ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN THỊ QUỲNH TRANG
“Quy chế pháp lý về trọng tài viên ở Việt Nam”
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số : 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am Hiểu
Hà nội – 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong
luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chƣa từng đƣợc công bố
trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
4
Việt Nam 65
3.1.1 Yêu cầu xây dựng Quy chế pháp lý 65
3.1.2 Định hƣớng hoàn thiện Quy chế pháp lý 66
3.1.3 Quan điểm hoàn thiện Quy chế pháp lý 67
3.2 Giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên tại Việt Nam 69
3.2.1 Các giải pháp pháp lý 69
3.2.2 Các giải pháp bổ trợ khác 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
6
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
STT
Tên
Trang
Hình 1.1
Trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
20
Bảng 1.2
So sánh tiêu chuẩn trọng tài viên giữa trọng tài kinh tế Nhà
nƣớc theo Nghị định 75/CP và trọng tài thƣơng mại theo
Luật Trọng tài thƣơng mại
23
Bảng 2.1
Số lƣợng vụ việc tranh chấp do VIAC giải quyết từ năm
1993-2012
44
Hình 2.2
biết sẽ sử dụng trọng tài thƣơng mại. Có rất nhiều lý do dẫn đến việc trọng tài ít đƣợc
áp dụng trong các vụ tranh chấp thƣơng mại, trong đó có nhiều ngƣời chƣa tin tƣởng
phƣơng thức này (68,6%), và có rất nhiều ngƣời chƣa biết đến phƣơng thức giải quyết
tranh chấp thƣơng mại thông qua trọng tài (74,3%). Những con số khiếm tốn đó cho
thấy hoạt động tố tụng trọng tài tại Việt Nam chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế, lực
8
lƣợng trọng tài viên còn nhiều hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật về trọng tài
nói chung và quản lý trọng tài viên nói riêng chƣa đảm bảo đƣợc niềm tin cho các
đƣơng sự trong các tranh chấp có nhu cầu giải quyết.
Hoàn thiện Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên trong tổng thể định hƣớng
hoàn thiện pháp luật trọng tài là một yêu cầu cấp bách tạo nền móng vững chắc giải
quyết vấn đề bức xúc hiện nay để nâng cao hiệu quả trong giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài trong thời gian tới. Với các lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Quy chế
pháp lý đối với trọng tài viên tại Việt Nam” cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Tuy có tầm quan trọng trong đời sống cũng nhƣ trong hoạt động kinh tế, song
pháp luật về giải quyết tranh chấp trọng tài nói chung và đối với trọng tài viên nói riêng
ở nƣớc ta mới chỉ đƣợc quan tâm đúng mức và bắt đầu có một số nghiên cứu quy mô
trong thời gian 10 năm trở lại đây. Có thể nhắc tới nhiều công trình nghiên cứu có giá
trị nhƣ:
- TS. Đỗ Văn Đại và TS. Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về Trọng tài
thƣơng mại, 2011, NXB Chính trị Quốc gia;
- Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn
lọc, website VIAC;
- Hội Luật gia Việt Nam, Giới thiệu tóm tắt Luật Trọng tài của một số nƣớc trên
thế giới, 30/04/2009
- GS-TSKH Đào Trí Úc, Những vấn đề cơ bản của Luật Trọng tài thƣơng mại
- Hội đồng Phối hợp Phổ biến Giáo dục Pháp luật Trung ương, Đặc san Tuyên
truyền pháp luật số 07/2013 – Chủ đề: Trọng tài thƣơng mại và pháp luật về trọng tài
10
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những khía cạnh
pháp lý của một số quy định của pháp luật trọng tài, các quy định liên quan tới trọng tài
viên. Nghiên cứu còn sử dụng thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở Việt
Nam cũng nhƣ pháp luật trọng tài của một số quốc gia phát triển nhằm đánh giá về quy
định pháp luật liên quan tới việc xây dựng Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên và
đƣa ra những quan điểm hoàn thiện tại Việt Nam hiện nay.
3.4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn đƣợc hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phƣơng pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và quan điểm của Đảng cộng
sản Việt Nam. Luận văn cũng sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu luật học truyền
thống nhƣ phƣơng phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp, pháp so sánh,
phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp lịch sử, tƣ duy logic, phƣơng pháp quy nạp, diễn
giải… nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chƣơng:
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT
NAM
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TRỌNG
TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI
VIÊN TẠI VIỆT NAM
KẾT LUẬN
11
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về Trọng tài viên tại Việt Nam
quyết của trọng tài đƣợc coi là giải pháp có giá trị ràng buộc thực hiện rất lớn trong
thực tiễn. Sự thuyết phục của phán quyết đƣợc đƣa ra đƣợc thuyết phục bởi những
trọng tài viên có chuyên môn đƣợc các bên lựa chọn sẽ làm cho phán quyết đó đƣợc
thực thi trên thực tế, không nhờ vào quyền lực Nhà nƣớc.
Trong lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam, Trọng tài đã đƣợc biết đến nhƣ là một
bộ phận của các thiết chế giải quyết các tranh chấp thƣơng mại bởi sự hiện diện ở nƣớc
ta vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các toà án thƣơng mại và các quy tắc trọng tài trong
luật tố tụng dân sự. Chế định trọng tài du nhập vào hệ thống pháp luật nƣớc ta từ cuối
thế kỷ XIX [8]. Trong một tranh chấp đất đai năm 1897, Tòa thƣợng thẩm Sài Gòn xét
rằng “trọng tài được thừa nhận trong pháp luật An Nam”. Trong thời gian này, các bộ
luật dân sự rồi toà án thƣơng mại lần lƣợt ra đời và chế định trọng tài đã là một phần
trong pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bối cảnh xã hội đƣơng thời không thuận lợi
cho sự phát triển của mô hình trên nên về cơ bản, trọng tài không có tác động đáng kể
đến xã hội Việt Nam trong giai đoạn này. Vào những năm 50 của thế kỷ trƣớc, cùng
với chế độ hợp đồng kinh tế, các tổ chức trọng tài kinh tế đƣợc hình thành tuy mang
nét khác biệt cơ bản so với trọng tài thƣơng mại hiện đại. Bên cạnh đó, còn tồn tại
trọng tài phi chính phủ, đó là Hội đồng trọng tài ngoại thƣơng và Hội đồng trọng tài
hàng hải Việt Nam. Tuy nhiên, hai tổ chức trên chỉ thực sự hoạt động từ năm 1989 khi
quan hệ ngoại thƣơng bắt đầu phát triển. Sau đó chúng đƣợc sáp nhập thành Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam
theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/03/1993 của Thủ tƣớng Chính phủ. Bƣớc vào
13
thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật nƣớc ta có sự thay đổi. Lúc này tồn tại song song
hai hệ thống cùng có chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế là trung tâm trọng tài
kinh tế và Tòa án kinh tế. Ngoài ra, cần lƣu ý rằng tồn tại hai mô hình trọng tài phi
chính phủ khác nhau. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thƣơng
mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng riêng. Trong
khi đó, có năm trung tâm trọng tài đƣợc thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày
05/09/1994 với hoạt động thực tiễn rất hạn chế. Do đó, thành công của Nghị định số
đúng chức năng hiện đại của chúng. Cùng với quá trình đổi mới, hình thành và phát
triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, việc giải quyết các tranh chấp
kinh tế đã đƣợc quy định thuộc thẩm quyền của các Toà kinh tế và của các Trung tâm
trọng tài kinh tế. Từ năm 1998, hệ thống Trọng tài kinh tế đã giải thể. Việc giải quyết
các tranh chấp kinh tế từ đó đã đƣợc thực hiện bằng hai con đƣờng: Toà kinh tế thuộc
hệ thống Toà án nhân dân và các Trung tâm trọng tài kinh tế đƣợc thành lập theo Nghị
định số 116/CP ngày 05/09/1994. Để bảo đảm cho hoạt động của các Trung tâm Trọng
tài thƣơng mại thay cho hoạt động của các Trọng tài kinh tế, ngày 25 tháng 2 năm 2003
Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thƣơng mại, có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2003. Năm 2010, Luật Trọng tài thƣơng mại đƣợc
Quốc hội thông qua gồm 13 chƣơng, 82 điều có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 khắc phục
những khiếm khuyết của Pháp lệnh Trọng tài, đồng thời đƣa hoạt động xét xử trọng tài
gần hơn các chuẩn mực quốc tế, cụ thể là Luật mẫu về Trọng tài UNCITRAL.
Dƣới góc độ lý luận, Luật Mẫu về Trọng tài Thƣơng mại quốc tế do Uỷ ban
Liên Hợp Quốc về Luật thƣơng mại quốc tế (viết tắt tiếng Pháp là CNUDCI, tiếng Anh
là UNCITRAL) thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985 (sửa đổi năm 2006) đƣa ra khái
niệm Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một
tổ chức trọng tài thường trực.[15]
15
Theo Từ điển kinh tế thị trƣờng từ A đến Z thì Trọng tài là một cách giải quyết
bất đồng trong quan hệ công nghiệp mà không cần đưa ra pháp luật hay đình công.
[17]
Theo Hội đồng trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Trọng tài là cách thức giải quyết tranh
chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải
quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp
phải thi hành. [17]
Theo Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại năm 2003, Trọng tài là phương thức giải
quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và
tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh này quy định. Luật Trọng tài
Ngoài ra, do tố tụng trọng tài là dựa trên cơ sở tự nguyên giữa các bên nên phán quyết
trọng tài đảm bảo mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đƣơng sự.
Thứ ba, trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục.
Trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài do các bên tự do lựa chọn. Cách thức lựa
chọn trọng tài đảm bảo khách quan cho các đƣơng sự trong quá trình tố tụng. Tính liên
tục của hoạt động tố tụng đƣợc thể hiện ở quyền đƣợc chỉ định trọng tài cũng nhƣ chỉ
định vụ việc yêu cầu cần giải quyết của các đƣơng sự. Trình độ chuyên môn của trọng
tài viên đƣợc lựa chọn theo tính chất của vụ việc, phù hợp đối tƣợng tranh chấp, góp
phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp. Trọng tài
viên sẽ là bên thứ ba chủ trì giải quyết vụ việc từ khi thụ lý giải quyết tới khi kết thúc.
Thứ tư, trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh
hoạt và tiết kiệm thời gian.
Nguyên tắc tự thỏa thuận còn cho phép các bên đƣợc tự do lựa chọn thủ tục,
thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành giải quyết vụ việc theo hƣớng tiện lợi, nhanh
chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Tính chất mềm
dẻo còn đƣợc thể hiện ở việc các bên có quyền thỏa thuận hòa giải ở bất cứ giai đoạn
17
nào của quá trình tố tụng cũng nhƣ cho phép sự tham gia nếu cần thiết của các chuyên
gia trong quá trình tố tụng để đảm bảo yêu cầu chuyên môn. Ngoài ra, thời gian giải
quyết một vụ việc tranh chấp cũng sẽ ngắn hơn rất nhiều bởi những giảm thiểu các thủ
tục tố tụng và tính chất chung thẩm của phán quyết trọng tài.
Có thể khẳng định tố tụng trọng tài là một phƣơng thức giải quyết tranh chấp
hiện đại, và đang trở thành một xu hƣớng giải quyết tranh chấp phổ biến đặc biệt đối
với các tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài do thừa hƣởng những ƣu điểm mà
các phƣơng thức tố tụng truyền thống không có đƣợc. Trong hoạt động giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài, trọng tài viên/hội đồng trọng tài là chủ thể đặc biệt quan trọng do
các bên chỉ định và sẽ đóng vai trò nhƣ một “thẩm phán” của vụ việc. Chủ thể này
ngoài việc có nền tảng chuyên môn pháp lý chắc mà phải có chuyên môn theo lĩnh vực
phù hợp với nội dung vụ việc và có kinh nghiệm trong hoạt động giải quyết tranh chấp.
chấm dứt tồn tại khi vụ việc đƣợc giải quyết. Trọng tài vụ việc không có trụ sở thƣờng
trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng, cũng
không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình mà xây dựng quy tắc tố tụng theo thỏa
thuận của các đƣơng sự. Trong khi đó, trọng tài thƣờng trực đƣợc tổ chức dƣới dạng
các trung tâm trọng tài, hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài. Ở Việt Nam, mô hình
này đƣợc quy định là Trung tâm trọng tài, là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp
nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định.
Để có thể hành nghề trọng tài, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chuyên môn,
Trọng tài viên có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng trọng tài và quy tắc đạo
đức nghề nghiệp.
Một là, trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó
không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
19
Là nguyên tắc tối quan trọng của tố tụng trọng tài, sự tự thỏa thuận là nền tảng
của các quy định pháp luật liên quan tới trọng tài. Thực tế, việc trao cho trọng tài viên
nghĩa vụ tôn trọng thỏa thuận của các đƣơng sự chính là một ƣu điểm cũng là lợi thế
của phƣơng thức tố tụng này so với các phƣơng thức khác. Ở đây, trọng tài viên chỉ
đóng vai trò của một bên thứ ba đƣợc “trả tiền” để độc lập giải quyết tranh chấp giữa
các đƣơng sự, nên việc tôn trọng nguyên tắc tự thỏa thuận giữa các đƣơng sự là tất yếu.
Thông qua thỏa thuận trọng tài, các bên đƣơng sự có thể thỏa thuận nhiều nội dung liên
quan tới quá trình giải quyết tranh chấp mà trọng tài viên có nghĩa vụ tôn trọng nhƣ:
quyền lựa chọn trung tâm trọng tài giải quyết tranh chấp, hình thức trọng tài giải quyết,
quyền ấn định trọng tài viên, quyền ấn định cơ cấu trọng tài viên giải quyết, quyền thỏa
thuận địa điểm giải quyết tranh chấp, quyền thỏa thuận thời hạn thực hiện các thủ tục
cần thiết cho việc giải quyết, quyền thỏa thuận thời gian mở phiên họp giải quyết tranh
chấp.
Việc tôn trọng ý chí của các bên không có nghĩa là trọng tài viên trở nên phụ
thuộc và thiên vị bất cứ bên nào. Các trình tự tối thiểu và nguyên tắc pháp luật có liên
quan chính là ràng buộc tới trách nhiệm của trọng tài viên trong quá trình giải quyết.
lớn hơn do nguyên tắc phán quyết chung thẩm. Bởi vậy, tiêu chuẩn hành nghề của
Trọng tài viên cũng đặt ra rất lớn, đòi hỏi những cá nhân có chuyên môn vững cả về lí
luận và thực tiễn mới có khả năng đảm đƣơng đƣợc trách nhiệm.
Do tính chất liên tục của quá trình tố tụng, trọng tài viên sẽ theo đuổi vụ việc từ
khi đƣợc các bên thống nhất lựa chọn để giải quyết tranh chấp tới khi phán quyết trọng
tài đƣợc ban hành (trừ trƣờng hợp có sự thay đổi theo thỏa thuận của các bên hoặc
phán quyết của tòa án). Trong suốt quy trình tố tụng đó, trọng tài viên đảm nhận nhiều
vai trò khác nhau, từ nghiên cứu hồ sơ vụ việc, thu thập chứng cứ và tài liệu phục vụ
21
quá trình giải quyết, xúc tiến gặp gỡ các bên, nhân chứng cũng nhƣ chủ tọa các phiên
họp giải quyết giữa đôi bên tới việc ra phán quyết và đảm bảo cho phán quyết đó đƣợc
thực thi. Cụ thể: Hình 1.1. Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài [11]
Đối với giai đoạn tiền tố tụng, trên cơ sở thẩm quyền giải quyết tranh chấp đƣợc
xác nhận phù hợp, trọng tài viên sẽ yêu cầu các bên cung cấp bằng chứng và bản tự bảo
vệ trong đó ghi nhận những lí lẽ của các bên trong vụ việc. Trong giai đoạn này, trọng
Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện
Bị đơn nộp bản tự bảo vệ
+ đơn kiện lại (nếu có)
Thành lập hội đồng trọng tài
Xem xét thẩm
quyền HĐTT
Xác minh tình
tiết, sự việc
Thƣơng lƣợng,
hòa giải
1.2 Đặc điểm pháp lý của Trọng tài viên tại Việt Nam
1.2.1 Điều kiện hành nghề Trọng tài tại Việt Nam
Về yêu cầu chuyên môn:
Thực tế có sự khác biệt về yêu cầu chuyên môn đối với trọng tài viên từ trƣớc
tới nay trong pháp luật Việt Nam. Thời điểm năm 1960, Thủ tƣớng Chính phủ ban
hành Nghị định số 20/TTg ngày 14/01/1960 về việc tổ chức ngành trọng tài kinh tế.
Theo đó, trọng tài kinh tế đƣợc tổ chức ở cấp Trung ƣơng, khu, thành phố, tỉnh và Bộ
với chức năng chủ yếu là xét xử các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Sau đó, năm 1975,
23
Chính phủ ban hành văn bản thay thế là Nghị định số 75/CP về điều lệ tổ chức và hoạt
động của trọng tài kinh tế Nhà nƣớc, theo đó, trọng tài kinh tế đƣợc thành lập nhƣ một
cơ quan nhà nƣớc có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế, trong đó có nội
dung về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế. Tại thời điểm đó, Trọng tài viên của
Trọng tài kinh tế Nhà nƣớc phải đáp ứng các tiêu chuẩn khác nhiều so với quy định
mới tại Điều 20 Luật Trọng tài thƣơng mại năm 2010. Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài
thƣơng mại năm 2003, Luật Trọng tài thƣơng mại vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối
thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nƣớc ta một đội ngũ trọng tài viên nòng
cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội. Khắc phục
những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại năm 2003, Luật Trọng tài thƣơng
mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa là
ngƣời nƣớc ngoài cũng có thể đƣợc chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các
bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực
tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cƣờng hội nhập kinh tế quốc tế.
Tiêu chuẩn Trọng tài kinh tế Nhà nƣớc
Tiêu chuẩn Trọng tài viên hiện nay
- Tốt nghiệp Đại học pháp lý trở lên đƣợc
bồi dƣỡng kiến thức quản lý kinh tế hoặc
tốt nghiệp đại học kinh tế trở lên đƣợc bồi
nhƣ một trọng tài viên trong Danh sách Trọng tài viên của PIAC cần phải đáp ứng các
yêu cầu về trình độ chuyên môn sau đây [28]: (1) Đã có 07 năm kinh nghiệm trong lĩnh
vực trọng tài hoặc; (2) Đã có 07 năm hành nghề luật sƣ chuyên nghiệp hoặc là nhà tƣ
vấn luật của doanh nghiệp, tổ chức hoặc; (3) Đã có 07 năm kinh nghiệm làm việc nhƣ
một thẩm phán hoặc; (4) Đã nghiên cứu luật hoặc tham gia vào công việc giảng dạy và
có danh tiếng hoặc; (5) Có hiểu biết pháp lý, làm việc trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật
hoặc thƣơng mại, và có trình độ chuyên môn cao cấp hoặc kinh nghiệm, uy tín nghề
nghiệp tƣơng đƣơng; hoặc; (6) Đã đƣợc công nhận là trọng tài viên của một tổ chức
trọng tài đƣợc công nhận trên thế giới hoặc là thành viên của một Viện trọng tài đƣợc
công nhận trên thế giới hoặc bất cứ viện trọng tài chuyên nghiệp tƣơng đƣơng nào.
25
Bên cạnh các tiêu chuẩn chuyên môn đặt ra đối với trọng tài viên, pháp luật
trọng tài thƣơng mại còn đề cập tới các trƣờng hợp loại trừ các chủ thể không đƣợc làm
Trọng tài viên mặc dù đáp ứng đƣợc các điều kiện chuyên môn đã nêu để đảm bảo tính
khách quan và độc lập của trọng tài viên trong quá trình giải quyết tranh chấp. Căn cứ
Khoản 2 Điều 20 Luật Trọng tài thƣơng mại năm 2010, các chủ thể hạn chế bao gồm:
- Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công
chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi
hành án;
- Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp
hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.
Việc loại trừ các đối tƣợng này phù hợp với nguyên tắc trọng tài viên độc lập,
khách quan, để đảm bảo ngƣời đảm nhận vị trí trọng tài viên không bị phụ thuộc vào
hệ thống tƣ pháp mà trở thành một vị trí khác.
Quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên
Dựa trên các nguyên tắc của tố tụng trọng tài mà trọng tài viên bắt buộc tuân
thủ, các nhóm quyền và nghĩa vụ tƣơng ứng đƣợc nêu khá rõ tại Điều 21 của Luật
Trọng tài thƣơng mại năm 2010:
Về quyền, trọng tài viên có quyền chấp nhận hoặc từ chối giải quyết tranh chấp,