TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI
SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
TẠI HUYỆN KIM SƠN – TỈNH NINH BÌNH”
Người thực hiện : ĐOÀN THỊ HẰNG
Lớp : LT3MT
Khóa : 3
Ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn : TS. NGÔ THẾ ÂN
CN. NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
Bộ môn : QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2012
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI
SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
TẠI HUYỆN KIM SƠN – TỈNH NINH BÌNH”
Người thực hiện : ĐOÀN THỊ HẰNG
Lớp : LT3MT
Khóa : 3
Ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn : TS. NGÔ THẾ ÂN
CN. NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
Bộ môn : QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2012
Quốc lộ 6
TP HCM 6
Thành phố Hồ Chí Minh 6
HN 6
Hà Nội 6
KH&CN 6
Khoa học và công nghệ 6
VSMT 6
Vệ sinh môi trường 6
CTRSH 6
Chất thải rắn sinh hoạt 6
VSV 6
Vi sinh vật 6
Phần I 6
MỞ ĐẦU 6
Phần II 9
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
Phần III 38
ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG 38
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.3.1.Thu thập tài liệu thứ cấp 39
2
3.3.2. Thu thập tài liệu sơ cấp 39
3.3.3.Phương pháp chuyên gia 40
3.3.4.Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 40
Phần IV 40
DỰ KIẾN KẾT QUẢ 40
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Tỉnh Ninh Bình [13] 40
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 41
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 43
nên đều sản xuất lúa gạo là chính. Nhưng ở Thượng Kiệm, mỗi ngày lại có thêm
3
một lượng rác thải khác ngoài những chất thải chung mà mỗi vùng sản xuất
nông nghiệp đều có. Họ đan lát các sản phẩm từ cói, bèo bồng nên lượng rác của
họ tăng thêm cũng chỉ là các phế phẩm từ cói và bèo bồng, chúng là những chất
thải hữu cơ 50
Khối lượng rác thải tại 2 địa điểm nghiên cứu trên so với các nơi khác như năm
2002 tại Hà Nội là 0,98kg/người/ngày, Đà Nẵng là 0,76 kg/người/ngày, cho đến
nay con số này đã tăng lên rất nhiều. Có thể nhận thấy lượng rác ở Kim Sơn
không lớn như các đô thị lớn ở Việt Nam 50
Tuy nhiên nếu không có biện pháp quản lý chặt chẽ thì tình trạng ô nhiễm môi
trường do người dân xả rác bừa bãi chỉ là việc một sớm một chiều 50
4.3.Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Bình Minh và xã Thượng
Kiệm của Huyện Kim Sơn 50
4.3.1. Cơ cấu và tổ chức quản lý rác thải tại Ninh Bình 50
4.3.2. Thực trạng quản lý 53
4.3.3. Thực trạng công tác thu gom (Tại Thượng Kiệm) [15] 53
4.4. Thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom, hộ gia đình đối với công tác
quản lý rác thải sinh hoạt 55
4.4.1. Thái độ của nhà quản lý 55
4.4.2. Thái độ của người thu gom 56
4.4.3. Thái độ của hộ gia đình 57
4.4.4. Công tác tuyên truyền, giáo dục người dân về vệ sinh môi trường 59
4.5. Những hạn chế trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Huyện
Kim Sơn – Tỉnh Ninh Bình 60
4.6. Dự báo lượng rác thải tại huyện Kim Sơn 62
4.7.Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn
Huyện Kim Sơn 64
4.7.1. Về cơ chế chính sách 64
4.7.2. Biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt 64
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển chung của Thế Giới, nền kinh tế của
Việt Nam cũng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có
nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên gia tăng dân số cùng với quá trình công
nghiệp hóa đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường, đặc biệt là vấn đề rác
thải.
Là một thành phố trẻ có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và
vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình
liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc. Có được
kết quả như vậy là do những năm gần đây Ninh Bình không ngừng đẩy mạnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa để phát triển kinh tế hơn nữa. Đóng góp vào sự
phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh những năm gần đây Kim Sơn cũng có
bước chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế. Đó là do Kim Sơn là huyện ven biển
thuần khiết đồng bằng, nên đã đầu tư phát triển kinh tế biển, tạo ra sự đang dạng
trong ngành nghề sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất. Tuy nhiên, bên cạnh
những lợi thế to lớn về mặt kinh tế, xã hội đó lại kéo theo nhu cầu tiêu dùng và
sử dụng sản phẩm tăng lên mạnh, làm lượng chất thải sinh họat phát sinh nhiều,
gây ô nhiễm môi trường tăng mạnh. Vì chưa có một biện pháp quản lý đúng
cách nên tình trạng người dân xả rác bừa bãi vẫn diễn ra phổ biến quá sức chịu
tải của môi trường. Tại một số tuyến sông cấp 1 đã bắt đầu có dấu hiệu bị nhiễm
bẩn. Rác thải không chỉ ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị mà còn ảnh hưởng tới
sức khỏe người dân, tại một số nơi trong huyện như tại thị trấn Bình Minh,
người dân đang tỏ ra rất bức xúc về vấn đề vệ sinh môi trường. Vì vậy làm thế
nào để có một biện pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt thật tốt là một đòi
hỏi tất yếu vào lúc này.
Xuất phát từ thực trạng trên,
7
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài : “ Đánh giá tình hình quản lý rác thải
Hoạt động quản lý CTR: bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu
tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận
chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những
tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.[6]
1.2.4. Xử lý chất thải
Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và
không làm ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội
nhằm phát huy hiệu quả kinh tế.
2.2. Nguồn phát sinh, phân loại và thành phần rác thải
2.2.1. Nguồn gốc rác thải
Chất thải rắn nói chung (rác thải) phát sinh từ các nguồn chủ
yếu: các hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư ); các trung tâm
thương mại (chợ, văn phòng, khách sạn, trạm xăng dầu, gara ); cơ quan (trường
học, bệnh viện, các cơ quan hành chính ), các công trường xây dựng, dịch vụ
9
công cộng (rửa đường, tu sửa cảnh quan, công viên, bãi biển ) .
Sơ đồ 2.1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn tại Việt Nam
(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, TP Huế, 08/2005)
2.2.2. Thành phần rác thải [5]
Khác với rác thải, phế thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt là một tập hợp
không đồng nhất. Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát
được các nguyên liệu ban đầu dùng cho thương mại và sinh hoạt. Sự không
đồng nhất này tạo nên một số đặc tính rất khác biệt trong các thành phần của rác
thải sinh hoạt.
Thành phần cơ học: Thành phần chất thải sinh hoạt có thể bao gồm:
- Các chất dễ phân hủy sinh học: Thực phẩm thừa, cuộng, lá rau, lá cây,
xác động vật chết, vỏ hoa quả…
- Các chất khó bị phân hủy sinh học: Gỗ, cành cây, cao su, túi nylon.
- Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: Kim loại, thủy tinh,
mảnh sành, gạch, ngói, vôi, vữa khô, đá, sỏi, cát, vỏ ốc hến…
Tạp chất khó phân hủy 30,21 23,9 15,27
Thành phần hóa học: Trong các chất hữu cơ của rác thải sinh hoạt, thành
phần hóa học của chúng chủ yếu là H,O,N,S và các chất tro.
Bảng 2.2: Thành phần của các cấu tử hữu cơ rác đô thị
Cấu tử hữu cơ Thành phần %
C H O N S Tro
Thực phẩm 48 6,4 37,6 2,6 0,4 5
Giấy 43,5 6 44 0,3 0,2 6
Carton 44 5,9 44,6 0,3 0,2 5
Chất dẻo 60 7,2 22,8 - - 10
Vải 55 6,6 31,2 1,6 0,15 -
Cao su 78 10 - 2,0 - 10
Da 60 8 11,6 10 0,4 10
Gỗ 49,5 6 42,7 0,2 0,1 1,5
11
2.2.3. Phân loại rác thải sinh hoạt [8]
Phân loại theo nguồn phát sinh
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân
cư, các trung tâm dịch vụ, công viên.
- Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp
và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu
là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ,
vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.
- Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng
trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch.
Phân loại theo mức độ nguy hại
- Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn,
nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. Các chất thải này
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích
hợp, cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì
bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh,
chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm
nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung
quanh.
2.3.2. Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
- Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý,
thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ
thiên… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng
đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm.
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người
dân chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương
rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản
lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
13
Hình 2.1. Rác thải tại QL32 - HN
Hình 2.2. Rác thải tại TP HCM
2.3.3. Tác hại của rác thải sinh hoạt tới môi trường
Ô nhiễm nước:
- Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước
làm lạnh tro xỉ, nước làm sạch khí của các lò thiêu làm ô nhiễm nước ngầm.
- Nước chảy tràn khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, nước làm
lạnh tro xỉ, nước làm lạnh qua các lò thiêu chảy vào các mương rãnh, hồ, ao,
sông, suối làm ô nhiễm nước mặt.
Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ,
các muối vô cơ hòa tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần.
Ô nhiễm không khí:
- Khí thoát ra từ các hố hoặc các chất làm phân, chất thải chôn lấp rác
chứa CH
thế giới: Băng Cốc (Thái Lan) : 1,6kg/người/ngày, Singapo 2kg/người/ngày;
Hồng Kông là 2,2kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65kg/người/ngày.
Tỷ lệ CTRSH trong dòng CTR đô thị rất khác nhau giữa các nước. Theo
ước tính, tỷ lệ chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002); chiếm 78% ở
Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nước ta. Theo
đánh giá của Ngân hàng Thế giới, nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35%
chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng CTR đô thị.[7]
+ Ở Anh : Số liệu thống kê tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm
Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6 triệu tấn chất
thải sinh học và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, trong đó 60% chôn lấp,
34% được tái chế và 6% được thiêu đốt. Chỉ tính riêng rác thải thực phẩm, theo
dự án khảo sát được thực hiện từ tháng 10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm từ
hộ gia đình nhiều hơn tới hàng tấn so với chất thải bao bì chiếm 19% chất thải
đô thị. Hàng năm hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm,
ở England là 5,5 triệu tấn, trong đó 4,1 triệu tấn là thực phẩm có thể sử dụng
được. Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải thực phẩm/năm hay
5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng được.[8]
+ Nhật Bản : Theo số liệu thống kê của Bộ TN & MT Nhật Bản, hàng
năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công
nghiệp (397 triệu tấn). Trong tổng số rác thải trên, có khoảng 5% rác thải phải
đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế. Số còn lại
15
được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác. Với rác thải sinh
hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp
phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón. [8]
+ Ở Singapore : mỗi ngày thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở Singapore
được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp ). Nhờ vậy
56% số rác thải ra mỗi ngày (9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế. Khoảng
41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro. Mỗi ngày
chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác không thể đốt được sẽ lên sà lan
Lượng
RTSH
(nghìn
tấn/
năm)
Tỷ lệ phát
sinh
RTSH
(kg/người/
ngày)
Trung Quốc 2000 1267,4 856 130320 1,70
1
78193
3
1,02
3
Hồng Kông 2003 6,8 23800 3440
4
1,39 2700
4
1,09
Ấn Độ 2002 1052,0 471 - 0,2-0,5
5
- -
Indonesia 1995 194,8 1038 - 0,76
6
- -
Hàn Quốc 2002 47,6 10013 18189
7
1,05 - -
Hữu cơ 21 17 18 – 29
Nhựa 16 12 11 – 21
Kim loại 6 6 4 – 8
Thủy tinh 3 6 2 – 6
Các loại khác 13 24 10 – 15
(Nguồn: tạp chí Waste Management Research. Volum 23 số 1, 2/2005)
(EPA: Environmetal Protection Ageney)
2.4.2. Quản lý, xử lý rác thải trên Thế Giới
Hiện nay vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới ngày càng
được quan tâm. Đặc biệt các nước phát triển, công việc này được tiến hành chặt
chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình phân loại tại nguồn, thu
gom, tập kết rác thải tới các trang thiết bị thu gom, vận chuyển theo từng loại.
Quy định đối với việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải được quy định chặt
chẽ, rõ ràng, đầy đủ trang thiết bị phù hợp hiện đại. Một khác biệt trong công tác
quản lý, xử lý rác thải các nước phát triển có sự tham gia của cộng đồng.
+ Tại Đức : Có thể nói, ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới
hiện nay. Việc phân loại rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991.
Rác bao bì gồm hộp đựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại
hay carton được gom vào thùng màu vàng, thùng xanh dương cho giấy, thùng
xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh. Những lò đốt rác hiện đại
của nước Đức hầu như không thải khí độc ra môi trường. Das Duele System
Deutschland (DSD) – “Hệ thống hai chiều của nước Đức” - được các nhà máy
tái chế sử dụng để xử lý các loại rác thải năm vừa rồi, các nhà máy này đã chi
khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụng công nghệ trên. Tại các dây chuyền phân
loại, các camera hồng ngoại hoạt động với tốc độ 300.000km/s để phân loại 10
tấn vật liệu mỗi giờ. Ống hơi nén được điều khiển bằng máy tính đặt ở các băng
chuyền có nhiệm vụ tách riêng từng loại vật liệu. Sau đó rác thải sẽ được rửa
sạch, nghiền nhỏ và nấu chảy. Quá trình trên sẽ cho ra granulat, granulat là một
nguyên liệu thay thế dầu thô trong công nghiệp hoặc làm chất phụ gia.
18
Đốt rác, chôn
lấp
Hệ thống tái chế chất thải
Các công ty sản
xuất và bán
Tái dùng
19
phố sẽ cho ô tô đến đem các túi rác đó đi. Nếu gia đình nào không phân loại rác,
để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau
gia đình đó sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền. Với các loại rác
cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng
đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở
hè phố. Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại rác cháy
được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho máy phát điện. Rác không
cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất. Cách xử lý rác
thải như vậy vừa tận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường. Túi
đựng rác là do các gia đình bỏ tiền mua ở cửa hàng. Việc thu gom rác ở Nhật
Bản không giống như ở Việt Nam. Rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm
quản lý của Nhà nước, còn từ các công ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc
các công ty do chính quyền địa phương chỉ định. Các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải công nghiệp của họ và điều này
được quy định bằng các điều luật về BVMT.[ 10]
+ Ở Trung Quốc: Mức phát sinh trung bình lượng CTR ở Trung Quốc là
0,4 kg/người/ngày, ở các thành phố mức phát sinh cao hơn là 0,9 kg/người/ngày,
so với Nhật Bản tương ứng là 1,1 kg/người/ngày và 2,1 kg/người/ngày. Tuy
nhiên, do mức sống tăng, mức phát sinh CTR trung bình vào năm 2030 sẽ vượt
1kg/người/ngày. Sự tăng tỷ lệ này do dân số đô thị tăng nhanh, dự báo sẽ tăng
gần gấp đôi, từ 456 triệu năm 2000 lên 883 triệu vào năm 2030. Điều này làm
cho tốc độ phát sinh CTR của Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng. Hiện nay,
trong lĩnh vực quản lý chất thải đã có nhiều cải tiến đáng kể. Chẳng hạn, hầu hết