Giáo án một thời đại trong thi ca ngữ văn 11 - Pdf 29

GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 11
Một thời đại trong thi ca
(Hoài Thanh)
A. Phần chuẩn bị:
I. Mục đích yêu cầu: Giúp học sinh
- Hiểu được quan niệm của Hoài Thanh về thơ cũ, thơ mới.
- Đánh giá được đoạn trích theo yêu cầu của thể văn tiểu luận và phê bình.
- Hiểu được những đặc sắc trong phong cách phê bình và tiểu luận của Hoài Thanh.
- Rèn kỹ năng phân tích văn nghị luận.
II. Chuẩn bị:
1. Thầy:
- Nghiên cứu tài liệu:
. SGK Văn 11 - Ban Khoa học xã hội.
. Thi nhân Việt Nam (NXB )
. Hoài Thanh - Vũ Ngọc Phan - Hải Triều ( )
- Soạn giáo án.
2. Trò:
- Tìm văn bản tác phẩm.
- Soạn theo hướng dẫn của giáo viên.
B. Phần trên lớp:
Tiết 100
I. Kiểm tra bài cũ: (10')
1. Câu hỏi: Phân tích cảnh gặp gỡ giữa hai cha con Trần Văn Sửu (trong đoạn trích Cha
con nghĩa nặng - Hồ Biểu Chánh)?
2. Yêu cầu:
HS phân tích, đảm bảo được những ý cơ bản sau:
- Cảnh huống gặp gỡ giữa hai cha con TVS là một cảnh huống đầy kịch tính, được nhà
văn sắp xếp theo hướng đẩy cao dần tình huống kịch:
. Sự xuất hiện của thằng Tí ngay sau khi Sửu bỏ đi.
. Thằng Tí đuổi theo cha, cảnh rượt đuổi giữa hai cha con cười ra nước mắt.
. Thằng Tí đuổi kịp cha nó đúng lúc người cha định tự vẫn.

- GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: "HT dường như sinh ra để đọc thơ, bình thơ". Ông
say mê theo dõi phong trào Thơ mới khởi lên từ năm 1932, đến năm 1941 thì cùng Hoài Chân
(người em trai) xuất bản tập Thi nhân Việt Nam nổi tiếng.
- Tác phẩm chính trước cách mạng:
. Cuốn Văn chương và hành động (1936).
. Cuốn Thi nhân Việt Nam (Năm 1941 - 1944): Với tập sách này, HT xứng đáng được
xem là người đại diện ý thức cho phong trào Thơ mới. Đây là cuốn tiểu thuyết tuyển chọn Thơ
mới "bằng cặp mắt xanh sáng suốt và tinh tế, kèm theo một bài tổng kết rất công phu và có giá
trị khoa học về phong trào văn học này cùng với nhiều lời bình ngắn gọn mà đầy tài hoa về các
hồn thơ" (Nguyễn Đăng Mạnh - Những bài giảng về tác gia văn học VN hiện đại, NXB ĐHSP,
2005. Tr. 534).
- Sau cách mạng, Hoài Thanh tham gia lãnh đạo công tác văn hóa văn nghệ (Chủ tịch Hội
văn hóa cứu quốc thành phố Huế; UV thường vụ Hội Văn nghệ VN; Viện phó Viện Văn học;
Tổng thư ký BCH Hội liên hiệp VHNT; Tổng biên tập tuần báo Văn Nghệ ), song ông trước
sau vẫn thủy chung trọn vẹn với sự nghiệp phê bình văn học. Tự nguyện gắn bó với sự nghiệp
cách mạng của Đảng, của nhân dân, ông dứt khoát từ bỏ quan điểm nghệ thuật trước kia, dùng
ngòi bút phục vụ kháng chiến và xây dựng đất nước. Ông đã cho ra đời nhiều bài viết, nhiều
công trình nghiên cứu văn học có giá trị. Ngòi bút của HT không phải không có những chỗ giáo
điều, máy móc, nhưng dù sao cũng có thể xem là tiêu biểu cho ý thức văn học một thời.
- Tác phẩm chính sau cách mạng:
. Có một nền văn hóa VN (1946)
. Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949)
. Nói chuyện thơ kháng chiến (1951)
. Tuyển tập Hoài Thanh (Tập I - 1982; Tập II - 1983).
GV: Những hiểu biết của em về phong cách phê bình của Hoài Thanh?
HS: Trình bày ý kiến cá nhân.
GV:
* Phong cách phê bình của Hoài Thanh:
Nhắc tới Hoài Thanh, người ta nghĩ ngay đến một nhà phê bình văn học tài năng và có uy
tín, có vị trí vững chắc trong nền văn học hiện đại. Thiếu Mai nhận xét: "Hoài Thanh là nhà phê

GV: Không đầy 40 trang in nhưng đã nói được rất nhiều về tư tưởng, tài năng và phong
cách của một cây bút phê bình văn học xuất sắc của nền VHVN hiện đại.
b/ Giá trị nội dung:
GV: Theo em, bài phê bình này đã thể hiện được những nội dung cơ bản nào?
HS: - Bài viết này tổng kết 10 năm phong trào Thơ mới lãng mạn VN, bắt đầu từ lúc ra
đời vào năm 1932 cho đến năm 1941.
- Dù tổng kết vắn tắt, chưa phải hoàn toàn đầy đủ, trọn vẹn, triệt để nhưng bài viết đã tạo
được cái nhìn tổng quát cho độc giả về diễn biến của một phong trào thơ ca đặc biệt, độc đáo
trong nền văn học VN đầu thế kỷ XX. Đánh giá thành tựu của nó trong cuộc cách tân hiện đại
hóa thơ VN. Quan trọng, nó đã giúp cho người đọc nhìn nhận đúng đắn về một phong trào thơ
của những nhà thơ mong muốn làm một cuộc cách tân thơ theo hướng hiện đại hóa, thoát khỏi
những ràng buộc của lối thơ cũ. (Với năng lực cảm thụ tinh tế, với khả năng phân tích, đánh giá
sắc bén, HT đã thành công. Bí quyết của sự thành công ấy là quan điểm "Lấy hồn tôi để hiểu hồn
người" (Hoài Thanh). Bằng cách ấy, ông đã ghi lại được những điệu hồn của các thi nhân trong
phong trào Thơ mới. Đồng thời các dòng thơ, số phận và sự phát triển của chúng cũng như nhận
xét thỏa đáng về sự cống hiến, đóng góp của từng dòng cho văn học).
c/ Giá trị nghệ thuật:
* Bố cục:
GV: Bài viết được chia thành mấy phần?
HS: Bài viết được chia thành ba phần:
. Phần 1: Trình bày nguồn gốc xã hội, văn hóa, cơ sở tư tưởng, tâm lý của phong trào
Thơ mới. Quá trình hình thành, phát triển và thắng lợi của Thơ mới trong cuộc đấu tranh với thơ
cũ đã suy vi (Đoạn 1 -> đoạn 4).
. Phần 2: Phân loại và nhận xét khái quát về các dòng khác nhau trong phong trào Thơ
mới (dòng Đường, dòng Việt, dòng Pháp) và nhược điểm của từng dòng (Đoạn 5 -> đoạn 6).
. Phần 3: Định nghĩa thơ mới, thơ cũ từ hình thức đến nội dung và nêu dự cảm sự bế tắc
tất yếu của thơ mới (Đoạn 7).
* Văn phong:
GV: Em có nhận xét gì về văn phong của Hoài Thanh trong Một thời đại trong thi ca?
HS: Văn phong sắc sảo, súc tích và tài hoa.

+ Phần 2: Tiếp đến Ta ngơ ngẩn buồn hồn ta cùng HC: GQVĐ: Thế nào là tinh thần thơ
mới.
+ Phần 3: Còn lại: Dự cảm về số phận bi kịch của tinh thần thơ mới.
II.ĐỌC HIỂU:
1. Đặt vấn đề:
?Luận đề được nêu ra nghị luận ở đây là gì ? Nhận xét về cách thức đặt vấn đề của
người viết ?
HS: - Tác giả nêu luận đề trực tiếp, ngắn gọn: Tinh thần thơ mới.
Ngay trong cách nêu luận đề tác giả đã hàm ý nhận xét đây là một vấn đề có ý nghĩa
như thế nào đối với việc xác định thơ mới ?
HS: => Đó là cái điều quan trọng hơn, nói cách khác nó là điều cốt lõi, chi phối toàn
bộ thơ mới, làm nên đặc trưng thơ mới, khái quát cả diện mạo phong trào thơ mới, nó là tiêu chí
căn bản làm cho ta thấy rõ thơ mới khác thơ cũ một cách cơ bản và rõ ràng và nổi bật nhất.
GV: Quả vây, như XD đã nói thơ hay hay cả hồn lẫn xác, từ góc độ lí luận nội dung
quyết định hình thức, Vậy muốn biết thơ mới khác thơ cũ điều gì, quan nhất phải xác định tinh
thần thơ. Đây là cách nhìn nhận vừa nhạy cảm vừa sắc lí của HT. Và Trước phần này tác giả đã
luận giải về hình thức thơ nhưng nhận thấy về căn bản hình thức thơ mới và cũ có chỗ giao
tranh
Nó là tiêu chí quan trọng, thì dĩ nhiên để xác định được nó không phải là điều dễ dàng.
? Tóm lại nhận xét như thế nào về phần ĐVĐ ?
HS: - Ngay từ phần ĐVĐ nhà nghiên cứu phê bình HT đẫ vừa giới thiệu được luận đề,
vùa đề xuất được phương pháp và biện pháp lôgíc, khoa học để khám phá một vấn đề văn học có
tính phức tạp mới mẻ. Đó cũng là điều tác giả định hướng cho ngòi bút của mình ở những phần
sau.
Phần 2 tác giả lí giải điều gì ?
HS: - Theo lôgic lập luận, tác giả tập trung lí giải tinh thần thơ mới.
2. Giải quyết vấn đề: Bản chất tinh thần thơ mới
Tác giả cho ta biết việc đi tìm, luận giải về tinh thần thơ mới có thuận tiện không ?
Gặp khó khăn gì ?
HS: - Rất khó để cắt nghĩa, luận giải về tinh thần thơ mới. Bởi lẽ có những điều không

HS: - Lí do tác giả đề xuất pp đấy là vì: cái cũ và cái mới luôn nối tiếp hay đỏi, thay
thế nhau: hôm nay phôi thai từ hôm qua, và trong cái mới vẫn còn rơi rớt cái cũ.
Em có suy nghĩ gì về phương pháp đề xuất của HT ?
HS: - Thực chất phương pháp mà HT đề xuất là phương pháp so sánh đối chiếu, đây là
một thao tác lập luận, một phương pháp hữu hiệu để tìm được cái bản chất thường dùng trong
văn nghị luận.
GV: Giống như trong bài luân lí xã hội ở nước ta cùng có so sánh.
* Luận điểm:Bản chất tinh thần thơ mới - chữ tôi
Tác giả chỉ ra tinh thần thơ mới bằng cách thức nào ?Nhận xét về cách diễn đạt ?
HS: - Bằng một so sánh giữa tinh thần thơ mới và tinh thần thơ cũ:
+ Tinh thần của thơ xưa là gồm ở chữ Ta.
+ Tinh thần của thơ mới là gồm ở chữ Tôi.
GV: Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa - hay thơ cũ - và thời nay - hay thơ mới - có
thể gồm lại trong hai chữ tôi - ta. Tác giả chỉ ra: Hai chữ này có chỗ giống nhau thì đã rõ. Như
chữ tôi vẫn dùng thay cho chữ ta. Chỉ còn việc đi tìm chỗ khác nhau giữ thì sẽ xác định được
tinh thần thơ mới. Như vậy Đây là cách khẳng định tinh thần thơ mới nằm trọn vạn ở chữ tôi mà
thôi.
? Em hiểu thời đaị chữ tôi và thời đại chữ ta như thế nào ?Qua đó nhận xét như thế
nào về cách diễn đạt luận điểm này của HT ?
HS: => Chữ tôi gắn liền với cái riêng, cá nhân, cá thể. Cái ta gắn liền với cái chung,
cái đoàn thể, cộng đồng. Nghĩa là thơ cũ là tiếng nói của cái ta, thơ mới là tiếng nói của cá nhân.
=> Cách diễn đạt, nêu ý kiến ngắn gọn, dứt khoát, chứng tỏ sự tự tin trong khám
phá và kết luận khoa học.
GV: Sau luận điểm tác giả đưa ra phân tích luận cứ nào để làm sáng tỏ. Theo dõi
đoạn văn
 Luận cứ 1: Phân tích Về thời điểm xuất hiện và lịch sử phát triển của chứ tôi.
? Tác giả cho biết sự xuất hiện của chữ tôi như thế nào trong lịch sử văn học này ?
+ Về thời điểm: Chữ tôi xuất hiện trong lịch sử thơ văn VN từ khi nào : không ai
biết đích xác vào ngày nào. Chỉ biết rằng ban đầu tâm thế xuất hiện của nó thật bỡ ngỡ ngỡ, lạc
loài nơi đất khách.

 Luận cứ 2: Chữ tôi của thời đại thơ mới.
? Theo HT chư tôi ấy của thời bây giờ ở thi đàn VN như thế nào ?
- Ý 1: Về vị trí và đặc điểm của chữ Tôi trên thi đàn thơ Mới.
HS: + Nó đến một mình, không còn đi theo những anh, bác,
+ Nó dần mất đi cái vẻ rụt rè, bỡ ngỡ.
+ Nó bắt đầu không bị người ta ghét bỏ mà còn thấy thương và tội nghiệp quá
+ Nó mất đi cả cốt cách hiên ngang và lòng tự trọng như cái tôi hùng tâm tráng trí
của người xưa chỉ còn rên rỉ trong khổ đâu, thảm hại, trong bần hàn
? Làm sáng tỏ điều này tác giả đưa ra luận chứng nào ?
HS: . Đưa ra một luận chứng cụ thể về câu thơ nạo nuột than thở của XD về cái nghèo,
đối sánh với cái vui cảnh nghèo đầy tự đắc của NCT xưa kia.
Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chanửg cầu no.
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ
(Hàn nho phong vị phú)
? Nói về điều đó HT thể hiện một thái độ nào ?Câu văn nào nói lên điều đó ?
HS: => Thái độ của tác giả:
+ Buồn và trách: Không biết trong khi rên rỉ như thế XD có nghĩ đến NCT, một
người đồng quận, chẳng những đùa cảnh nghèo
+ Rồi lại đồng cảm, bênh vực Trách gì XD ! Chẳng qua XD đã đại diện nói hô
tất cả cái khổ sở tham hại của chúng ta.
?Theo em Vì sao cái tôi của thời đại này lại có biểu hiện như vậy ?
HS: . Vì đó là cái tôi tuyệt đối độc lập xuất hiện cô đơn giữa thi đàn VN, độc lập, tự
tách mình ra khỏi cái ta chung, riêng một cõi, một thé giới. Đó là cái tôi trữ tình, cái tôi của thể
giới nội cảm, cái tôi tinh thần của thơ mới l/m.
? Đoạn văn tiếp theo khái quát phân tích điều gì ? thông qua hình thức diễn đạt nào?
- Ý 2: Khái quát những biểu hiện chung riêng, gần nhau và khác nhau của cái tôi. trong
thơ mới bằng một lối văn giàu hình ảnh và nhịp điệu, khiến văn phê bình mà chanửg khác gì thơ.
Điểm chung của chữ Tôi:
- Nguyên nhân: Mất bề rộng.
- Con đường vượt thoát: Tim bề sâu.

nào ?
HS: - Con đường giải thoát bi kịch, tìm lại lòng tin đã mất: bằng cách gửi niềm tin, tình
yêu vào T.V, dồn tình yêu quê hương đất nước tha thiết mà thầm kín trong tình yêu tiếng mẹ đẻ
thân thương.
? Vì sao ?
- Vì tiếng Việt là tấm lụa bạch chung hứng vong hồn dân tộc. Thanh niên - thi
sĩ thơ mới dùng tâm hồn dân tộc để bày tỏ tình yêu đất nướ, đểm tìm hy vọng trong thất vọng.
Tiếng Việt có sức sống mãnh liệ không thể tiêu diệt cũng như tâm hồn dân tộc VN.
GV: Điều đó có nghĩa là Đồng thời với việc việc phân ích chỉ ra đặc trưng nổi bật của
chữ tôi là buồn, tác giả còn cho ta thấy ndung nào nữa trong chữ tôi của thời đại này ?
HS: khẳng định một phương diện tình cảm biểu hiện trong Thơ mới: tình cản dân tộc
sâu kin và niềm khát khao cái Đẹp. Đồng thời, dự cảm về sự bế tắc tất yếu của phong trào Thơ
mới.
GV: Chính những bế tắc trong cuộc sống, trong tâm hồn đã đẩy họ vào tình trạng bi kịch.
Vũ Hoàng Chương đau đớn "Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ", Chế Lan Viên cũng thất vọng
vô cùng: "Với tôi tất cả như vô nghĩa - Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau", Xuân Diệu thì bức
bối, ngột ngạt "Tôi là con nai bị chiều đánh lưới - Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối" Và khi
ấy, họ chỉ còn biết gửi tình yêu của mình vào tiếng mẹ đẻ. Họ đã "muốn mượn tấm hồn bạch
chung để gửi nỗi băn khoăn riêng", và bằng thơ mình mà gìn giữ sự sống và làm trong sáng thêm,
giàu có thêm cho tiếng ta. Huy Cận từng thổ lộ:
Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời
Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi
Hồn thiêng đất nước còn ngồi bên con
Đời bao tâm sự thiết tha
Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ.
=> Đây là biểu hiện đầy trong trẻo của tình yêu quê hương, đất nước, dân tộc. Và "những
cái bất diệt" của truyền thống ấy phải chăng chính là cái cớ để họ vin vào mà bảo đảm cho ngày
mai?
? Niềm tin ấy, hi vọng ấy, t/y ấy được diễn đạt bằng những câu văn nào ?



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status