TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN NGUYỄN THỊ DUYÊN
DẠY HỌC SINH HỌC 10 (CTC)
BẰNG PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Sinh học Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S AN BIÊN THÙY
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nguyên cứu, tìm tòi của bản thân
tôi dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của Th.S An Biên Thùy – Giảng viên khoa Sinh –
KTNN, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2. Đề tài và nội dung khóa luận là trung
thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5, năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Duyên
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Đọc là
BTNB
Bàn tay nặn bột
CTC
Chƣơng trình chuẩn
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
PP
Phƣơng pháp
HS
Học sinh
THCS
trong dạy học Sinh học 10 (CTC) 27 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2. Phƣơng pháp BTNB tại Việt Nam 6
1.2. Cơ sở lí luận 8
1.2.1. Khái niệm công cụ của đề tài 8
1.2.2. Cơ sở khoa học của phƣơng pháp BTNB 9
1.2.3. Các nguyên tắc cơ bản của phƣơng pháp BTNB 11
1.2.4. Tiến trình dạy học theo phƣơng pháp BTNB 12
1.2.5. Mối quan hệ giữa phƣơng pháp BTNB với các PPDH khác 15
1.2.6. Thuận lợi và khó khăn khi triển khai phƣơng pháp BTNB 16
1.3. Cơ sở thực tiễn 21
1.3.1. Nội dung điều tra 21
1.3.2. Cách tiến hành 21
1.3.3. Kết quả điều tra 21
Chƣơng 2. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC SINH HỌC 10 (CTC)
THEO PHƢƠNG PHÁP BTNB 29
2.1. Quy trình thiết kế bài soạn theo phƣơng pháp BTNB 29
2.1.1. Nguyên tắc thiết kế 29
2.1.2. Quy trình thiết kế bài soạn theo phƣơng pháp BTNB 31
2.1.3. Một số lƣu ý về kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho HS khi áp
dụng phƣơng pháp BTNB 45
2.2. Quy trình vận dụng phƣơng pháp BTNB trong thiết kế giáo án Sinh
lực. Nhƣ vậy đổi mới PPDH theo hƣớng đề cao vai trò chủ thể hoạt động của HS
trong học tập là một vấn đề cấp thiết, phù hợp với xu thế đổi mới dạy – học.
1.2. Xuất phát từ đặc điểm của môn học
Sinh học là một môn khoa học đa ngành, kết hợp kiến thức các môn học
khác nhƣ: toán, hóa, lí…Đồng thời, Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm,
kiến thức Sinh học có đƣợc ngày nay phần lớn hình thành bằng phƣơng pháp thực
nghiệm. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học Sinh học phải đổi mới cách dạy, cách
học theo hƣớng tăng cƣờng hoạt động của HS, tạo điều kiện để HS lĩnh hội kiến
thức một cách chủ động bằng tƣ duy trừu tƣợng dựa trên quan sát hình ảnh, sơ đồ
khái quát và thực hành thí nghiệm. PPDH mới tạo điều kiện cho HS học nội dung
tích hợp.
Ngoài ra, Sinh học là khoa học nghiên cứu về sự sống nên kiến thức rất rộng
bao gồm các mức độ phân tử đến tế bào, cơ thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái.
2
Vì thế muốn nắm bắt đƣợc những nguyên lí cơ bản của sự sống cần phải biết cách
học, biết cách liên hệ kiến thức của các phần lại với nhau, biết nhìn nhận các mức
độ tổ chức của sự sống nhƣ những hệ thống mở luôn tự điều chỉnh để thích nghi với
môi trƣờng không ngừng biến đổi. Bởi tất cả các lí do trên, thiết nghĩ, đổi mới
PPDH Sinh học theo hƣớng phát huy năng lực tự học, sáng tạo của học sinh là tất
yếu khách quan.
Phƣơng pháp BTNB là một PPDH tích cực, phù hợp cho việc giảng dạy các
kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt với môn Sinh học THPT, khi học sinh đang ở
giai đoạn tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học về sự sống, hình thành các khái
niệm cơ bản về khoa học Sinh học.
1.3. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” (BTNB) là một PPDH tích cực
Phƣơng pháp BTNB là dạy học khoa học dựa trên tìm tòi – nghiên cứu, là
một PPDH khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của HS, bản chất
của nghiên cứu khoa học và sự xác định kiến thức khoa học cũng nhƣ kĩ năng mà
HS cần nắm vững. Sử dụng phƣơng pháp BTNB tạo cho HS say mê khoa học, phát
huy tính sáng tạo, tìm tòi. Điều quan trọng nhất là góp phần tích cực trong tƣ duy,
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu lí thuyết về phƣơng pháp BTNB, các giáo trình lí luận dạy
học, SGK và các tài liệu liên quan đến đề tài.
6.2. Phương pháp điều tra cơ bản
- Điều tra bằng phiếu điều tra.
- Trực tiếp dự giờ, thăm lớp, kiểm tra việc tiếp thu kiến thức của học sinh.
- Tọa đàm với các trƣờng THPT dạy chƣơng trình Sinh học 10 (CTC).
6.3. Phương pháp chuyên gia
- Xin ý kiến của chuyên gia về ứng dụng phƣơng pháp BTNB vào dạy học
một số tiết học trong chƣơng trình Sinh học 10 (CTC).
7. Những đóng góp mới của đề tài
7.1. Về lí luận
4
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc vận dụng phƣơng pháp
BTNB vào tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, nâng cao năng lực giải quyết
vấn đề cũng nhƣ năng lực thiết kế thí nghiệm cho học sinh.
- Đề xuất quy trình vận dụng phƣơng pháp BTNB vào thiết kế dạy – học
các bài trong chƣơng trình Sinh học 10 THPT (CTC).
7.2. Về thực tiễn
- Xây dựng một số giáo án mẫu theo hƣớng ứng dụng phƣơng pháp BTNB
vào dạy học môn Sinh học 10 THPT (CTC).
5
NỘI DUNG
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1. Sự ra đời, nghiên cứu và ứng dụng tại Pháp
Năm 1995, giáo sƣ Georges Charpak dẫn một đoàn gồm các nhà khoa học và
đƣợc nhiều nƣớc thực hiện, biên dịch theo ngôn ngữ bản địa của các quốc gia nhƣ
Trung Quốc, Hy lạp, Đức, Serbi, Colombia…
Tháng 7/2004, trƣờng hè Quốc tế về BTNB với chủ đề “Bàn tay nặn bột trên
thế giới: trao đổi, chia sẻ, đào tạo” đã đƣợc tổ chức bởi Erice – Ý dành cho các
chuyên gia Pháp và các nƣớc.
Hội đồng khoa học Quốc tế (International Council for Science – ICS) và Hội
các Viện Hàn lâm Quốc tế (International Academy Panel – IAP) phối hợp tài trợ để
thành lập cổng thông tin điện tử về giáo dục khoa học, trong đó nội dung phƣơng
pháp BTNB đƣợc đƣa vào. Cổng thông tin đa ngôn ngữ này đƣợc thành lập vào
tháng 4/2004.
Nhiều dự án theo vùng lãnh thổ, châu lục đƣợc hình thành để giúp đỡ, hỗ trợ
cho việc phát triển phƣơng pháp BTNB tại các quốc gia. Có thể kể đến dự án Pol – len
(Hạt phấn) của Chấu Âu, dự án phát triển phƣơng pháp BTNB trong hệ thống các lớp
song ngữ tại Đông Nam Á của VALOFRASE (Valofrase du Francais en Asie du Sud-
Est – Chƣơng trình phát triển tiếng Pháp ở Đông Nam Á), dự án giảng dạy khoa học
cho các nƣớc nói tiếng Ả - rập…
1.1.2. Phương pháp BTNB tại Việt Nam
Phƣơng pháp dạy học BTNB đƣợc đƣa vào Việt Nam là một cố gắng nỗ lực
to lớn của Hội Gặp gỡ Việt Nam. Hội Gặp gỡ Việt Nam đƣợc thành lập vào năm
1993 theo luật Hội đoàn 1901 của Cộng hòa Pháp do Giáo sƣ Jean Trần Thanh Vân
- Việt kiều tại Pháp làm Chủ tịch. Hội tập hợp các nhà khoa học ở Pháp với mục
đích hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục; tổ chức các
hội thảo khoa học, trƣờng học về Vật lí; trao học bổng khuyến học, khuyến tài cho
học sinh và sinh viên Việt Nam.
Phƣơng pháp BTNB đƣợc giới thiệu tại Việt Nam cùng với thời điểm mà
phƣơng pháp này mới ra đời và bắt đầu thử nghiệm áp dụng trong dạy học ở Pháp.
7
Các đợt tập huấn phối hợp tổ chức bởi Hội Gặp gỡ Việt Nam và các Sở Giáo
dục địa phƣơng
Năm
Trƣờng Hermann Gmeiner, Vinh, Sở GD - ĐT tỉnh
Nghệ An
96
2011
Trƣờng THCS Nguyễn Chí Diểu - Huế; Sở GD -
ĐT tỉnh Thừa Thiên Huế
75
2011
Trƣờng THCS Lê Hồng Phong, Quy Nhơn Sở GD
- ĐT tỉnh Bình Định
60
2012
Cần Thơ
90
3 - 4/08/
2010
Trƣờng Hermann Gmeiner Đà Nẵng, Sở GD - ĐT
TP Đà Nẵng
72
1/08/2011
Huế
158
Tháng 11/2011, Thứ trƣởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển kí ban
hành đề án triển khai phƣơng pháp BTNB trong trƣờng phổ thông giai đoạn 2011 -
2015.
8
Ngày 25/4/2013, dƣới sự chủ trì của Thứ trƣởng Nguyễn Vinh Hiển, Bộ
GD&Đ tổ chức Hội nghị giao ban Đề án "Triển khai phƣơng pháp bàn tay nặn bột
trong dạy và học ở trƣờng phổ thông giai đoạn 2011 - 2015".
tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số dụng cụ và những giác quan đề
nghiên cứu, tìm tòi, khám phá ra tri thức mới. Tất cả suy nghĩ và kết quả đƣợc học
sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đưa ra khái niệm sau: BTNB là
phương pháp “thực hành khoa học” trong đó HS trực tiếp “bắt tay vào làm” chứ
không phải chỉ thực hành minh họa nhằm giải quyết các tình huống dạy –
học/chủ đề dạy – học, qua đó HS tiếp thu tri thức khoa học như một quá trình
nghiên cứu chính của bản thân.
1.2.2. Cơ sở khoa học của phương pháp BTNB
1.2.2.1. Cơ sở triết học
Lênin đã diễn tả một cách khái quát con đƣờng biện chứng của sự nhận thức
lí luận nhƣ sau: “Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng và từ tƣ duy trừu
tƣợng đến thực tiễn – đó là con đƣờng biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự
nhận thức thực tại khách quan”.
Trực quan sinh động (giai đoạn nhận thức cảm tính) gắn với thực tiễn, diễn
ra với các hình thức cơ bản: Cảm giác, tri giác và biểu tƣợng.
Tƣ duy trừu tƣợng (giai đoạn nhận thức lí tính) phản ánh hiện thực gián tiếp,
khái quát với các hình thức khái niệm, phán đoán, suy luận.
1.2.2.2. Cơ sở tâm lí học
Trẻ em – một nhà nghiên cứu đƣợc đỡ đầu. Cũng giống nhƣ một nhà nghiên
cứu thực sự, các em có thể tiến hành những nghiên cứu dẫn đến sự hiểu hiết. Nhƣng
các em cần đƣợc hƣớng dẫn và giúp đỡ bởi các câu hỏi của thầy (cô) giáo và hoạt
động khuôn khổ một đề tài đã đƣợc xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các
“cơ hội”.
Đứng trƣớc một sự vật hiện tƣợng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả
thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu để kiểm
10
chứng và đƣa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích,
tổng hợp kiến thức.
1.2.2.3. Cơ sở khoa học
hiện tƣợng (Ví dụ: mô hình tế bào – Bài 7,8,9,10).
- Điều tra và tham quan: có thể đƣợc tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào. Có thể
đƣợc tiến hành ngay trong giai đoạn đầu để làm quen với môi trƣờng ở địa phƣơng,
thu thập các vật liệu, gợi ra các câu hỏi. Có thể thực hiện trong giai đoạn tìm tòi để
thúc đẩy các nghiên cứu tìm kiếm. Cũng có thể đƣợc thực hiện trong giai đoạn cuối
để đem lại ý nghĩa cho các kiến thức đã đƣợc hình thành trong lớp.
- Tìm kiếm tài liệu: cách thức này có thể thay thế cho việc thực nghiệm trực
tiếp khi không thể tiến hành các thực nghiệm, hoặc có thể đƣợc dùng để thúc đẩy
hoặc cũng có thể đƣợc dùng nhƣ phƣơng tiện cuối cùng để đối chiếu kiến thức đƣợc
xây dựng trong lớp với kiến thức đã được thiết lập/trong sách.
1.2.3. Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp BTNB
Tiến trình sư phạm
(1) HS quan sát một sự vật hay một hiện tƣợng của thế giới thực tại, gần gũi
với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó.
(2) Trong quá trình tìm hiểu, HS lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đƣa ra tập
thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà
chỉ những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên.
(3) Những hoạt động do GV đề xuất cho HS đƣợc tổ chức theo tiến trình sƣ
phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chƣơng
trình học tập đƣợc nâng cao lên và dành cho HS một phần tự chủ khá lớn.
(4) Cần một lƣợng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài.
Sự liên tục của các hoạt động và những phƣơng pháp giáo dục đƣợc đảm bảo trong
suốt thời gian học tập.
(5) HS bắt buộc có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các em ghi
chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em.
12
(6) Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của HS các khái niệm khoa học
và kĩ thuật đƣợc thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói.
Những đối tượng tham gia
(7) Các gia đình/khu phố đƣợc khuyến khích thực hiện các công việc của lớp
trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức
và kích thích tính tò mò, thích tìm
tòi, nghiên cứu…
Bƣớc 2: Bộc
lộ quan niệm
- Bộc lộ quan niệm ban đầu
nêu những suy nghĩ từ đó
- GV cần: Khuyến khích HS nêu
những suy nghĩ bằng nhiều cách
13
ban đầu của
học sinh
hình thành câu hỏi, giả
thuyết bằng nhiều cách nói,
viết, vẽ.
Đây là bƣớc quan trọng
đặc trƣng của PP BTNB
nói, viết, vẽ.
- GV quan sát nhanh để tìm các
hình vẽ khác biệt.
Bƣớc 3: Đề
xuất câu hỏi
hay giả
thuyết và
thiết kế
phƣơng án
(Nếu HS chƣa đề xuất đƣợc GV có
thể gợi ý hay đề xuất phƣơng án cụ
thể)
(chú ý làm rõ và quan tâm đến sự
khác biệt giữa các ý kiến).
Bƣớc 4: Tiến
hành thí
nghiệm tìm
tòi - nghiên
cứu
HS hình dung có thể kiểm
chứng các giả thuyết
bằng:
+ thí nghiệm (Ƣu tiên
thí nghiệm trực tiếp trên
- Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí
nghiệm sau đó mới phát các dụng
cụ và vật liệu thí nghiệm.
- GV bao quát và nhắc nhở các
nhóm chƣa thực hiện, hoặc thực
14
vật thật) .
+ quan sát.
+ điều tra.
+ nghiên cứu tài liệu.
- HS sinh ghi chép lại vật
liệu thí nghiệm, cách bố trí,
và thực hiện thí nghiệm
(mô tả bằng lời hay hình
*
*
*
Nếu giả thuyết sai: thì
quay lại bƣớc 3.
* Nếu giả thuyết đúng:
Thì kết luận và ghi nhận
chúng.
GV động viên HS và yêu cầu bắt
đầu lại tiến trình nghiên cứu.
GV giúp HS lựa chọn các lý luận
và hình thành kết luận.
- Sau khi thực hiện nghiên cứu, các
câu hỏi dần dần đƣợc giả quyết, các
giải thuyết dần dần đƣợc kiểm
chứng tuy nhiên vẫn chƣa có hệ
thống hoặc chƣa chính xác một
cách khoa học.
- GV có trách nhiệm tóm tắt, kết
15
luận và hệ thống lại để học sinh ghi
vào vở coi nhƣ là kiến thức bài học.
- GV khắc sâu kiến thức bằng cách
đối chiếu biểu tƣởng ban đầu.
1.2.5. Mối quan hệ giữa phương pháp BTNB với các PPDH khác
Phƣơng pháp BTNB, học sinh bắt buộc phải có mỗi em một quyển vở thực hành do
các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em. Thông qua các hoạt
động nhƣ vậy, phƣơng pháp BTNB nhằm đạt đƣợc mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh
dần dần của học sinh các khái niệm khoa học và kĩ thuật thực hành, kèm theo là sự
củng cố ngôn ngữ viết và nói.
1.2.6. Thuận lợi và khó khăn khi triển khai phương pháp BTNB
1.2.6.1. Thuận lợi
- Phƣơng pháp BTNB đã đƣợc Bộ GD & ĐT quyết định đầu tƣ nghiên cứu,
biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn để triển khai áp dụng trong trƣờng tiểu học và
trung học cơ sở.
- Phƣơng pháp BTNB đƣợc triển khai nằm trong chủ trƣơng chung của Bộ
GD & ĐT về việc tăng cƣờng sử dụng phƣơng pháp dạy học tích cực, chủ động tiếp
thu, lĩnh hội kiến thức và rèn luyện năng lực tự học.
- Việc triển khai vận dụng phƣơng pháp BTNB đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình,
hiệu quả của hội gặp gỡ Việt Nam và một số tổ chức quốc tế khác.
- Tiến trình của phƣơng pháp BTNB rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng.
- Phƣơng pháp BTNB đƣợc tổ chức nghiên cứu, thử nghiệm bài bản, khoa
học.
- Tài liệu, tƣ liệu về phƣơng pháp BTNB phong phú và miễn phí.
- Phƣơng pháp BTNB tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập.
Theo báo cáo của Pháp, học sinh tiểu học đã học theo phƣơng pháp BTNB, khi lên
trung học cơ sở các em đề nghị giáo viên dạy theo phƣơng pháp này. Ở Việt Nam,
tại Hội nghị giao ban Đề án "Triển khai phƣơng pháp bàn tay nặn bột trong dạy và
học ở trƣờng phổ thông giai đoạn 2011 - 2015" (25/4/2013). Các thầy, cô trực tiếp
17
giảng dạy phƣơng pháp này đều khẳng định: “Bàn tay nặn bột khiến học sinh cực
kỳ hứng thú. Các em đƣợc làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn và trình bày
quan điểm. Các em có thể ghi nhớ kiến thức ngay trên lớp và biết vận dụng vào
cuộc sống”. Bà Văn Thị Thanh Thùy, phó hiệu trƣởng Trƣờng tiểu học Nguyễn
Minh Khanh (xã Hòa Long, TP Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) nói: Sau một năm
(2) Về trình độ học sinh
- Trình độ học sinh chƣa đồng đều, nhất là học sinh vừng sâu, vùng xa, vùng
nhiều dân tộc thiểu số.
- Học sinh còn thụ động trong việc học tập, thiếu tƣ duy sáng tạo.
(3) Về sĩ số học sinh, điều kiện phòng học, thiết bị, tư liệu dạy học, sắp xếp
hời khóa biểu
- Sĩ số học sinh phù hợp cho dạy học theo phƣơng pháp BTNB là khoảng 25
học sinh/lớp. Sĩ số đông (từ 30 học sinh/lớp trở lên) là khó khăn cho việc tổ chức
học tập theo nhóm, hoạt động tham quan, dã ngoại, điều tra thực tế cho học sinh.
- Trong các lớp học hiện nay, bàn ghế đƣợc bố trí theo dãy, nối tiếp nhau,
không thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm. Phần lớn các trƣờng phổ thông
chƣa có phòng học bộ môn và phòng thí nghiệm để phục vụ cho việc giảng dạy các
môn khoa học, thiếu thiết bị hỗ trợ trình bày, trình chiếu, tƣ liệu, tài liệu bổ trợ cho
hoạt động tìm tòi, nghiên cứu của học sinh còn hạn chế.
- Để dạy học theo phƣơng pháp BTNB mỗi tuần cần bố trí tối thiểu 2 tiết học
liên tục/tuần và trong nhiều tuần. Nhà trƣờng sẽ khó khăn hơn trong việc bố trí, sắp
xếp thời khóa biểu. Khó khăn này có thể khắc phục, làm giảm nhẹ theo 2 hƣớng:
trong các bài dạy, giáo viên biết vận dụng phƣơng pháp BTNB ở mức độ hợp lí
(giống nhƣ vận dụng các mức độ khác nhau của phƣơng pháp dạy học giải quyết
vấn đề) hoặc trong một năm giáo viên chỉ dạy 1 – 2 chuyên đề theo phƣơng pháp
BTNB.
(4) Về công tác quản lí, đánh giá
- Hiện nay, công tác đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên còn mang tính
hình thức, chƣa thực chất, chƣa thực sự khuyến khích đƣợc việc đổi mới phƣơng
pháp dạy học. Tiêu chí đánh giá thƣờng tập trung vào việc dạy hết kiến thức của
một bài học trong sách giáo khoa, đảm bảo thời lƣợng của tiết học, sử dụng phần