LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Văn Toàn
Sinh viên lớp k33 khoa GDTC, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, chưa được bảo vệ trước
một Hội đồng khoa học nào. Toàn bộ những vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên
cứu đều mang tính thời sự, cấp thiết và đúng với thực tế khách quan của
trường THPT Nam Sách - Hải Dương. Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Sinh viên Nguyễn Văn Toàn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDTC : Giáo dục thể chất
TDTT : Thể dục thể thao
1.3 Đặc điểm kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước
mặt trong bóng chuyền 8
1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh THPT 10
1.5 Các giai đoạn dạy học và hoàn thiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay13
Chương 2: Nhiệm vụ phương pháp và tổ chức nghiên cứu 16
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3 Tổ chức nghiên cứu 19
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 20
3.1. Thực trạng công tác giảng dạy và huấn luyện đội tuyển bóng
chuyền nam trường THPT Nam Sách – Hải Dương 20
3.2. Cơ sở lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chuyền
bóng cao tay bằng hai tay trước mặt 24
Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận 40
4.2. Kiến nghị 41
Danh mục các tài liệu tham khảo 42
Phụ lục DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn giáo viên và huấn luyện viên về
các test đánh giá hiệu quả kỹ thuật chuyền bóng cao
tay bằng hai tay trước mặt cho đội tuyển bóng chuyền
nam trường THPT Nam Sách ( n = 20) 24
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn lựa chọn một số bài tập ứng dụng
trong giảng dạy - huấn luyện kỹ thuật chuyền bóng cao
trình độ cao trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều bộ
môn ”.
Giáo dục thể chất là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của
Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục thể
chất được hiểu là: Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ,
hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài
tuổi thọ của con người.
Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư
phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ
chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư
phạm. Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động
tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực. Trong hệ thống giáo dục
nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với trí dục, đức dục,
mỹ dục và giáo dục lao động.
Giáo dục thể chất thuộc lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) xã hội với
nhiệm vụ là: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát
triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, chức năng củng cố
sức khoẻ, hoàn thiện các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống”.
Tác dụng của giáo dục thể chất và các hình thức sử dụng TDTT có chủ
đích áp dụng trong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lý hoá
chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động,
học tập của học sinh trong suốt thời kỳ học tập trong nhà trường, cũng như
đảm bảo chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn phù hợp với
những điều kiện của nghề nghiệp trong tương lai.
Bóng chuyền là môn thể thao được nhiều giới, các lứa tuổi ưa chuộng
và tham gia tập luyện. Bóng chuyền cũng là môn thể thao Olimpic rất năng
động và mang tính tập thể. Luyện tập bóng chuyền thường xuyên giúp tăng
chiều cao và sức khoẻ, nhanh nhẹn đặc biệt là phản xạ tốt. Tuy nhiên môn thể
thao này ra đời muộn hơn các môn thể thao khác.
Năm 1957 sau một giải thi đấu tại Sofia bóng chuyền được công nhận
Mục đích nghiên cứu.
Trong thời gian nghiên cứu, đề tài tìm hiểu thực trạng việc dạy học,
huấn luyện môn bóng chuyền nói chung và kỹ thuật chuyền bóng cao tay nói
riêng cho đội tuyển bóng chuyền nam ở trường THPT Nam Sách – Hải
Dương và thấy rằng còn nhiều hạn chế trong lĩnh vực này. Từ đó, đề tài lựa
chọn và ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật chuyền
bóng cao tay bằng hai tay trước mặt cho đội tuyển bóng chuyền nam trường
THPT Nam Sách – Hải Dương.
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách
nhanh chóng. Xu thế toàn cầu hóa hiện đại hóa đòi hỏi Đất nước ta mở rộng
quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trong mọi lĩnh vực trong đó
có TDTT. Việc mở rộng quan hệ quốc tế trên lĩnh vực TDTT đang góp phần
thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Những thành tích cao
của VĐV trong các cuộc thi đấu quốc tế rất rộng có tác dụng góp phần nâng
cao lòng tự trọng dân tộc của nhân dân và nâng cao uy tín của nước ta với các
nước trên thế giới. Vì vậy, đào tạo đội ngũ VĐV cho dân tộc cho phong trào
TDTT, nâng cao thành tích các môn tương ứng với tầm vóc của đất nước, là
một điều kiện quan trọng để mở rộng các quan hệ TDTT quốc tế.
Ngay từ những ngày đầu khi cách mạng thành công, Bác Hồ của chúng
ta đã nêu rõ tầm quan trọng của TDTT, Bác nói: “…gìn giữ dân chủ, xây
dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành
công…”, coi đó là một trong những công tác cách mạng. Bản thân Người đã
nêu gương “tự tôi ngày nào cũng tập”, tập đa dạng, thích hợp với điều kiện
sống và công tác trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của
mình.
đoàn,…) rất đa dạng, phức tạp và biến hóa sinh động, đặc biệt trong thi đấu
đối kháng gay go của thể thao các cấp. Nếu được tổ chức tốt, TDTT không
những cần mà còn có thể giáo dục tốt tư tưởng, đạo đức và ý chí, long yêu
nước, yêu lao động, tinh thần tập thể, tính kỷ luật, công tâm, trung thực,
khiêm tốn, lịch sự, dũng cảm, quả quyết, tự tin…
Với thể thao trường học, thực tế những năm qua đã cho thấy số đông
học sinh trong hệ thống nhà trường phổ thông các cấp đã được hưởng thụ
những thành quả bước đầu xã hội hóa đối với nền TDTT nước nhà, GDTC và
TT trường học đã có những chuyển biến đáng khích lệ về nhiều mặt.
Dạy học và huấn luyện kỹ thuật cho các học sinh THPT là một bộ phận
của quá trình GDTC, gắn liền với công tác huấn luyện thể lực và các hình
thức chiến thuật trong tập luyện TDTT. Tùy vào điều kiện dạy học – huấn
luyện mà các nguyên tắc này được vận dụng một cách linh hoạt.
1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chuyền bóng cao tay
Bóng chuyền là môn thể thao hoạt động không có chu kỳ, nhiều tình
huống phức tạp luôn thay đổi, đòi hỏi vận động viên phải xử lý trong thời
gian ngắn, trong các hiệp đấu và ngay cả trong các lần bóng qua lại trên lưới,
vận động viên liên tục phải thực hiện và ứng phó với tình huống thay đổi đó.
Trong thi đấu vận động viên phải thực hiện nhiều kỹ thuật khác nhau,
nó phụ thuộc vào vị trí cụ thể của từng đấu thủ. Đấu thủ hàng trên luôn thực
hiện kỹ thuật đập bóng, chắn bóng bọc lót yểm hộ lẫn nhau và chuyền bóng
tấn công, các cầu thủ hàng sau phải phòng thủ, yểm hộ, phát bóng, chuyền
bóng và đập bóng tấn công hàng sau. Bên cạnh đó vận động viên phải thực
hiện ý đồ chiến thuật của toàn đội, cá nhân và chiến thuật không bóng.
Những hoạt động liên tục và diễn ra trong một thời gian dài như vậy
đòi hỏi vận động viên phải có tâm lý vững vàng, thể lực bền bỉ, kỹ chiến thuật
điêu luyện mới đáp ứng được yêu cầu và hiệu quả thi đấu trong thời gian dài.
Trong thi đấu vận động viên có thể sử dụng nhiều kỹ thuật chuyền
bóng khác nhau như: Chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt, chuyền
bóng bằng hai tay ra sau đầu… Dùng kỹ thuật nào để chuyền bóng trong thi
nhân phải có trình độ kỹ thuật cao, muốn vậy phải tạo được một nền móng thể
lực chuyên môn tốt để phục vụ cho việc phát triển các kỹ chiến thuật, tâm lỹ
và thành tích sau này.
1.2.3. Các yếu tố tâm lý
Môn thể thao bóng chuyền có ảnh hưởng nhất định đến việc phát triển
các mặt tâm lý của người tập như: Tri giác, sự quan sát, trí nhớ, sự tư duy, trí
tưởng tượng, cảm xúc và các phẩm chất đạo đức ý chí. Tâm lý thi đấu của vận
động viên bóng chuyền xuát hiện trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau
trong trận đấu, hiệp đấu, từng giai đoạn của điểm số khác nhau, có khi xuất
hiện tức thời vận động viên có thể điều chỉnh được, có khi xuất hiện trong
thời gian dài mà vận động viên chưa điều chỉnh được. Tâm lý có ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả chuyền bóng. Trạng thái tinh thần, đạo đức của một đội
bóng tập thể phụ thuộc trực tiếp vào tính chất, mối quan hệ lẫn nhau trong nội
bộ. Do vậy, tinh thần tập thể, mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn
nhau, sự đoàn kết nhất trí của từng thành viên trong tập thể là những điều kiện
cần thiết cho sự thành công.
1.3. Đặc điểm kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt
trong bóng chuyền.
Kỹ thuật là biện pháp thực hiện một tổ hợp các cử động nào đó, thông
qua những hoạt động cụ thể, có chủ định, nhằm hoàn thành nhiệm vụ vận
động với hiệu quả cao nhất.
Kỹ thuật chuyền bóng cao tay là kỹ thuật khi chuyền chủ yếu dùng các
ngón tay để đón và đẩy bóng đi ở tầm cao trên đầu, từ vị trí này sang vị trí
khác.
Kỹ thuật bóng chuyền được chia làm hai loại đó là kỹ thuật tấn công và
kỹ thuật phòng thủ:
- Kỹ thuật tấn công bao gồm các kỹ thuật: phát bóng, chuyền bóng,
đập bóng.
- Kỹ thuật phòng thủ bao gồm các kỹ thuật: đệm bóng, chắn bóng.
Trong quá trình tập luyện và thi đấu mỗi vận động viên cần phải biết
- Giai đoạn đẩy bóng đi: tính từ khi kết thúc hoãn xung tới khi thực
hiện động tác đẩy bóng đi.
Tính năng của đường bóng đi phụ thuộc vào ý định của người chuyền
và mức độ điêu luyện của động tác kỹ thuật.
Tư thế chuyền bóng cao tay đúng bao gồm một số yếu tố sau:
- Tư thế đứng: chân trước chân sau, trọng tâm dồn vào chân trước, gối
hơi khụy, hai tay co tự nhiên để ngang hông, mắt nhìn theo bóng.
- Tư thế hình tay khi tiếp xúc bóng: hai tay co tự nhiên ở khuỷu và đưa
lên cao, hai bàn tay ở phía trước mặt, các ngón trỏ và ngón cái tạo thành hình
tam giác, hai ngón cái gần như nằm trên một đường thẳng, hai bàn tay hợp
thành hình túi.
- Tư thế hình tay khi bóng tiếp xúc với tay: bóng tiếp xúc với toàn bộ
ngón tay cái, ngón tay trỏ và toàn bộ phần trai tay, với 2 đốt đầu của ngón tay
giữa, đốt thứ nhất và nửa đốt thứ hai của ngón áp út, với đốt đầu tiên của ngón
út.
- Khi bóng đến: hai tay đưa lên cao phía trước mặt, khi bóng cách chán
khoảng gần một cánh tay thì thực hiện động tác hoãn xung bằng cách đưa tay
theo bóng để hãm bóng lại, nhằm giảm tốc độ và lực của bóng khi tiếp xúc
tay. Lúc này tay đưa lùi dần về phía trước mặt sao cho không để bóng chạm
vào mặt, không để bóng 2 tiếng và không để bóng dính tay quá lâu và xuống
quá sâu (vì sẽ bị phạm lỗi), gối khuỵ, mắt nhìn theo bóng.
- Đẩy bóng đi bằng cách đạp mạnh chân và duỗi nhanh hết các khớp
(khớp cổ chân, khớp gối, khớp hông, khớp vai, khớp khuỷu tay, khớp cổ tay
và các ngón tay), vươn tay lên đẩy bóng đi đồng thời toàn thân phải phối hợp
nhịp nhàng.
- Khi bóng rời khỏi tay thì tay vẫn vươn theo bóng và thực hiện bước
chân sau lên phía trước để thăng bằng cơ thể.
1.4. Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
1.4.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT
1.4.1.1. Đặc điểm tâm lý chung
Hệ thần kinh tiếp tục được phát triển và đi đến hoàn thiện, kỹ năng tư
duy, phân tích tổng hợp và trừu tượng được phát triển tạo điều kiện cho việc
hình thành phản xạ có điều kiện. Do hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến
sinh dục, tuyến yên làm cho hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa
hưng phấn và ức chế không cân bằng làm ảnh hưởng đến hoạt động thể lực.
Do vậy, trong quá trình dạy học – huấn luyện người giáo viên, huấn luyện
viên cần sử dụng bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng của cơ
thể người tập để có biện pháp giải quyết kịp thời.
1.4.2.3. Hệ vận động ( hệ cơ xương )
Hệ cơ xương: Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển. Mỗi năm nữ
cao thêm được 0.5 – 1 cm, nam cao 1 – 3 cm, cột sống đã ổn định hình dáng
vì vậy có thể sử dụng một cách rộng rãi các bài tập với khối lượng tăng dần
để giúp vận động viên thích nghi một cách tử từ.
Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển mộn hơn xương nên cơ vẫn tương đối
yếu, các cơ lớn phát triển tương đối nhanh, cơ nhỏ phát triển chậm hơn, cơ co
phát triển nhanh hơn cơ duỗi, đặc biệt là các cơ duỗi của nữ lại càng yếu nên
ảnh hưởng tới sự phát triển sức mạnh. Vì vậy, khi tập luyện những bài tập
phát triển sức mạnh đối với nữ cần có những yêu cầu riêng biệt, tính chất
động tác của nữ cần toàn diện mang tính nhịp điệu mềm dẻo và khéo léo.
1.4.2.4. Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hhoàn đã phát triển và hoàn thiện, buồng tim phát triển tương
đối hoàn chỉnh, mạch đập của nữ từ 70-80 lần/phút, nam 75-85 lần/phút, phản
ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt nhưng sau vận động
mạch, huyết áp hồi phục nhanh chóng. Vì vậy, ở lứa tuổi này có thể tập những
bài tập có khối lượng và cường độ tương đối nhưng vẫn phải thận trọng và
thường xuyên kiểm tra theo dõi trạng thái sức khỏe của các vận động viên.
1.4.2.5. Hệ hô hấp
Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình
của nam 69-74cm, nữ 67-72cm. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng lúc
16 – 18 tuổi là 3 – 4 lít, tần số hô hấp vẫn còn yếu nên sức co dãn của lồng
hướng và biên độ.
+ Chú ý định hướng động tác xác định hướng không gian, âm thanh
và các tín hiệu khác.
+ Kiểm tra việc tiếp thu: cần chỉ rõ cho học sinh sự tập trung cần
thiết vào yếu lĩnh nào và thời điểm cần thiết của việc tập trung và cần có
thang đánh giá cụ thể về mức độ sai lệch của người tập.
1.5.2. Giai đoạn dạy học đi sâu .
- Mục đích: Đưa trình độ tiếp thu của người học từ mức độ ban đầu về
kỹ thuật động tác lên mức độ tương đối hoàn thiện.
- Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là:
+ Hiểu được các quy luật vận động của động tác cần học sâu hơn.
+ Chính xác hoá kỹ thuật động tác theo các đặc tính không gian,
thời gian và động lực phù hợp với các đặc điểm cá nhân của người tập.
+ Hoàn thiện theo nhịp động tác, thực hiện động tác một cách tự
nhiên và liên tục.
+ Tạo điều kiện để thực hiện động tác biến dạng khác.
Ở giai đoạn này việc hoàn thiện kỹ năng vận động đã bắt đầu được
nhấn mạnh và đồng thời yêu cầu chuyển một phần kỹ năng đó thành kỹ xảo
vận động.
Theo sinh học thì ở giai đoạn này kỹ xảo vận động sẽ được củng. Vì
vậy chúng ta phải lựa chọn phương pháp sao cho phát huy được và có tác
động tích cực vào quá trình đó.
- Phương pháp:
+ Áp dụng phương pháp tập luyện nguyên vẹn, hoàn chỉnh có chọn lọc
đi sâu vào chi tiết kỹ thuật.
+ Sử dụng phương pháp lời nói nhằm cung cấp chi tiết về cơ chế kỹ
thuật động tác, phân tích tiến trình tiếp thu động tác đó để phát hiện sai sót,
các nguyên nhân nảy sinh và tìm con đường hoàn thiện động tác.
+ Phát huy vai trò tự tập luyện bằng tư duy tự nhủ, việc luyện tập này
Chương 2
NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP - TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết mục đích nghiên cứu, đề tài đề ra các nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng hiệu quả kỹ thuật chuyền bóng cao
tay bằng hai tay trước mặt của đội tuyển bóng chuyền nam trường THPT Nam
Sách – Hải Dương.
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao hiệu
quả kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt góp phần nâng cao
thành tích thi đấu cho đội tuyển bóng chuyền nam trường THPT Nam Sách –
Hải Dương.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm tổng hợp hệ thống hoá các
nguồn kiến thức có liên quan đén các lĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lý
luân, xây dựng giả thiết khoa học, xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
Đồng thời cũng thông qua phương pháp này, đề tài sẽ có cơ sở lựa chọn, ứng
dụng và kiểm chứng được hiệu quả hệ thống các bài tập phát triển kỹ thuật
chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt cho đội tuyển bóng chuyền nam
trường THPT Nam Sách – Hải Dương.
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Đây là phương pháp khi sử dụng đưa ra hệ thống các câu hỏi cho đối
tượng và dựa vào các câu trả lời để trao đổi, tổng hợp vấn đề liên quan để
nghiên cứu, rút ra kết luận chính xác, khách quan có chất lượng. Nội dung
phỏng vấn của đề tài xoay quanh các vấn đề về thực trạng dạy học kỹ thuật
chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt cho đội tuyển bóng chuyền nam
trường THPT Nam Sách – Hải Dương. Bên cạnh đó đề tài còn tiến hành
phỏng vấn các giáo viên, trong việc lựa chọn các test kiểm tra và các bài tập
nhằm phát triển kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt cho đối
THPT Nam Sách. Tuy nhiên, nhóm đối chứng B sẽ không có tác động thêm
của các bài tập phát triển kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt
đã lựa chọn. Nhóm thực nghiệm A được áp dụng hệ thống các bài tập phát
triển kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt đã lựa chọn.
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp này được sử dụng hầu hết trong các công trình khoa học
để xử lý số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu khoa học. Những
tham số được sử dụng:
X
,
2
, t.
- Số trung bình cộng:
1
n
i
i
x
X
n
(n< 30)
Trong đó:
X
: Số trung bình.
n : Số lượng.
x
A B
A B
A B
x x
n n
(n < 30)
Trong đó:
A
x
: Là số trung bình của nhóm A.
B
x
: Là số trung bình của nhóm B.
2
: Phương sai.
n
A
: Kích thước tập hợp mẫu nhóm A.
n
B
: Kích thước tập hợp mẫu nhóm B.
2.3. Tổ chức nghiên cứu
2.3.1. Thời gian nghiên cứu.
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 5
phân phối chương trình mỗi tiết ( 45 phút) sẽ dạy học 3 nội dung. Như vậy,
chỉ tính riêng việc nắm vững kỹ thuật đã không đủ chứ chưa nói đến việc phát
triển thể lực. Môn bóng chuyền cũng vậy, theo phân phối chương trình có 10
tiết/ 1 năm/ 1 khối lớp, trong đó phải dành 1 tiết cho kiểm tra, 9 tiết cho tập kỹ
thuật và phát triển thể lực. Qua tìm hiểu về công tác GDTC đang thực hiện tại
trường cho thấy rằng, môn bóng chuyền được dạy học trong 20 giáo án và
được ghép cùng với 2 nội dung khác trong 1 tiết. Theo phân phối chương
trình của Bộ giáo dục và đào tạo. Do vậy, trong các giờ học chính khoá, công
tác huấn luyện thể lực nói chung và kỹ thuật chuyền bóng cao tay nói riêng
cho học sinh là không thể đạt được mục tiêu đề ra.
3.1.1.2. Thực trạng tổ chức và tập luyện trong các giờ ngoại khoá.
Thời gian ngoại khoá không bắt buộc và phụ thuộc chủ yếu vào tính tự
giác, tích cực của học sinh. Qua phỏng vấn các học sinh trong trường thấy
rằng, việc tập luyện ngoại khoá hầu hết các em chưa quan tâm mà chủ yếu
dành thời gian cho học tập các môn học mà các em cho là quan trọng.