1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây với sự bùng nổ của các thành tựu khoa học
và công nghệ, thế giới là một mái nhà chung, khoảng cách về sự phát triển
kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển của các chỉ số con người giữa các
quốc gia ngày càng tiến lại gần nhau hơn. Sự phát triển về khoa học và công
nghệ đã làm lên các cuộc cách mạng trong sản xuất nâng cao đời sống của
mọi người. Tuy nhiên khoa học và công nghệ phát triển cũng đòi hỏi mỗi con
người cần có những năng lực nhất định để vận hành và ứng dụng.
Đồng thời cũng trong giai đoạn này khi mà ranh giới của các quốc gia
ngày càng được thu hẹp thì sự tự do tín ngưỡng và nhân quyền ngày càng
được thực thi tốt. Con người được làm chủ bản thân, làm chủ xã hội trong
khuôn khổ của chính sách và pháp luật của mỗi quốc gia. Do vậy việc ai đó
theo một tôn giáo hay một tín ngưỡng nào đó là hoàn toàn tự do. Công giáo
(Catholica, với ý nghĩa là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộng, tại Việt
Nam còn được gọi là đạo Gia Tô, Thiên Chúa giáo hoặc Kitô giáo) đã du
nhập vào Việt Nam từ thiên niên kỷ trước [77]. Đặc biệt sự truyền bá các tư
tưởng của Công giáo đã gắn liền với sự khai hoang và thành lập huyện Kim
Sơn tỉnh Ninh Bình từ những năm 1800. Hiện nay Công giáo là một tín
ngưỡng không thể thiếu của một bộ phận lớn dân cư ở những địa phương này
và có những ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng, văn hoá, kinh tế và xã hội
trong đó có sự ảnh hưởng đến hình thể và sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao
ở tuổi dậy thì của học sinh bậc trung học cơ sở.
Trong hoàn cảnh đó, nước ta đã và đang phát triển rất tốt về mọi mặt
kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và cả vấn đề tín ngưỡng làm cho mọi công dân
đều được phát huy hết quyền làm chủ của mình. Chúng ta đang trên con
2
điều kiện xã hội đặc biệt là học sinh cấp Trung học cơ sở. Hiện nay đối tượng
nghiên cứu là học sinh đồng bào Công giáo chưa có công trình nào nghiên
cứu trên qua mô lớn được công bố. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài “Nghiên cứu một số chỉ số về hình thể và hoạt động thần kinh của học
sinh THCS vùng Công giáo huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”
2. Mục đích nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu đối tượng là học sinh cấp THCS lớp tuổi từ
12 đến 15, xác định được:
- Những thay đổi về các chỉ số hình thể và sinh lý hoạt động thần kinh cấp cao
của học sinh lớp tuổi dậy thì.
- Thực trạng lớp tuổi dậy thì của học sinh THCS vùng Công giáo.
- Mối tương quan giữa chỉ số IQ với các chỉ số nghiên cứu của các đối tượng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, tìm hiểu các tài liệu liên quan đến lớp tuổi dậy thì và sự phát triển
của các chỉ số sinh học THCS lớp tuổi 12 đến 15 tuổi.
- Nghiên cứu sự thay đổi các chỉ số hình thể bao gồm: chiều cao đứng, cân
nặng, các vòng đặc trưng (vòng ngực, vòng eo và vòng mông).
- Nghiên cứu sự thay đổi các chỉ số thần kinh cấp cao gồm: Chỉ số thông minh
(IQ), trí nhớ, độ tập trung chú ý, chỉ số cảm xúc (EQ) và chỉ số vượt khó
(AQ).
- Nghiên cứu độ tuổi dậy thì gồm: tuổi dậy thì của học sinh nam và học sinh
nữ.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 805 học sinh có độ tuổi từ 12 đến 15 tại 2
trường THCS Quang Thiện và THCS Hồi Ninh thuộc vùng Công giáo huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Trong số này có 204 học sinh khối 6 (độ tuổi 12);
4
200 học sinh khối 7 (độ tuổi 13); 200 học sinh khối 8 (độ tuổi 14); 201 học
sinh khối 9 (độ tuổi 15).
của con người được xem như một bộ phận quan trọng của sinh học cơ thể, nó
tồn tại và phát triển hết sức phong phú, thể hiện trên nhiều lĩnh vực như sự
tăng trưởng, phát triển, đặc trưng theo chủng tộc, giới tính [43].
Việc nghiên cứu về hình thể của con người từ xa xưa đã được nhiều
nhà khoa học quan tâm bởi nó có mối liên hệ chặt chẽ tới sức lao động và
thẩm mỹ của con người. [86]. Từ việc đo đạc các kích thước cơ thể con người
có thể rút ra các kết luận phục vụ thực tiễn hàng ngày như trong công tác điều
tra y tế , các ngành kinh tế quốc dân như: xây dựng các tiêu chuẩn kích thước
người để thiết kế các máy móc, các phương tiện sản xuất (nhà cửa, ô tô …),
các phương tiện sinh hoạt (gường, tủ, giày, dép…). Về mặt lý luận chúng cho
phép chúng ta phát hiện ra các quy luật về sự phát triển cơ thể con người, về
phân loại các dạng người và các nhóm chủng tộc loài người cũng như tìm
hiểu nguồn gốc loài người [82]. Vào đầu thế kỷ XX những nghiên cứu về thể
lực trở thành một môn khoa học thực sự với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác
của nó. Người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là Rudolf Martin qua
hai tác phẩm nổi tiếng: "Giáo trình về nhân trắc học" năm 1919 và "Kim chỉ
nam đo đạc và xử lý thống kê" năm 1924. Trong các công trình này ông đã đề
xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể cho
đến nay vẫn được sử dụng [42]. Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ
sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với thực tiễn của
mỗi nước [101]. Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình
6
nghiên cứu của P. N. Baskirov trong cuốn "Nhân trắc học" (1962) ông đã đưa
ra quy luật phát triển cơ thể người dưới ảnh hưởng điều kiện sống, Evan
Dervael trong cuốn "Nhân trắc học" (1964) đã đưa ra nhận xét toàn diện về
các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp, ngoài ra
còn có các công trình của Bunak, A.M. Uruxon.
Cũng trong khoảng thời gian này, đi sâu vào nghiên cứu sự tăng trưởng
về mặt hình thể của con người đó là nghiên cứu các đại lượng có thể đo lường
triển chiều cao, vòng ngực, vòng đầu trên 8000 người Việt Nam tuổi từ 1 - 55
tại ba miền Bắc, Trung, Nam. Các tác giả đã nhận xét rằng, chiều cao trung
bình của nam trưởng thành là 163cm và nữ là 158cm. Chiều cao tăng nhanh
đến tuổi 18 ở nam còn ở nữ đến tuổi 14. Vòng ngực trung bình của nam
trưởng thành là 78 - 80cm, vòng đầu là 55 - 56 cm, còn ở nữ tương ứng bằng
79cm và 54 - 55cm. Cũng trong thời gian này (1990) [60], [62] khi nghiên
cứu các tiêu chí nhân trắc học trên học sinh THCS Hà Nội cho rằng, chiều cao
phát triển mạnh nhất lúc 12 tuổi ở nữ và 13 đến 15 ở nam, còn cân nặng phát
triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam.
Từ năm 1991 - 1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [17] đã nghiên
cứu trên học sinh một số tỉnh thành là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình và nhận
thấy, so với dẫn liệu trong cuốn "Hằng số sinh học người Việt Nam" [89] thì
sự phát triển chiều cao của trẻ em 6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt trẻ em thành
phố, thị xã, còn ở khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể.
Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả A. Goran, Nguyễn Công
Khanh và cs (1996) [33] trên học sinh Hà Nội về chiều cao, cân nặng, cho
thấy, cả hai chỉ số này đều tăng theo tuổi. Điều này cũng thể hiện trong các
nghiên cứu khác [4], [29], [33], [45].
8
Trần Thị Loan [61], [62] từ năm 1999 - 2002 nghiên cứu trên học sinh
Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã nhận thấy, các chỉ số hình thái như chiều cao, cân
nặng, vòng ngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác từ thập kỷ 80 trở về trước và lớn hơn so với học sinh ở các tỉnh Thái
Bình, Hà Tây, ngoại thành Hải Phòng. Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã
ảnh hưởng đến các chỉ số hình thể của học sinh.
Năm 2006, trung tâm Tâm lý học và sinh lý lứa tuổi thuộc Viện Chiến
lược và Chương trình giáo dục [92] đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số cơ bản
về sinh lý và tâm lý của học sinh phổ thông lứa tuổi từ 8 - 20. Kết quả nghiên
cứu chiều cao đứng ở học sinh nam và nữ ở mọi lứa tuổi 11 - 15 và ở nữ mọi
các chỉ số hình thể của cá thể [65]. Ngoài ra, sự rèn luyện thể lực cũng tác
động đến chiều cao, cân nặng và kích thước một số vòng của cơ thể [72]. Các
yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là ở tuổi
dậy thì [91]. Năm 2008, Đỗ Hồng Cường [16] nghiên cứu các chỉ số chiều
cao cân nặng của các học sinh THCS ở tỉnh Hoà Bình thuộc các dân tộc
Mường, Thái, Kinh, Tày, Dao và nhận thấy, các chỉ số này ở học sinh Mường,
Thái, Kinh cao hơn rõ so với học sinh Tày, Dao. Tác giả cho rằng, điều này
liên quan tới nơi cư trú của các em. Học sinh các dân tộc Mường, Thái, Kinh
sống ở vùng đồng bằng, thành phố và thị trấn, còn đa số học sinh các dân tộc
Tày, Dao sống ở các vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đà Bắc, nơi có các điều
kiện kinh tế - xã hội kém phát triển hơn so với thành phố và đồng bằng.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thể của học
sinh Việt Nam khá phong phú. Các kết quả nghiên cứu này tuy có ít nhiều
khác nhau song đều xác định được những sự thay đổi của các chỉ số này theo
lứa tuổi và mang đặc điểm giới tính. Các chỉ số về hình thể có sự khác nhau
10
giữa nam và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, giữa các địa điểm và
phạm vi nghiên cứu khác nhau, giữa các nhóm dân tộc khác nhau.
1.1.3. Khái quát về tuổi dậy thì
Tuổi dậy thì là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con
người. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn và được
đặc trưng bởi sự thay đổi mạnh mẽ về cả thể chất, chức năng, tinh thần, hành
vi và tình cảm. Tuổi dậy thì là giai đoạn phát triển cơ thể từ 10- 15 tuổi đối
với nữ và từ 12- 17 tuổi đối với nam. Đây là giai đoạn các em có nhiều biến
đổi về thể chất, sinh lý, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện về các chức
năng sinh dục dưới tác động của môi trường sống (tự nhiên và xã hội), chuẩn
bị hành trang hoà nhập vào cộng đồng, thực hiện nghĩa vụ đầy đủ của người
công dân.
Tuổi dậy thì của nam, nữ chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố khác
phát triển cơ thể các em lại tương tự như giai đoạn lớn đều. Ở lứa tuổi này,
một số dấu hiệu của đặc điểm giới tính thứ cấp bắt đầu xuất hiện với một tỷ lệ
nhất định (như lông nách, lông mu, độ căng của tinh hoàn ở nam và vú ở
nữ, ).
Trong lĩnh vực phát triển thể chất, tâm lý và nhân cách, thì hoạt động
chủ đạo là học tập và giao tiếp nhóm, ham hiểu biết những vật mới lạ, tham
quan, giải trí, thể thao, Nhiều phẩm chất tâm lý và nhân cách mới xuất hiện
ở các em như lòng tự trọng, năng lực tự đánh giá, tự khẳng định mình và nhu
cầu tình bạn.
- Giai đoạn dậy thì chính thức và sau dậy thì. Mức độ phát triển của tuổi dậy
thì được đánh giá qua hàng loạt đặc điểm giới tính. Tuổi dậy thì chính thức
được xác định bằng tuổi thấy kinh lần đầu ở nữ và xuất tinh lần đầu ở nam.
Hiện nay ở Mỹ, độ tuổi dậy thì trung bình của các bé gái là 10,25 tuổi [105].
12
Nghiên cứu tiến hành năm 1997 cho thấy khoảng 1/2 trẻ da trắng và 15% trẻ
da đen bắt đầu phát triển giới tính khi lên 8 tuổi. Tuổi dậy thì trung bình cho
trẻ da trắng là 13 và trẻ da đen là 12. Trẻ gái thường bắt đầu phát triển ngực 1
năm trước khi có kinh [106]. Người Việt Nam, tuổi dậy thì chính thức trung
bình ở nữ là 13-14 tuổi và ở nam là 15-16 tuổi [38],[40] [69], [95].
Sau tuổi dậy thì, sự gia tăng về chiều cao giảm hơn trước. Các cơ quan
chức năng tiếp tục phát triển hoàn thiện với mức độ cao để chuẩn bị đạt tới độ
trưởng thành, ổn định.
Mức độ phát triển về thể chất, tâm lý và nhân cách trong tuổi dậy thì
chịu ảnh hưởng đa dạng của các nhân tố tự nhiên và xã hội trong môi trường
sống như thời tiết, khí hậu, địa hình, di truyền, văn hoá xã hội, vật chất, tinh
thần, sức khoẻ và bệnh tật, [74 ], [75], [78]. Vì vậy tuổi dậy thì ở các chủng
tộc, các vùng địa cực, các dân tộc khác nhau không giống nhau. Trên phạm vi
toàn thế giới, tuổi dậy thì hiện nay đến sớm hơn thế kỷ trước, trẻ em thành thị
dậy thì sớm hơn trẻ em nông thôn. Chiến tranh có thể làm chậm tuổi thấy kinh
rằng, giữa trí tuệ và kết quả học tập có mối liên hệ với nhau, nhưng không
đồng nhất. Những nghiên cứu trên sinh viên Đai học Kiev cho thấy, trong số
những sinh viên học yếu có cả những sinh viên có chỉ số cao về trí tuệ. Điều
này được giải thích do thiếu động cơ học tập [81].
Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng. Theo
A. Binet, trí tuệ là một chức năng chung đối với việc suy luận và giải quyết
các tình huống khác nhau [47]. L. Terman cho rằng, chức năng của trí tuệ là
sử dụng có hiệu quả các khái niệm [102]. M.N. Menchins Kaia lại coi đặc
trưng của trí tuệ là sự tích luỹ các tri thức và các thao tác trí tuệ [100].
Khuynh hướng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích ứng. Việc đánh giá trí
tuệ thông qua hoạt động thích nghi là phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu
14
tán thành. R. Stern coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người với
điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống [84]. Theo ông, trí tuệ là năng lực
suy luận và khả năng sáng tạo trên cơ sở kết hợp những kinh nghiệm khác
nhau để giải quyết vấn đề mới. D. Wechsler [103] lại cho rằng, trí tuệ là khả
năng tổng thể để hoạt động một cách có suy nghĩ, tư duy hợp lý, chế ngự
được môi trường xung quanh. Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết
vấn đề và nhanh chóng thích nghi với tình huống mới. H. Gadner [31] lại cho
rằng, trí tuệ bao gồm nhiều dạng năng lực thích ứng khác nhau. Trí tuệ là một
cấu trúc gồm 7 kiểu khác nhau, mỗi kiểu trí tuệ được phát triển đến một mức
độ nhất định trong mỗi người. Đó là các năng lực toán học - logic học, năng
lực ngôn ngữ, năng lực âm nhạc, năng lực định hướng trong không gian, năng
lực cảm giác - vận động cơ thể, năng lực liên nhân cách và năng lực nội tâm.
Năm 1978 dựa trên sự phân tích các mặt lý luận và phương pháp luận
của việc nghiên cứu trí tuệ B.M. Blay Khar và L.Ph. Burolackue đã đưa ra
một định nghĩa về trí tuệ được nhiều người thừa nhận: "Trí tuệ đó là một cấu
trúc động tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức, của nhân cách.
Được hình thành và thể hiện trong quá trình hoạt động do những điều kiện
MA
IQ
CA
, trong đó MA là tuổi trí tuệ, CA là tuổi đời
hay tuổi thực.
Giá trị IQ cho biết sự vượt lên trước hay chậm lại của trí khôn so với
tuổi đời. Ngay sau đó trắc nghiệm Stanfor - Binet trở thành công cụ chuẩn
trong tâm lý lâm sàng, tâm thần học và tư vấn giáo dục [47]. Đồng thời, trắc
nghiệm này còn được dùng làm kiểu mẫu để phát triển nhiều trắc nghiệm
khác như: trắc nghiệm phân tích nghiên cứu trí tuệ của R. Meili (1928), trắc
nghiệm khuôn hình tiếp diễn của J.C. Raven (1936), trắc nghiệm trí tuệ đa
dạng của R. Gille (1944), trắc nghiệm trí tuệ dùng cho trẻ 6 -12 tuổi WISC
16
(1949) và trắc nghiệm dùng cho người lớn WAIS của D. Wechsler … [47].
D. Wechsler đã không chấp nhận sự giải thích truyền thống về trình độ trí tuệ
IQ qua mối tương quan giữa chỉ số tuổi trí khôn và tuổi đời do Stern và Binet
đưa ra. Theo công thức trên, sẽ tồn tại tương quan tuyến tính giữa trí khôn và
tuổi đời. Trong khi đó, sự phát triển trí tuệ lại diễn ra một cách không đều
trong suốt đời người.
Hiện nay, trong các trắc nghiệm trí tuệ thì trắc nghiệm khuôn hình tiếp
diễn (Test Raven) được J.C. Raven [101] xây dựng vào năm 1936 là được sử
dụng phổ biến nhất. Đây là phương pháp trắc nghiệm phi ngôn ngữ dùng để
đo năng lực trí tuệ trên bình diện rộng. Những năng lực được trắc nghiệm là
năng lực hệ thống hoá, năng lực tư duy logic và năng lực vạch ra mối liên hệ
tồn tại giữa các sự vật hiện tượng. Ở một mức độ nào đó, trắc nghiệm này cho
phép san bằng ảnh hưởng của trình độ học vấn và kinh nghiệm sống của đối
tượng được nghiên cứu. Test Raven được xây dựng trên cơ sở thuyết tri giác
hình thể của nhà tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của Spearman [39].
Sau hai lần chuẩn hoá vào năm 1954 và năm 1956, test Raven đã được
Nội cao hơn của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Đại học Hồng Đức.
Theo tác giả, điều này có thể do chất lượng đầu vào của sinh viên Đại học Sư
phạm Hà Nội tốt nhất, đây cũng là nơi có môi trường học tập tốt hơn cả. Về
mối tương quan giữa trí tuệ và các chỉ số sinh học kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy, giữa trí tuệ và các chỉ số thể lực có mối tương quan thuận không
chặt chẽ. Giữa năng lực trí tuệ và khả năng chú ý có mối tương quan thuận
còn với thời gian phản xạ cảm giác - vận động có mối tương quan nghịch.
1.2.2. Khái quát những vấn đề về trí nhớ
Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm - sinh lý của
con người và là một thành phần quan trọng của trí tuệ. Trí nhớ của con người
18
là một hoạt động phức tạp, có bản chất là việc hình thành các đường liên hệ
thần kinh tạm thời, lưu giữ và tái hiện chúng [52].
Theo quan điểm của một số nhà tâm lý học, "trí nhớ là quá trình nhận
thức thế giới bằng cách ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện lại những gì cá nhân
thu nhận được trong hoạt động sống của mình" [105]. Trí nhớ là sự duy trì
được các thông tin khi tín hiệu đã ngừng tác dụng. Các thông tin này có thể
được sử dụng để tác động với các tín hiệu tiếp theo [69]
Có nhiều cách để phân loại trí nhớ nhưng có thể xếp trí nhớ thành hai
nhóm chính là trí nhớ bền vững (trí nhớ dài hạn) và trí nhớ thay đổi (trí nhớ
ngắn hạn). Hai loại trí nhớ này khác nhau về thời gian tồn tại và bản chất. Trí
nhớ ngắn hạn là sự lưu thông hưng phấn trong các vùng nơron, chỉ tồn tại
trong thời gian ngắn (mấy giây đến mấy phút) [69]. Trí nhớ dài hạn tồn tại
trên cơ sở sự hình thành các prôtêin hoạt hoá vùng synap, có thời gian tồn tại
lâu (hàng ngày, tuần, tháng, năm…)[53].
Có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế nhớ. Thuyết phản xạ của
Pavlov; Thuyết điều kiện hoá đại diện là Skiner và thuyết phân tử của M.C.
Conell và Thomson [63]. Các tác giả cho rằng, phản xạ có điều kiện là cơ sở
sinh lý của trí nhớ, việc hình thành phản xạ có điều kiện đã tạo nên các "vết
ánh chúng một cách đầy đủ, rõ ràng nhất" [8]. Vygotsky [58] cho rằng, chú ý
là hoạt động tâm lý phức tạp liên quan đến quá trình sinh lý thần kinh. Chú ý
liên quan tới hoạt động của hệ hướng tâm không chuyên biệt với những hình
thức khác nhau của phản xạ định hướng, với cơ chế ảnh hưởng của vỏ não
đến các phần khác của não [46].
Chú ý được chia thành hai loại là chú ý có chủ định và chú ý không chủ
định [5]. Hai loại chú ý này có nguồn gốc phát sinh khác nhau. Chú ý có chủ
20
định được thực hiện theo ý muốn một cách chủ động, hướng hành động theo ý
muốn của con người. Vì vậy, nó đòi hỏi con người phải tập trung vào một sự
vật, hiện tượng nào đó. Muốn chú ý có chủ định tốt phải luyện tập thường
xuyên. Chú ý không chủ định là hiện tượng tự nhiên, không theo ý muốn,
không có mục đích tự giác. Loại chú ý này vẫn luôn tồn tại do hệ thần kinh
hoạt động theo nguyên tắc ưu thế [5].
Cơ chế sinh lý của chú ý rất phức tạp và được giải thích dựa trên hai
học thuyết đó là: Học thuyết của Pavlov cho rằng, cơ chế của chú ý gắn liền
với hoạt động phản xạ của não bộ, cơ sở sinh lý cơ bản của chú ý là hiện
tượng "hưng phấn tối ưu trên vỏ não" [76]. Song song với học thuyết của
Pavlov, Ukhơ Tomxki khi nghiên cứu về cơ chế sinh lý của não bộ đã đưa ra
học thuyết về "trung tâm hưng phấn ưu thế" (điểm ưu thế). Theo ông điểm ưu
thế có khả năng thu hút hưng phấn từ các vùng khác nhau của não bộ để phát
triển và tồn tại. Học thuyết này đã lý giải sự tập trung chú ý lên một sự vật,
hiện tượng nào đó khi sự tác động của các sự vật, hiện tượng xung quanh
chưa đủ để đạt tới một cường độ nhất định sẽ không gây ra được chú ý [8].
Khi nghiên cứu về chú ý, nếu theo quy luật cảm ứng qua lại trong hoạt
động thần kinh cấp cao, khi có một ổ hưng phấn xuất hiện tại bất cứ một điểm
nào đó trên vỏ não, thì để tồn tại và phát triển, điểm hưng phấn này sẽ ức chế
hoạt động của các tế bào thần kinh bao xung quanh nó. Hiện tượng này gọi là
hiện tượng cảm ứng âm tính. Nhờ có cảm ứng âm tính mà hưng phấn không
Cảm xúc là các phản ứng thuộc chủ thể đối với môi trường, có kèm
theo các phản ứng hoormon và thần kinh thực vật, thường có biểu hiện khoan
khoái hay khó chịu và được coi là phản ứng thích nghi phản ánh cách suy
nghĩ của chúng ta (Papalia D.E, Olds S. W) [8]. Cảm xúc là điểm gặp nhau
của sinh lý học và tâm lý học, bao gồm hai khía cạnh là thể xác và tâm thần.
22
Khía cạnh tâm thần bao gồm sự tiếp nhận cảm giác, cảm nhận được cảm giác
đó và sự đáp ứng lại được cảm giác đó. Khía cạnh thể xác của cảm xúc bao
gồm những thay đổi chức năng của cơ thể như tăng nhịp tim, tăng huyết áp,
toát mồ hôi khi cảm nhận được một cảm giác nào đó. Cảm xúc được chia ra
nhiều loại như cảm xúc hưng cảm, cảm xúc trầm cảm hay cảm xúc thấp, cảm
xúc cao. Cảm xúc thấp phát sinh trên cơ sở các phản xạ không điều kiện, liên
quan với hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất và có tính chất sinh học
nhiều hơn so với cảm xúc cao. Cảm xúc cao xuất hiện trên cơ sở các phản xạ
có điều kiện và xây dựng trên cơ sở các cảm xúc thấp, cùng với sự tích luỹ
kinh nghiệm của cá thể trong cuộc sống [5]. Việc xác định trạng thái cảm xúc
của một cá nhân chúng ta thu được chỉ số cảm xúc (EQ).
Khi xem xét vấn đề ở cấp độ thần kinh, Tomkins (1962) đã khẳng định
rằng cảm xúc được tạo nên bởi số lượng các neuron bị kích thích trong cùng
một đơn vị thời gian. Những công trình đầu tiên của Darwin (1872, 1877) và
những công trình hiện đại hơn (Ekman et al, 1972, Izard, 1971) đã chứng
minh rằng, cảm xúc có nền tảng được đảm bảo bởi những chương trình thần
kinh bẩm sinh [7].
Đời sống cảm xúc của con người rất đa dạng và phức tạp, nó có cơ sở
sinh lý là do hệ thần kinh điều tiết, mà quan trọng nhất là hệ limbic với trung
tâm là vùng dưới đồi.
Theo Pavlov [49] thì cơ chế sinh lý thần kinh của cảm xúc được tóm tắt
như sau: Khi tri giác về một đối tượng nào đó trong những điều kiện nhất
định, thì qúa trình hưng phấn nảy sinh theo phương thức phản xạ không điều
xúc khác nhau. Như vậy, muốn có cảm xúc phải có cấu trúc thần kinh (hệ
limbic) và một loạt các chất môi giới thần kinh tham gia vào phản ứng [49].
24
Nghiên cứu về cảm xúc đã được tiến hành từ nhiều năm trước nhưng
diễn ra theo các hướng khác nhau. Có hướng nghiên cứu về năng lực cảm
xúc, có hướng nghiên cứu về trạng thái cảm xúc, có tác giả lại quan tâm đến
bản chất và cách biểu hiện cảm xúc. Ở Việt Nam, nghiên cứu về cảm xúc còn
là vấn đề mới mẻ, chưa có công trình nghiên cứu trên quy mô lớn.
1.2.5. Khái quát những vấn đề về khả năng vƣợt khó
Trong cuộc sống không chỉ lúc nào chúng ta cũng gặp may mắn để có
được những công việc nhẹ nhàng, những tình huống dễ vượt qua mà chúng ta
thường phải vượt qua nhiều trở ngại hơn là điều may mắn. Trong những hoàn
cảnh như vậy chỉ có những người có đủ khả năng vượt qua những trở ngại đó
mới đi đến được tới thành công. Vậy làm gì để chúng ta có thể đánh giá được
khả năng vượt khó của một cá nhân, lúc này chúng ta cần đến chỉ số vượt khó.
Chỉ số vượt khó AQ là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một
người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống.
Chỉ số AQ do nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz đưa ra và đặt nền móng
đầu tiên cho bộ môn khoa học này. Chỉ số AQ ra đời, đành dấu một bước
ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển tâm lý học cuối thế kỷ 20. Nó chứng
tỏ, việc lượng hoá những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thể làm
được, như đã từng làm với IQ và EQ .
Vào những năm 90, sau gần 2 thập kỷ nghiên cứu, tiến sĩ Paul G. Stoltz
đưa ra giả thuyết rằng, khả năng giải quyết khó khăn trong cuộc sống một
cách nhanh chóng và hiệu quả của một người sẽ là yếu tố quyết định lớn cho
sự thành công của người đó. Những người có AQ thấp được xếp vào những
người thù ghét khó khăn, tránh né thử thách đến những người lì lợm từ chối
bước ra khỏi vòng an toàn. Trong khi đó, những người có AQ cao lại sẵn sàng
đón nhận khó khăn, thậm chí còn tìm kiếm thử thách. Họ vững chãi và tập