thuật Düsseldorf (Kunstakademie Düsseldorf) từ năm 1948 cho
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
12
đến 1952 và tiếp tục học tại Đại học Mỹ thuật Berlin (Universität der Künste
Berlin) từ năm 1953 đến năm 1956, là học trò của nhà điêu khắc Karl
Hartung. Sau đó ông sống tại Paris cho đến năm 1959. Năm 1960, ông lại
chuyển về Berlin-Friedenau, nơi ông cƣ ngụ đến năm 1972. Từ 1972
đến 1987, ông sống tại Wewelsfleth ở bang Schleswig-Holstein.
Năm 1954, ông kết hôn với bà Anna Schwarz. Từ đầu năm 1956 cho
đến đầu năm 1960 ông cùng vợ sống tại Paris, nơi bản thảo của

Từ 1983 đến 1986, ông giữ chức giám đốc Học viện Nghệ thuật Berlin.
Trong thời gian 1989–1990, ông đã có những quan điểm phản đối sự chia cắt
nƣớc Đức thành hai phần.
Ông đã đƣợc trao nhiều giải thƣởng, trong đó có thể kể nhƣ Giải
“Nhóm 47” (1950), giải Phê bình Đức (1960), giải “Sách nƣớc ngoài” của
Pháp (1962), giải Georg Büchner (1965), giải thƣởng Fontane (1968), giải
thƣởng Premio Internazionale Mondello (1977), huy chƣơng Alexander-
Majakowski ở Gdansk (1979), giải thƣởng Antonio Feltrinelli (1982), huy
chƣơng Hermann Kesten (1995) và đặc biệt nhất là Giải Nobel Văn
học năm 1999 cho tác phẩm Cái trống thiếc của ông.
Ông cũng là giáo sƣ danh dự của Đại học Kenyon và Đại học Harvard.
Ngày nay ông sống gần thành phố Lübeck, nơi có Nhà Günter Grass
với phần lớn các tác phẩm nguyên bản về nghệ thuật và văn học của ông.
- Một số tác phẩm
* Tiểu thuyết
 Cái trống thiếc (1959)
 Mèo và chuột (1961)
 Những năm chó (1963)
 Aus dem Tagebuch einer Schnecke ( 1972)
 Der Butt ( 1979)
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
14
 Die rattin ( 1986)
 Unkenrufe ( 1992)
 Bò ngang (2002)
 Bein Hautender Zwiebel ( 2006)
* Thơ
 Die Vorzüge der Windhühner (1956)
 Gleisdreieck (1960)

Horace Engdahl đã xúc động phát biểu trong lễ trao giải: “Việc trao giải
Nobel Văn chương cho Gunter Grass tuy hơi muộn nhưng lại mang một ý
nghĩa đặc biệt, bởi 1999 là năm bắc cầu giữa hai thế kỷ”.
Tác phẩm đã đƣợc dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau. Ở Việt Nam,
Cái trống thiếc đƣợc Dƣơng Tƣờng dịch năm 2002.
Trong lời tựa tác phẩm Cái trống thiếc, dịch giả Dƣơng Tƣờng đã nói:
“Đến nay, 43 năm trôi qua kể từ khi tiếng trống ngỗ ngƣợc của Oskar
Matzerath đánh thức nền văn học Đức khỏi cơn mụ mị thời hậu chiến. Nhiều
nhà phê bình đã có lí khi đánh giá sự xuất hiện của Cái trống thiếc nhƣ một
lần khai sinh thứ hai cho nền tiểu thuyết Đức thế kỉ XX”.
Cái trống thiếc là câu chuyện về những cuộc phiêu lƣu kỳ lạ của gã lùn
dị dạng Oskar Matzerath, ngay từ buổi sinh nhật lần thứ ba đã dứt khoát
khƣớc từ thế giới ngƣời lớn bằng cách quyết định thôi không lớn nữa. Nhƣ
một nhân chứng ngỗ ngƣợc của những sự kiện diễn ra ở Danzing từ 1924 đến
1950, nhìn thế sự từ tầm cao 94cm, nghĩa là từ gần sát mặt đất, lia con mắt
dao mổ dọc theo triền lịch sử nhƣ một tấm gƣơng làm méo hình, Oskar, dƣới
bề ngoài trẻ con, nhƣng với sự già dặn trí tuệ của ngƣời trƣởng thành, đã làm
nảy lên từ cái trống đồ chơi con nít một thế giới nhố nhăng, kệch cỡm và bí
hiểm vùi lấp dƣới những đổ nát của lịch sử.

Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
16
1.3.2. Phạm Thị Hoài và tác phẩm “Thiên sứ”
1.3.2.1. Tác giả Phạm Thị Hoài
Phạm Thị Hoài sinh năm 1960. Bà là một nhà văn hiện đại, nhà biên
soạn và dịch giả có tầm ảnh hƣởng. Hiện tại bà đang sinh sống ở Đức. Phạm
Thị Hoài sinh ra và lớn lên tại tỉnh Hải Dƣơng. Năm 1977, bà đến Đông
Berlin và học ở Đại học Humboldt, nơi mà bà đã tốt nghiệp chuyên ngành
về văn khố. Năm 1983, bà trở về Việt Nam, sống ở Hà Nội, làm chuyên viên

ngƣời mang đến những tƣ tƣởng mới cho văn học. Ngay từ những sáng tác
ban đầu đã thể hiện là một cây bút cá tính mạnh mẽ, luôn có ý thức cách tân
văn học một cách triệt để và quyết liệt.
“Thiên sứ” là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn, ngay từ buổi đầu mới ra
đời đã tạo sóng gió. Cũng giống nhƣ các tác phẩm nổi tiếng khác nhƣ “Nỗi
buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Ăn mày dĩ vãng” của Chu Lai, “Bến không
chồng” của Dƣơng Hƣớng, “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp…
“Thiên sứ” đã khuấy động văn đàn. Những dƣ luận trái chiều xuất hiện trong
một khoảng thời gian dài. Và càng về sau, các ý kiến, nhận định đều khẳng
định đây là một trong những tiểu thuyết có giá trị của văn học hiện đại sau
1975, thể hiện một lối văn mở đƣờng cho một khuynh hƣớng tiểu thuyết mới
trong văn học Việt Nam đƣơng đại.
Thiên sứ đƣợc dịch sang tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức và
Phần Lan. Năm 1993, bản dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “Tiểu
thuyết nước ngoài hay nhất” của tổ chức Frankfurt Literaturpreis trao tặng
hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức. Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt
giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000. Cũng trong năm
này, Phạm Thị Hoài rời Việt Nam sang Berlin, nơi bà đang sống và làm việc
hiện nay. Trong lời bạt bản dịch Thiên sứ, Tôn Thất Quỳnh Du viết:
“Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến độc giả và những nhà
phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai. Nhƣng, ngay cả những nhà
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Phƣợng K36B – Khoa Ngữ văn
18
phê bình mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một nhà văn có con mắt u
ám trong việc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hƣớc, song lại có thính giác tốt
về nhịp điệu của tiếng Việt”.
Thiên sứ là cuốn tiểu thuyết đƣợc xây dựng trên hồi ức của một cô bé,
trên dòng suy tƣởng chậm chạp và lắng đọng của một tâm hồn kiên định trƣớc
những biến động của xã hội và thời gian. Qua nhân vật Hoài- cô bé 14 tuổi

Thiên sứ làm ta nhớ tới một tác phẩm nổi tiếng của nền văn học Đức cũng
nhƣ nổi tiếng trên văn đàn thế giới: tiểu thuyết “Cái trống thiếc” của Gunter
Grass. Tiểu thuyết Cái trống thiếc có chuyện một cậu bé chủ ý ngã vào cái
trống và mang tật để luôn luôn là đứa trẻ lên 3 mà quan sát và phản ứng với
thế giới xung quanh. Và trong Thiên sứ cũng có một câu chuyện về cô bé
Hoài không muốn trở thành ngƣời lớn, đã “trút kinh nguyệt một lần cho mãi
mãi”, giữ nguyên tuổi mƣời bốn, một mét hai nhăm phân chiều dài sinh học
để quan sát thế giới và con ngƣời. Vậy Phạm Thị Hoài có học tập, tiếp thu gì
từ Gunter Grass không? Chính Phạm Thị Hoài đã viết: “Cuốn sách bắt đầu từ
một điển tích của nhà văn G.G. và những chuyện khó tin của nhà thơ F. ” −
đấy là lời đề từ mà ta có thể xem nhƣ ghi chú của tác giả.
Nói Phạm Thị Hoài học tập, tiếp thu cách viết của Gunter Grass không
có nghĩa Phạm Thị Hoài vay mƣợn hoàn toàn từ Gunter Grass. Việc Phạm
Thị Hoài học tập ở đây cũng giống nhƣ việc Nguyễn Du vay mƣợn cốt truyện
Truyện Kiều từ Kim – Vân - Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân, điều đó
không có nghĩa là nó sẽ làm giảm đi giá trị của tác phẩm mà ngƣợc lại nó
càng làm nổi bật sự sáng tạo từ phía chủ thể vay mƣợn. Việc mƣợn điển tích
từ Gunter Grass chỉ là sự tiếp thu về mặt nghệ thuật, cho nên nó vẫn đạt đƣợc
hiệu quả thẩm mĩ nhất định. Các nhân vật trong Thiên sứ thật sự là của Phạm
Thị Hoài chứ không phải của Gunter Grass. Chúng là những trạng thái nhận
thức của tác giả và mang ý nghĩa giả thiết triết lý.

Trích đoạn Nghệ thuật huyền thoại Đặc tính nhân vật Nghệ thuật xây dựng nhân vật Hoài trong Thiên sứ và lối thiết tạo nhân vật phản truyền thống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status