Phân tích nhứng hạn chế của pháp luật trọng tài thương mại hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện - Pdf 29

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra hết sức mạnh mẽ, quá trình liên doanh, liên kết,
tự do hợp đồng ngày càng phát sinh nhiều các mâu thuẫn, bất đồng. Sự ra đời của Luật Trọng
tài Thương mại năm 2010 đã khắc phục được những điểm bất cập của Pháp lệnh Trọng tài
Thương mại năm 2003, đồng thời đưa ra nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật
và thông lệ quốc tế… Tuy nhiên, bên cạnh những nét ưu việt nói trên, qua gần 2 năm thực
hiện, Luật trọng tài Thương mại 2010 đã bộc lộ những hạn chế trong quá trình giải quyết
tranh chấp.
Nhận thấy được vai trò của pháp luật trọng tài em xin trình bày đề tài: “Phân tích nhứng hạn
chế của pháp luật trọng tài thương mại hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện”.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về trọng tài thương mại và pháp luật về trọng tài thương mại
1. Khái niệm trọng tài thương mại
Ở Việt Nam, pháp luật cũng giữ quan điểm tiếp cận trọng tài là một phương thức giải quyết
tranh chấp như hầu hết pháp luật các nước nhưng sử dụng thuật ngữ là “trọng tài thương mại”
để gọi tên cho phương thức này.Theo Luật TTTM năm 2010 tại khoản 1 Điều 3 quy định:
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được
tiến hành theo quy định của Luật này”. Theo Luật TTTM năm 2010 đưa ra khái niệm thì theo
hướng mở rộng hơn về nội dung tranh chấp và lĩnh vực tranh chấp, đồng thời vẫn thể hiện
được bản chất của phương thức giải quyết tranh chấp này là tôn trọng đến cùng sự thỏa thuận
1
của các bên tranh chấp. Vì thế khái niệm này mang những khía cạnh phù hợp hơn với pháp
luật TTTM của đa số các nước trên thế giới hiện nay.
2. Những nội dung cơ bản của pháp luật trọng tài thương mại
Pháp luật trọng tài thương mại gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM phát sinh trên cơ sở thỏa thuận tọng tài do các
bên tự nguyện xác lập. Tuy nhiên, không phải cứ có thỏa thuận trọng tài thì TTTM sẽ được
quyền giải quyết tranh chấp mà còn phụ thuộc vào giới hạn đối tượng trọng tài hay còn gọi là
khả năng giải quyết bằng trọng tài.

Tố tụng trọng tài, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
thương mại bằng hình thức trọng tài. Xuất phát từ bản chất của trọng tài là hình thức tài phán
tư, quyền lực trọng tài có được là do các đương sự thỏa thuận ủy quyền, không mang quyền
lực nhà nước nên tố tụng trọng tài có những điểm khác với tố tụng Tòa án.
Thứ sáu, thi hành quyết định của trọng tài thương mại
Phán quyết của trọng tài là chung thẩm có giá trị bắt buộc thi hành với các bên. Phán quyết
của trọng tài là quyết định của thiết chế giải quyết phi chính phủ nên cơ chế thi hành phán
quyết của trọng tài phải được đảm bảo, định chặt chẽ.
Điều 66 Luật TTTM 2010 đã quy định quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài theo đó:
“Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện
thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật
3
này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài”.
Thứ bảy, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Theo Luật TTTM 2010, Tòa án hỗ trợ TTTM các hoạt động như: hỗ trợ trọng tài vụ việc
trong việc thành lập Hội đồng trọng tài (Điều 41 Luật TTTM 2010); hỗ trợ trọng tài vụ việc
quyết định thay đổi Trọng tài viên (Khoản 4 Điều 42 Luật TTTM 2010); xem xét thỏa thuận
trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thực hiện được, thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của Hội đồng trọng tài thương mại (Điều 43 Luật TTTM 2010); quyết định áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 48 Luật TTTM 2010); có thể quyết định hủy bỏ hay không
hủy quyết định trọng tài (Điều 68 Luật TTTM 2010).
II. Hạn chế của pháp luật trọng tài thương mại
1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
Với quy định của Luật trọng tài, phạm vi thẩm quyền của trọng tài đã được mở rộng. Bất kỳ
tổ chức, cá nhân nào đều có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp miễn là
lĩnh vực đó phát sinh theo quy định của luật. Tuy nhiên, với quy định mở như vậy thì có cần
hướng dẫn chi tiết các loại tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại không?
Căn cứ theo Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 thì trọng tài thương mại được giải quyết
các loại việc sau: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát

trong việc áp dụng pháp luật để xác định trường hợp nào là thỏa thuận trọng tài không thực
hiện được để họ cân nhắc trước khi xây dựng thỏa thuận trọng tài.
Thứ ba, bất cập khi áp dụng pháp luật tại thời điểm ký thỏa thuận trọng tài.
Khoản 3 Điều 81 LTTTM quy định: “các thỏa thuận trọng tài được ký kết trước ngày luật này
có hiệu lực được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm ký thỏa thuận trọng tài”.
5
Nếu áp dụng quy định này sẽ có nhiều trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thục hiện
được. Ví dụ như một thỏa thuận trọng tài không nêu rõ tên tổ chức trọng tài giải quyết tranh
chấp được ký kết năm 2010 nhưng đến năm 2011 mới phát sinh tranh chấp, nếu áp dụng
PLTTTM (có hiệu lực tại thời điểm ký thỏa thuận trọng tài” thỏa thuận này vô hiệu theo
khoản 4 Điều 10, nhưng nếu áp dụng LTTTM (có hiệu lực sau thời diểm ký thỏa thuận), thỏa
thuận có giá trị pháp lý.
Mặt khác lĩnh vực thuộc thẩm quyền của trọng tài theo Luật đã được mở rộng nhiều so với
PLTTTM, như vậy sẽ có trường hợp áp dụng PLTTTM thỏa thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu vì
tranh chấp phát sinh không thuộc thẩm quyền của trọng tài, nhưng nếu áp dụng LTTTM thỏa
thuận đó vẫn có giá trị pháp lý.
Nếu áp dụng pháp luật có hiệu lực tại thời điểm ký thỏa thuận trọng tài sẽ dẫn đến nhiều thỏa
thuận trọng tài bị vô hiệu trong khi thỏa thuận này hoàn toàn phù hợp với pháp luật mới.
3. Luật TTTM chưa có quy định về trách nhiệm của trọng tài viên
Bởi trọng tài có cùng chức năng xét xử như thẩm phán do đó trọng tài cũng được hưởng
quyền miễn trừ trách nhiệm đối với những gì mà họ phán xét. Tuy nhiên, quyền miễn trừ này
không tuyệt đối. Dưới một góc độ khác, trọng tài là người cung cấp dịch vụ pháp lý đặc biệt,
pháp luật đã quy định những tiêu chuẩn, nguyên tắc trong quá trình làm việc mà trọng tài phải
đảm bảo, cho nên trọng tài hoàn toàn có thể phải chịu trách nhiệm kỷ luật nghề nghiệp, trách
nhiệm dân sự thậm chí trách nhiệm hình sự trong quá trình hành nghề không tuân thủ đúng
quy định của pháp luật, gây thiệt hại.
Luật luật sư 2006, Luật Công chứng 2006 có quy định về trách nhiệm hành nghề của lậu sư
cũng như công chứng viên (khoản 5 Điều 5 Luật Luật sư; khoản 3 Điều 3 Luật Công chứng)
nhưng trách nhiệm của trọng tài viên lại không được đề cập. Hiện nay khi chưa có quy định
nào về trách nhiệm của hợp đồng nên việc xem xét trách nhiệm của trọng tài có thể theo

Điều 133 Hiến pháp 1992 nước CHXHCNVN quy định: “TANDTC là cơ quan xét xử cao
nhất của nước CHXHCNVN. TANDTC giám đốc việc xét xử của các tòa án nhân dân địa
phương và các tòa án quân sự…”. Như vậy việc không cho phép giám đốc thẩm đối với các
quyết định của tòa án về trọng tài cũng như các quyết định của trọng tài phải chăng đã không
tuân thủ Hiến pháp? Điều này làm cho sai sót của tòa nếu không được khắc phục sẽ gây thiệt
hại cho các bên đương sự, đồng thời có thể tạo ra tình trạng áp dụng không thống nhất pháp
luật giữa các địa phương trên cả nước.
Để đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được đúng đắn LTTTM có quy
định về hủy phán quyết trọng tài, song việc đảm bảo giá trị cho phán quyết trọng tài cũng cần
toàn diện ở chỗ, nếu có thủ tục hủy quyết định trọng tài của tòa án, cũng cần có thủ tục để
xem xét quyết định về phán quyết trọng tài đó có đúng hay không.
6. Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Thứ nhất, cơ chế để tòa án thực hiện hoạt động thay đổi trọng tài viên đối với trọng tài vụ
việc chưa được xác định rõ trong luật TTTM. Tòa án có chức năng xét xử, do đó ban đầu
không thể biết rõ về các trọng tài viên để lựa chọn. Vì vậy, tòa án cần nhận được sự giúp đỡ
của các Trung tâm Trọng tài, Hội luật gia hoặc Hiệp hội ngành nghề ở trung ương để các tổ
chức này giới thiệu người có thể được chỉ định làm Trọng tài viên.
Thứ hai, theo Điều 44 Luật TTTM thì nếu các bên không đồng ý với quyết định của Hội đồng
trọng tài về vấn đề thẩm quyền thì có quyền khiếu nại ra Tòa án. Quyết định của Tòa án là
quyết định cuối cùng. Quy định như vậy, sự tham gia của Tòa án có thể gây ảnh hưởng đến
quá trình ra phán quyết trọng tài.
Thứ ba, vấn đề Tòa án hỗ trợ trong việc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc phát sinh một số
khó khăn như: Tòa án trước khi thực hiện đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc còn phải xem
xét xem các bên có ký hợp đồng với nhau hay không, có thỏa thuận trọng tài hay không, năng
lực pháp luật và năng lực hành vi của những người ký kết hay không, việc xử có thật hay
không… Như vậy là tăng gánh nặng cho Tòa án. Hơn nữa, Tòa án hiện chưa có bộ phận riêng
8
để thực hiện việc đăng ký, hỗ trợ này. Tòa án có cần phải có bộ phận riêng này hay không và
thực hiện đăng ký như thế nào, thì vẫn phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ tư, Tòa án hỗ trợ trong việc hủy phán quyết trọng tài

quyền trọng tài theo hướng loại trừ, mở rộng thẩm quyền của trọng tài ra cả những tranh chấp
dân sự, trừ một số tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân, quan hệ hôn nhân, gia đình và
thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự. Đề xuất trên là phù hợp với pháp luật trọng tài
của nhiều nước trên thế giới.
2. Thỏa thuận trọng tài thương mại
-Văn bản hướng dẫn luật nên bổ sung và làm rõ khái niệm thế nào là “thỏa thuận trọng tài
không thực hiện được” để các bên tranh chấp cũng như trọng tài viên dễ dàng áp dụng và đối
chiếu giải quyết tranh chấp. Ví dụ như trường hợp các bên thỏa thuận trung tâm trọng tài cụ
thể nhưng lĩnh vực tranh chấp đó không thuộc phạm vi giải quyết trong quy chế của trung
tâm trọng tài được chỉ định từ chối áp dụng giải quyết; các bên chọn cách thức giải quyết
bằng cả trọng tài lần tòa án hoặc chỉ rõ nhiều trung tâm trọng tài và cách thức giải quyết trọng
tài trong cùng một thỏa thuận trọng tài
-Việc áp dụng pháp luật có hiệu lực tại thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài trong một số
trường hợp trở nên không hợp lý, nghị định hướng dẫn cần quy định có sự vận dụng pháp luật
linh hoạt, mềm dẻo trong những trường hợp như vậy để không bị lãng phí những thỏa thuận
trọng tài đã được thành lập.
3. Trách nhiệm trọng tài viên
10
Cần phải có quy định về trách nhiệm của trọng tài viên khi hành nghề một cách hợp lý để
nâng cao tinh thần trách nhiệm của trọng tài viên. Trọng tài viên phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về phán quyết của mình.
4. Hình thức trọng tài thương mại
Cần quy định về thời gian thành lập Hội đồng Trọng tài vụ việc trong trường hợp có khiếu
nại quyết định chỉ định trọng tài viên cho bị đơn. Quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng
về tính hợp pháp, liên tục của tố tụng trọng tài, bởi lẽ, nếu hai thành viên không thể tự mình
bầu được Chủ tịch Hội đồng Trọng tài thì các bên phải đề nghị Tòa án có thẩm quyền chỉ
định Chủ tịch Hội đồng Trọng tài theo quy định tại Khoản 3 Điều 41 LTTTM chứ không thể
kéo dài tố tụng. Luật TTTM cần quy định: “Trong trường hợp có khiếu nại quyết định chỉ
định trọng tài viên cho các bên, thì trong vòng 15 ngày kể từ ngày Tòa án có văn bản giải
quyết khiếu nại, hai trọng tài viên phải bầu Chủ tịch Hội đồng Trọng tài để giải quyết vụ

định về nội dung tranh chấp. Nếu Hội đồng trọng tài giải quyết như là một vấn đề mở đầu là
ủy ban có thẩm quyền xét xử, thì bất kỳ bên nào cũng có thể, trong vòng 30 ngày sau khi
nhận được thông báo về quyết định này, đề nghị Tòa án được xác định tại điều 6 quyết định
vấn đề này, quyết định này không bị kháng án”. Luật trọng tài thương mại nên thay đổi theo
hướng này của luật Mẫu.
7. Cần xác định địa phương nào được thành lập trung tâm trọng tài và quy định rõ
số lượng trung tâm trọng tài tại mỗi địa phương
Trong thời gian qua dù việc phát triển các trung tâm trọng tài ở nước ta là chưa nhiều, song
để quản lý tốt hoạt động trọng tài, trong thời gian tới cần có quy định cụ thể và chặt chẽ hơn
về việc thành lập các trung tâm trọng tài. Việc xác định số lượng các trung tâm trọng tài ở các
địa phương vừa là trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng tài, vừa thể hiện thái
độ của Nhà nước trong việc khuyến khích hoạt động trọng tài. Trong thời gian đầu, cần quy
12
định về giám sát chặt về số lượng các trung tâm trọng tài mới thành lập; sau này khi trọng tài
ở giai đoạn phát triển, việc thành lập các trung tâm trọng tài sẽ chịu sự điều tiết của cơ chế thị
trường. Thành lập các trung tâm trọng tài dựa vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội của từng
khu vực có thể căn cứ trên các yếu tố như trình độ phát triển, số lượng dân cư, số lượng
doanh nghiệp… Mặt khác, số lượng hợp lý các trung tâm trọng tài ở một khu vực sẽ tạo điều
kiện cho các bên trong tranh chấp có sự lựa chọn trọng tài hợp lý, đồng thời đảm bảo cung
cấp đủ số lượng các trọng tài viên có chất lượng.
8. Cần hướng dẫn nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình trọng
tài
Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên
lựa chọn. Việc lựa chọn pháp luật nước ngoài và áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Vậy cần hiểu các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt nam như thế nào?
Do đó cần có sự tổng kết từ công tác xét xử thực tiễn của Tòa án để giải thích cụ thể về các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam để việc áp dụng nguyên tắc này được thuận tiện.
9. Cho phép áp dụng án lệ trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Việc áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại nói riêng và tranh chấp

được rút khỏi côn gước. Các quốc gia thành viên dù không phải là bên tranh chấp vẫn phải
tiến hành công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài ICSID.
KẾT LUẬN
Pháp luật trọng tài thương mại hiện hành, mà văn bản có tính chất nền là LTTTM 2010, về
cơ bản đã khắc phục được nhiều yếu kém, hạn chế của các quy định trước đây, làm cho pháp
luật về trọng tài thương mại ở nước ta trở nên hoàn thiện hơn, không chỉ phù hợp với thực
tiễn kinh tế - xã hội của Việt Nam mà còn phù hợp với pháp luật quốc tế về trọng tài thương
mại. Luật trọng tài thương mại 2010 đã tiếp thu những điểm hợp lý và phổ biến trong lĩnh
14
vực giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài của một số nước và xu thế phát triển của
TTTM thế giới. Tuy vậy, quá trình thực hiện cho thấy quy định của pháp luật TTTM của
chúng ta đã bộc lộ những bất cập, dẫn đến quá trình thực hiện có những vướng mắc, chưa tạo
ra được cơ chế thật sự thông thoáng cho hoạt động TTTM. Thực tế này đòi hởi pháp luật
TTTM phải được tiếp tục hoàn thiện mới có thể đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Tập II, Nxb. CAND, Hà
Nội, 2006.
2. Luật trọng tài thương mại 2010.
3. Luật Thương mại 2005.
4. Trần Thanh Huyền, Một số vấn đề pháp lí cơ bản về thỏa thuận trọng tài theo Luật
trọng tài 2010, Luận văn tốt nghiệp, 2012.
5. Đỗ Phương Hiền, Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
theo quy định Luật trọng tài thương mại năm 2010, Khóa luận tốt nghiệp, 2012.
6. Lê Thị Vân Anh, Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo quy
định của Luật trọng tài thương mại năm 2010.
7. Lê Thị Nhàn, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
của trọng tài thương mại, Luận văn thạc sĩ Luật học.
8. Nguyễn Minh Châu, Tìm hiểu pháp luật về tọng tài thương mại Việt Nam, Khóa luận
tốt nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status