Mở rộng và tích lũy vốn từ cho học sinh tiểu học dựa trên các kiểu cấu tạo và trường nghĩa của từ (KL03824) - Pdf 29


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LƯU THỊ THU HẰNG MỞ RỘNG VÀ TÍCH LŨY VỐN TỪ
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DỰA
TRÊN CÁC KIỂU CẤU TẠO TỪ VÀ
TRƯỜNG NGHĨA CỦA TỪ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt

HÀ NỘI, 2011

chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều vấn đề. Là một giáo viên tiểu học tương
lai tự nhận thấy tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho
học sinh, tôi mạnh dạn chọn và thực hiện đề tài “Mở rộng và tích lũy vốn từ
cho học sinh Tiểu học dựa trên các kiểu cấu tạo từ và trường nghĩa của
từ” với mong muốn giúp học sinh nâng cao tri thức về vốn từ của mình. Đề
tài đồng thời cũng đề ra một số biện pháp thích hợp nhằm giúp các em
phong phú hóa vốn từ.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học trước đây đã có nhiều
công trình nghiên cứu quan tâm tới:
Lê Hữu Tỉnh có cuốn Dạy từ ngữ cho học sinh tiểu học đã đề cập đến
một số bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm.
Trần Mạnh Hưởng- Lê Hữu Tỉnh viết cuốn Giải đáp 188 câu hỏi về
giảng dạy môn Tiếng Việt tác giả đã đề cập đến những vấn đề xoay quanh
các vấn đề về cấu tạo từ và trường nghĩa qua các câu hỏi và câu trả lời trong
phân môn Luyện từ và câu.
Trong công trình nghiên cứu của Thạc sĩ Phạm Thị Kim Chung- mã
số 142 có đề tài “Dạy mở rộng vốn từ cho học sinh khối lớp 4, 5” đã nói đến
việc mở rộng vốn từ của học sinh qua trường cấu tạo.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Mai Liên- mã số 17 đã nghiên cứu
về việc mở rộng vốn từ của học sinh nhưng chỉ dừng lại ở từ láy với đề tài
“Khảo sát khả năng nhận biết, tích lũy và mở rộng vốn từ láy của học sinh
Tiểu học.”
Như vậy, bên cạnh việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình
trên, chúng tôi có thể khẳng định đề tài “Mở rộng và tích lũy vốn từ cho học
sinh tiểu học dựa trên các kiểu cấu tạo từ và trường nghĩa của từ” là đề tài
mới có khả năng khơi nguồn cho nhiều cây viết.
3. Mục đích nghiên cứu – nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích sau:

6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham
khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Quá trình mở rộng, tích lũy vốn từ của học sinh tiểu học
qua các kiểu cấu tạo từ và trường nghĩa của từ.

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1. Lí luận về các kiểu cấu tạo từ của tiếng Việt
1.1.1. Khái niệm về từ tiếng Việt
Từ là một khái niệm quan trọng, cho đến nay vẫn chưa có một khái
niệm hoàn hảo về từ. Chính vì lẽ đó mà đối với trường hợp như: nhà trẻ, sổ
điểm, sách giáo khoa, xe đạp,… có người cho đó là từ cũng có người cho đó
không phải là (từ) mà là một tổ hợp từ.

Từ đơn có thể là một tiếng, cũng có thể có nhiều tiếng. Đa số từ đơn
tiếng Việt là đơn âm áo, quần, cây, nhà, bút, những từ này là những từ
nhiều nghĩa đầu → đầu làng, đầu nhà, đầu ngõ, Từ đơn tiếng Việt còn có
những từ đa âm là những từ thuần Việt bồ kết, bồ hóng, tắc kè, chèo bẻo,
cũng có thể là từ vay mượn mì chình, ra- đi- ô, xà phòng, cà phê,
1.1.3.2. Phương thức ghép hình vị
Ghép là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa,
kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp
và ý nghĩa như một từ. Tạo ra từ ghép
Ví dụ: tác động vào hình vị “xe” và hình vị “đạp” cho ta từ “xe đạp”;
tương từ tác động vào hình vị “máy” và hình vị “nổ” cho ta từ “máy nổ”.
Căn cứ vào tính chất của mối quan hệ giữa các hình vị, vào đặc trưng
ngữ nghĩa của từ, người ta chia từ ghép ra làm hai loại: từ ghép phân nghĩa
và từ ghép hợp nghĩa.

a) Từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ)
Từ ghép phân nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay
đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (chỉ
hoạt động, chỉ sự vật, chỉ tính chất,…) có vai trò chính và một hình vị có tác
dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc
lập với nhau và độc lập với loại lớn. Các từ ghép phân nghĩa lập thành
những hệ thống gồm một số từ thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn.
Ví dụ: Trong các từ ghép xe đạp, xe máy, xe điện. Hình vị “xe” được
biểu thị ý nghĩa phạm trù chỉ loại lớn, chỉ phương tiện giao thông còn hình
vị (đạp, máy, điện) biểu thị sự phân hóa nghĩa: “đạp”- dùng sức người để
đạp; “máy”- chạy bằng động cơ; “điện”- chạy bằng điện. Vì thế, nhờ hình vị
thứ hai mà từ ghép phân nghĩa mới được hình thành như từ “xe đạp”- chỉ
một phương tiện giao thông là “xe”, nhưng có đặc trưng riêng là dùng chân
để đạp, để tạo ra sự chuyển động.
Các từ ghép phân nghĩa gồm nhiều kiểu nhỏ:

nhái, cam quýt, nhà cửa,…
b.2 Từ ghép hợp nghĩa chuyên chỉ loại là từ ghép không chỉ loại lớn
bao trùm lên nghĩa loại của các hình vị, mà ý nghĩa của nó tương đương với
ý nghĩa loại của loại hình vị chợ búa, đường sá, phố sá,….
b.3 Từ ghép hợp nghĩa bao gộp là những từ ghép hợp nghĩa không có
ý nghĩa tổng loại, không chuyên chỉ loại mà biểu thị những sự vật, hoạt động
hay tính chất thường đi với nhau thành từng cặp, từng đôi vợ con, thầy trò,
điện nước,…
1.1.3.3. Phương thức láy hình vị
Phương thức láy là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức
âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức
là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi,
thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng
của một hình vị hay đơn vị có nghĩa. Tạo ra từ láy.
Ví dụ: đẹp → đèm đẹp
tốt → tôn tốt
Căn cứ vào số lượng âm tiết có trong từ láy, người ta chia từ láy thành
ba loại: láy đôi, láy ba,láy tư.
a) Từ láy đôi
Từ láy đôi là những từ láy có hai âm tiết. Đây là loại từ láy điển hình
của tiếng Việt.
Dựa vào cái được giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở, có thể chia từ
láy đôi thành hai loại: láy toàn bộ và láy bộ phận
* Từ láy toàn bộ là từ láy mà toàn bộ âm tiết của hình vị cơ sở được
giữ lại.
Ví dụ: xanh → xanh xanh
đêm → đêm đêm
* Từ láy bộ phận là từ láy mà bộ phận âm tiết của hình vị cơ sở được
giữ lại. Trong đó, có:
- Từ láy âm là từ láy mà phụ âm đầu được giữ lại, còn vần thì khác.

hình tuyến, quan hệ tuyến tính) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến,
quan hệ hình). Với hai loại quan hệ này, trong hệ thống từ vựng hình thành
trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường
nghĩa trực tuyến). Trường nghĩa dọc gồm có trường nghĩa biểu vật và trường
nghĩa biểu niệm. Phối hợp hai trường này cho ta trường liên tưởng.
Chúng tôi đi sâu nghiên cứu hai trường nghĩa dọc là trường nghĩa
biểu vật và trường nghĩa biểu niệm.
1.2.1.1. Trường nghĩa biểu vật
Tập hợp các từ biểu thị một ý nghĩa chung về sự vật, hiện tượng gọi là
trường biểu vật. Nói cách khác, đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau
về ý nghĩa biểu vật. Người ta có thể phân chia tiếp thành nhiều hệ thống
trường nghĩa khác nhau.
Tiêu chí để xác lập trường nghĩa biểu vật với ý nghĩa biểu vật là ta
nên chọn danh từ (người, động vật, thực vât, ) có ý nghĩa biểu vật khái quát
làm gốc để tập hợp các từ.
Ví dụ: vũ trụ, thiên nhiên, con người, nông nghiệp, công nghiệp, nhà
trường, học tập,… là các danh từ làm gốc cho trường biểu vật. Các danh từ
quyết định trường rộng hay hẹp. Nếu danh từ có tính khái quát cao (ý nghĩa
biểu vật lớn) thì trường càng rộng, số lượng trong trường càng nhiều. Ngược
lại, danh từ nào có tính khái quát không cao (nghĩa biểu vật hẹp) thì trường
càng có ít từ.
Trường “con người” và “thiên nhiên” nhỏ hơn trường “vũ trụ”
Trường “con người” rộng hơn trường “nhà trường”, “lao động”,
“nông nghiệp”.
Thông thường, những từ có phạm vi biểu vật rộng sẽ đi vào nhiều
trường, những từ có ý nghĩa biểu vật hẹp sẽ đi vào ít trường.
Ví dụ: các từ tốt, đẹp, xấu, đi vào tất cả các trường
các từ: đảng viên, đoàn viên, học sinh, đàn ông, đàn bà, chỉ
đi vào trường “con người”
Vì có nhiều từ đi vào nhiều trường biểu vật khác nhau nên từ ngữ

Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân
chia thành các trường nhỏ, các nhóm, các miền với mật độ khác nhau dựa
vào quan hệ ngữ nghĩa (đồng nhất và đối lập) giữa các từ (nét nghĩa)
Ví dụ: một trường biểu niệm (sự vật tập hợp) được phân ra thành các
miền:
- Miền chỉ người đội, đoàn, lớp, tổ, nhóm,…
- Miền chỉ động vật bầy, đàn, lũ,…
- Miền chỉ thực vật nhóm, khóm, cụm, mớ,…
Cơ sở để lập các trường biểu niệm là ý nghĩa biểu niệm chứ không
phải là từ. Vì thế, có nhiều từ có thể nằm ở nhiều trường khác nhau. Ngược
lại, có những từ nằm ở ít trường. Thông thường, những từ có nhiều nghĩa
biểu niệm thì có thể đi vào nhiều trường. Ngược lại, những từ có ít nghĩa
biểu niệm thì sẽ đi vào ít trường.
Chính do hiện tượng một từ có thể đi vào nhiều trường biểu niệm
khác nhau nên từ ngữ trong các trường này có hiện tượng thẩm thấu hoặc
giao thoa nhau.
Ví dụ: từ “sập” (cái sập) có thể đi vào hai trường biểu niệm sau:
Trường 1: Có cấu trúc biểu niệm (sự vật) (đồ dùng) (để chứa đựng) tủ,
hòm, va li, sập,…
Trường 2: Có cấu trúc biểu niệm (sự vật) (đồ dùng) (để đỡ con người
ở tư thế nghỉ ngơi) giường, ghế, phản, chõng, sập,…
*Mối quan hệ giữa trường biểu vật và trường biểu niệm
Ta biết rằng ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm là những góc độ
nhìn khác nhau khi nghiên cứu, xem xét một từ (nằm trong hệ thống từ
vựng). Vì thế cho nên khi lập các trường biểu vật thì dựa vào ý nghĩa biểu
vật, khi chia nhỏ trường biểu niệm thì dựa vào ý nghĩa biểu niệm
Ví dụ: Khi lập trường “con người” dựa trên ý nghĩa biểu vật là con
người khi chia nhỏ trường biểu vật con người ra thành các trường nhỏ: giới
tính, nghề nghiệp, tuổi tác, tính chất,… dựa vào nét nghĩa biểu niệm.
Ngược lại, khi phân lập trường biểu niệm thì dựa trên cấu trúc biểu

tiến hành liên tưởng để tìm những từ có cùng kiểu cấu tạo, mô hình cấu tạo.
Ví dụ: Tìm các từ có tiếng biển
M: tàu biển, biển cả,…
(Tiếng Việt 2, tập 2, tr.64)
Sang lớp 4, lớp 5 học sinh được làm quen với các khái niệm mang
tính trừu tượng hơn: từ đơn, từ ghép, từ láy, các kiểu từ ghép, các kiểu từ
láy.
Vấn đề dạy học sinh mở rộng và tích lũy vốn từ cho học sinh tiểu học
theo trường nghĩa thể hiện trong chương trình thể hiện khá cụ thể. Tuân theo
quan điểm tích hợp, nội dung dạy học nghĩa của từ được lồng ghép trong các
phân môn và các nội dung khác dải đều từ lớp 2 đến lớp 5. Cụ thể:
Lớp 2, nội dung dạy học các lớp từ xét trên bình diện nghĩa có 5 tiết
với các bài cụ thể về từ chỉ sự vật, chỉ hoạt động, trạng thái, đặc điểm, tính
chất; từ ngữ về nghề nghiệp. Nội dung mở rộng vốn từ có 26 tiết theo các
chủ đề về học tập như đồ dùng học tập, các môn học; chủ đề về gia đình như
họ hàng, tình cảm gia đình, công việc gia đình; chủ đề về thiên nhiên; từ ngữ
về Bác Hồ.
Lớp 3, học sinh tiếp tục được củng cố ôn tập các lớp từ đã dạy ở lớp 2,
được mở rộng vốn từ theo các chủ đề Măng non, Mái trường, Cộng đồng,
Quê hương, Bắc- Trung- Nam, Anh em một nhà, Thành thị và nông thôn,
Bảo vệ Tổ quốc, Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung,
Bầu trời mặt đất.
Lớp 4, học sinh được học về nghĩa từ gắn với cấu tạo và loại từ, mở
rộng vốn từ theo các chủ đề Thương người như thể thương thân (nhân hậu,
đoàn kết), Măng mọc thẳng (trung thực, tự trọng),…
Lớp 5, dạy học sinh các lớp từ có quan hệ ngữ nghĩa từ đồng nghĩa, từ
trái nghĩa, từ đồng âm, từ đa âm; mở rộng vốn từ về Tổ quốc, nhân dân chủ
điểm Việt Nam- Tổ quốc,…
2.2. Việc dạy học kiến thức về cấu tạo từ và trường nghĩa của từ tiếng
Việt ở Tiểu học

.
1.Em hãy kể tên các từ chỉ bộ phận cơ thể?
2.Em hãy kể tên các từ chỉ những người thân thuộc trong gia đình?
3.Em hãy kể tên các từ chỉ động tác hoặc tư thế của con người?
4.Em hãy kể tên các từ chỉ các đồ dùng (dụng cụ) trong gia đình?
5. Em hãy kể các từ chỉ hiện tượng thiên nhiên hàng ngày?
6. Em hãy kể tên các từ chỉ số đếm?
1.2.2. Thống kê, phân loại phiếu
Đây là phần khảo sát vốn từ cơ bản (nguyên liệu cấu tạo từ) của học
sinh nên chúng tôi chỉ xem xét mức độ tìm được nhiều hay ít các từ. Nhóm từ cơ bản

KQ

Lớp

SLT

Đồ
dùng

Hiện
tượng

Số đếm

Bộ phận



5

4

15 từ trở lên

25

5

51 đến 10

3

23

6

1

1

23


1.2.3. Nhận xét Qua bảng số liệu chúng tôi thấy:
Số lượng học sinh tìm được các từ trên 15 là ít: các từ chỉ đồ dùng
(dụng cụ) cả 2 lớp là 15 chiếm x 100 = 21,42 %; các từ chỉ số đếm chiếm
x 100 = 15,71%; các từ chỉ quan hệ chiếm x 100 = 18,57%; các từ chỉ hiện
tượng thiên nhiên và các từ chỉ động tác (tư thế) của con người học sinh
không tìm được từ. Riêng với các từ chỉ bộ phận cơ thể con người học sinh
tìm được với số lượng tương đối cao chiếm x 100 = 42,85%. Phần lớn học
sinh tìm được số lượng 10 đến 15 từ: các từ chỉ đồ dùng (dụng cụ) chiếm x
100 = 47,14 %; các từ chỉ số đếm chiếm x 100 = 55,71%; các từ chỉ quan hệ
thân thuộc chiếm x 100= 67,14% . Còn lại là số học sinh tìm được 1 đến 10
từ chiếm số lượng lớn: các từ chỉ hiện tượng thiên nhiên chiếm x 100=
81,42%; các từ chỉ động tác (tư thế) con người chiếm x 100= 75,71%.
Học sinh lớp 5 tìm được các từ cơ bản nhiều hơn lớp 4.
1.3. Đánh giá chung
Qua kết quả thống kê trên, chúng tôi thấy:
Hầu hết các em tìm được các từ cơ bản. Đó là các từ các em sử dụng
hàng ngày. Tuy nhiên vì là học sinh thành phố nên các từ học sinh tìm được
phần lớn là các từ hiện đại: các đồ dùng (dụng cụ) là máy xay sinh tố, tivi, tủ
lạnh, máy tính,… mà không có các đồ dùng nông thôn cuốc, cày, gậy,…; các
từ chỉ quan hệ thân thuộc có anh, chị, em,… mà không có các từ bầm, mợ,
ông trẻ,….; các từ chỉ số đếm phần lớn là một, hai, ba, bốn,… mà không thấy
rặng, khóm, mớ, bọn,…
Như vậy, vốn từ cơ bản của học sinh tiểu học mà cụ thể là tại lớp 4,
lớp 5 còn ít.
2. Khả năng nắm khái niệm kiến thức về các kiểu cấu tạo từ (trên bình
diện lí thuyết)
2.1. Mục đích khảo sát
Xem xét mức độ nắm lí thuyết về cấu tạo từ (từ đơn, từ phức, từ ghép,
từ láy) của học sinh, để biết được những lỗi mà học sinh mắc phải.

SL 25 30 Đúng
Tỉ lệ % 71,42 85,71
SL 10 5 Khái niệm

Sai
Tỉ lệ % 28,57 14,29
SL 29 34 Đúng
Tỉ lệ % 82,85 97,14
SL 6 1

Từ đơn

Ví dụ
Sai
Tỉ lệ % 17,15 2,86
Đúng SL 30 33
Tỉ lệ % 85,71 94,28
SL 5 2
Khái niệm
Sai
Tỉ lệ % 14,29 5,72
SL 28 34 Đúng
Tỉ lệ % 80 97,14
SL 7 1

Từ ghép

Ví dụ
Sai
Tỉ lệ % 8,58 2,86
SL 20 30 Đúng
Tỉ lệ % 57,14 85,71
SL 15 5

Khái niệm
Sai
Tỉ lệ % 42,86 14,29
SL 31 34 Đúng
Tỉ lệ % 88,57 97,14
SL 4 1
Từ láy Ví dụ
Sai
Tỉ lệ % 11,43 2,86

2.2.3. Nhận xét
Các câu hỏi trên các em có thể đưa ra khái niệm từ đơn, từ phức, từ
láy, từ ghép theo cách hiểu của mình, không nhất thiết phải nêu chính xác
từng từ từng chữ như trong sách giáo khoa. Thông qua việc chấm các phiếu
bài tập của học sinh, thống kê và phân loại theo bảng, chúng tôi dễ dàng

5 cho rằng “từ có hai tiếng trở lên có nghĩa là từ phức”
Một số em đưa ra khái niệm sai vì: các em chỉ nghĩ rằng từ phức là từ
có hai tiếng mà không biết rằng từ phức là từ gồm có hai tiếng trở lên; một
số thì không nêu được khái niệm. Khi nêu ví dụ về từ phức, phần lớn các em
đều nêu được với số lượng các từ có hai tiếng, chỉ có một số ít nêu được từ
phức với số lượng các tiếng trong từ là 3 và 4 tiếng máy xay sinh tố, sạch
sành sanh, nhà máy bánh kẹo, nhà máy giấy…, một số em nêu được ví dụ về
từ phức gồm cả từ láy và từ ghép còn phần lớn các em chỉ nêu được ví dụ từ
phức là từ ghép. Bên cạnh đó, các em mắc một số lỗi là các em không nêu
được ví dụ; một số em nêu sai khi cho rằng “tivi, ra-đi-ô” là từ phức; có em
thì đặt ra thành câu vì các em nghĩ rằng nhiều tiếng ghép lại là từ phức em
học bài, em làm bài, cây nhót to,…(lớp 4- 2 em)
Có thể thấy khi đưa ra khái niệm, lấy ví dụ về từ đơn, từ phức học
sinh hiểu và nắm được qua số lượng các tiếng có trong từ.
b) Nắm khái niệm về từ ghép, từ láy. Qua bảng số liệu, chúng tôi thấy:
Khi hiểu về từ ghép và từ láy học sinh lớp 4, 5 thực hành lấy ví dụ tốt
hơn là nắm khái niệm. Các em lớp 4, 5 nêu khái niệm về từ ghép phần lớn
đều đúng. Tuy nhiên, các em mắc một số lỗi là nhiều em không nêu được
khái niệm mà chỉ lấy ví dụ; nhiều em không nắm rõ được bản chất của từ
ghép mà chỉ căn cứ vào các tiếng và cho rằng “từ ghép là từ có hai tiếng trở
lên” hay là “hai từ ghép lại”.
Khi nêu khái niệm từ láy các em nêu sai nhiều vì các em cũng không
nắm được bản chất của từ láy mà các em chỉ căn cứ về mặt hình thức để nói
về từ láy “từ láy là từ lặp lại các tiếng”; một số học sinh cũng không nêu
được khái niệm từ láy.
Về trình bày ví dụ, hai lớp đều nêu được ví dụ về từ láy, từ ghép. Phần
lớn các em lấy được ví dụ về các từ láy, từ ghép có hai tiếng. Riêng lớp 5,
các em nêu được các kiểu từ láy (láy đôi, láy ba, láy tư), từ ghép (từ ghép
chính phụ, từ ghép đẳng lập) và lấy được ví dụ. Các em sai ở một số trường
hợp: các em lấy ví dụ về từ láy bạn bè, tươi tốt, nhỏ nhẹ, nguyên nhân do

học sinh lớp 5 vào thời gian khác nhau.
PHIẾU BÀI TẬP 5
Em hãy tìm những từ ghép có mô hình: danh từ - danh từ (có ý nghĩa
cùng 1 loại thường đi đôi với nhau). Mẫu: nhà cửa, sách vở,…
PHIẾU BÀI TẬP 6
Em hãy tìm những từ ghép có mô hình: động từ- động từ (có ý nghĩa
cùng một loại hành động đi đôi với nhau). Mẫu: đi về, đi lại, chạy nhảy,…
PHIẾU BÀI TẬP 7
Em hãy tìm những từ ghép có mô hình: tính từ- tính từ (có ý nghĩa
tính chất gần giống nhau, gần nhau). Mẫu: nhỏ to, đậm đặc, đỏ đen,…
3.1.1.2.2 Thống kê, phân loại phiếu bài tập

Trích đoạn Một vài kiến nghị về phương pháp dạy học phần cấu tạo từ Mở rộng vốn từ theo từng nghĩa 1 Mục đích khảo sát
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status