Sử dụng phương pháp quan sát trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn khám phá khoa học về thế giới động vật theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ - Pdf 29



-1-

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

*********
TRẦN THỊ THÚY

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT TRONG TỔ
CHỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN KHÁM PHÁ KHOA
HỌC VỀ THẾ GIỚI THỰC VẬT THEO HƯỚNG TÍNH
TÍCH CỰC CỦA TRẺ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCChuyên ngành:

PP làm quen MTXQ
tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế.
Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10, tháng 05, năm 2011
Người thực hiện

-3-

Trần Thị Thúy LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự hướng
dẫn tận tình của cô giáo - Th.s Lê Thị Nguyên. Những số liệu và kết quả trong
khóa luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài cũng chưa được công bố trong bất cứ
một công trình khoa học nào.
Hà Nội, ngày 10, tháng 05, năm 2011
Người thực hiện Trần Thị Thúy
-4-

MTXQ theo hướng phát huy TTC
Biểu đồ 2.2: Thực trạng về việc sử dụng các loại đồ dùng, phương tiện trực quan
trong các trường mầm non
Biểu đồ 2.3: Thực trạng nhận thức của GV về dạy học phát huy TTC của trẻ
Biểu đồ 2.4: Thực trạng nhận thức của GV về những biểu hiện thể hiện TTC của
trẻ
Biểu đồ 2.5: Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả vận dụng PPQS trong tổ
chức cho trẻ KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ
Hình 3.1: Mô tả logic tiến trình quan sát
Bảng 3.1: Kết quả thực nghiệm sử dụng phương pháp quan sát -6-

MỤC LỤC

Nội dung Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 4
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 4
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
6.2.1. Quan sát 4
6.2.2. Điều tra 4
6.2.3. Phỏng vấn 4
6.2.4. Thực nghiệm sư phạm 4

1.4.2. Nội dung KPKH về chủ đề TGĐV lứa tuổi mẫu giáo lớn 28
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 33
2.1. Mục đích khảo sát thực trạng 33
2.2. Đối tượng khảo sát 33
2.3. Nội dung khảo sát 33
2.4. Phương pháp khảo sát thực trạng 34
2.5. Kết quả khảo sát thực trạng 36
a. Thực trạng tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ ở một số trường
mầm non hiện nay 36
b. Thực trạng vận dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo
lớn KPKH về TGĐV theo hương phát huy TTC của trẻ 39

- Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của việc sử dụng PPQS trong
tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về MTXQ theo hướng phát huy
TTC 39
- Thực trạng sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn
KPKH về MTXQ ở trường mầm non 40
- Thực trạng việc sử dụng các loại đồ dùng, phương tiện trực quan -9-

trong các giờ học ở trường mầm non 42
- Thực trạng nhận thức của giáo viên về dạy học phát huy TTC 44
- Thực trạng nhận thức của giáo viên về biểu hiện của TTC của trẻ 45
- Thực trạng vận dụng PPQS theo hướng phát huy TTC của trẻ trong
các trường mầm non 47
c. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả vận dụng PPQS trong tổ chức
cho trẻ KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ 48
Chương 2: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC SỬ

3.3.6. Kết quả thực nghiệm 66
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 -11-

PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, xu hướng toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học
công nghệ đang đặt ra nhiều yêu cầu với việc đào tạo nguồn nhân lực của mỗi
quốc gia. Người lao động trong thời đại mới phải có trình độ, có năng lực, phải
tích cực, chủ động, sáng tạo… Giáo dục đã và đang là mối quan tâm hàng đầu
của các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Mục tiêu chủ yếu của GDMN là “giúp
trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ; hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một…” (Chương trình GDMN, ban
hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT, ngày 25/7/2009 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT). Với vai trò là bậc học nền tảng, chất lượng GDMN có ảnh
hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách mỗi cá nhân cũng như chất lượng
giáo dục ở các bậc học tiếp theo. Như vậy, việc quan tâm chăm sóc - giáo dục trẻ
ngay từ những năm đầu tiên là việc làm hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng
trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát triển thế hệ trẻ trở thành những người
chủ tương lai của đất nước.


-13-

duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, kĩ năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên”. Phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ lứa
tuổi mầm non, QS, tri giác được xem là con đường cơ bản giúp trẻ chiếm lĩnh
các tri thức về MTXQ một cách tích cực. Những hình ảnh mà trẻ thu được qua
QS là điểm tựa, cơ sở để trẻ tìm hiểu, khám phá bản chất các sự vật, hiện tượng.
Thực tế hiện nay thì việc cho trẻ khám phá TGĐV bằng PPQS vẫn còn nhiều
mặt hạn chế và chưa phát huy được tính chủ động, tích cực của trẻ. Ở một số
trường mầm non hiện nay vẫn còn tồn tại kiểu dạy học mang tính truyền thống
(GV bảo QS gì, trẻ làm theo như thế). Trong giờ học, đa số trẻ vẫn thụ động theo
sự tổ chức, sắp xếp của GV. Thực tế này cho thấy cần thiết phải có những giải
pháp đổi mới cách thức tổ chức cho trẻ QS trong khám phá MTXQ nhằm phát
huy TTC của trẻ, đáp ứng những yêu cầu của đổi mới dạy học.
Những lí do kể trên chính là căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Sử
dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về TGĐV theo hướng
phát huy TTC của trẻ ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn
KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu
giáo lớn KPKH về chủ đề TGĐV theo hướng phát huy TTC.
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn
KPKH về chủ đề TGĐV theo hướng phát huy TTC.
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng PPQS trong việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo
lớn KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC. -14-

Người nghiên cứu sử dụng các phiếu khảo sát để điều tra thực trạng việc sử
dụng PPQS trong tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ ở một số trường mầm non;
có phân tích, đánh giá thực trạng đó với yêu cầu tổ chức cho trẻ KPKH về
MTXQ theo hướng tích cực.
6.2.3. Phỏng vấn
Việc phỏng vấn GV nhằm bổ sung các thông tin về việc tổ chức dạy học hiện
nay, lấy đó làm một trong các căn cứ cho những đề xuất của khóa luận.
6.2.4 Thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm đánh giá tính khả thi của những
biện pháp mà đề tài đã đề xuất.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thống kê toán học để phân tích, đánh giá kết quả điều tra thực trạng,
kết quả thử nghiệm sư phạm.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu PPQS được sử dụng theo hướng khuyến khích trẻ chủ động tri giác đối
tượng theo logic nội dung QS thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của phương
pháp này.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm các
chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng PPQS trong tổ
chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC của trẻ.
-16-
Trí nhớ
Theo lứa tuổi, trí nhớ của trẻ có một bước biến đổi về chất, đó là sự xuất hiện
của trí nhớ có chủ định.Trẻ có khả năng ghi nhớ tốt các sự vật, hiện tượng cụ thể
mà trẻ thường gặp trong thực tế. Trẻ 5 - 6 tuổi, năng lực ghi nhớ và nhớ lại phát
triển mạnh, trẻ bắt đầu nắm được phương thức của sự ghi nhớ. Ban đầu trẻ ghi
nhớ máy móc bằng cách tri giác nhiều lần đối tượng, tiếp đó trẻ xác lập mối liên
hệ giữa các đối tượng (dựa trên sự gợi mở, hướng dẫn của GV) trở thành ghi nhớ
logic.
Tư duy
Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo là thiên về tư duy trực quan (trực quan -
hành động, trực quan - hình tượng). Tuy nhiên, ở cuối tuổi mẫu giáo, kiểu tư duy
này không đáp ứng được nhu cầu nhận thức của trẻ. Vì vậy xuất hiện thêm kiểu
tư duy trực quan - hình tượng mới, đó là tư duy trực quan - sơ đồ. Kiểu tư duy
này tương tự tư duy trực quan - hình tượng, chỉ khác ở hình tượng mà tư duy
phản ánh.
Cuối tuổi mẫu giáo, tư duy trừu tượng bắt đầu được hình thành và phát triển.
Các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…được rèn luyện
qua từng tiết học. Sự phát triển tư duy của trẻ gắn liền với sự phát triển ngôn
ngữ, nhất là sự mở rộng của vốn từ.
Tưởng tượng
Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo phần lớn là không chủ định, không nhằm vào
mục đích đề ra từ trước. Đến cuối tuổi mẫu giáo, tưởng tượng có chủ định mới
hình thành rõ nét. Nó được thể hiện nhiều hơn cả trong các dạng hoạt động mang -18-

tính sáng tạo như vẽ, nặn, xé dán; các trò chơi xây dựng - lắp ghép, trò chơi đóng
vai theo chủ đề… Lúc này, trẻ bắt đầu có khả năng hành động theo mục đích
định trước. Sự phát triển trí tưởng tượng sáng tạo ở trẻ mẫu giáo phụ thuộc

về nhiều vấn đề như: nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi… Trẻ cũng có nhu
cầu muốn giải thích cho người lớn (cha mẹ, anh chị, cô giáo ) những suy nghĩ,
tình cảm, mong muốn… ở bản thân trẻ. Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải
trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật được những
điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết với sự vật và hiện tượng hợp lý để
người nghe dễ đồng tình. Có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ, do đó còn
gọi là ngôn nghữ mạch lạc.
Kiểu ngôn ngữ mạch lạc cũng có vai trò rất lớn đối với sự phát triển trí tuệ
của trẻ. Muốn có ngôn ngữ mạch lạc thì những điều trẻ nói ra cần được suy nghĩ
rõ ràng, rành mạch ngay từ đầu, tức là được tư duy hỗ trợ. Mặt khác, ngôn ngữ
mạch lạc là phương tiện làm cho tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng
mới. Đó là sự nảy sinh các yếu tố của tư duy lôgíc, nhờ đó mà toàn bộ sự phát
triển của trẻ được nâng lên một trình độ mới, cao hơn.
Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào lớp một đã có khả năng nắm được ý
nghĩa của nhiều từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người lớn.
Biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ
thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật tinh vi nhất về phương diện cú
pháp phức tạp và phương diện tu từ, nói năng mạch lạc và thoải mái. Tóm lại trẻ
đã nắm vững được tiếng mẹ đẻ.
1.2. Tính Tích cực của trẻ lứa tuổi mẫu giáo
1.2.1. Quan niệm về tính tích cực -20-

Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống
xã hội. Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong tự
nhiên mà còn chủ động cải tạo tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Trong một số từ điển ngôn ngữ, từ điển tâm lý học của các nước, thuật ngữ

động của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê tự học và ý chí
vươn lên".
Như vậy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của trẻ luôn là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của ngành GDMN trong quá trình dạy học. Vì vậy
nó luôn là vấn đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn dạy học được các nhà
giáo dục quan tâm nghiên cứu trao đổi và bàn luận.
1.2.2. Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Theo V.X. Mu khina, Nguyễn ánh Tuyết và một số tác giả khác, TTCNT của
trẻ được thể hiện ở sự ham hiểu biết, xuất phát từ nhu cầu, mong muốn khám phá
những điều mới lạ của thế giới tự nhiên và xã hội. Sự phát triển tính ham hiểu
biết của trẻ trong thời kỳ mẫu giáo tăng lên mạnh mẽ về số lượng và sự biến đổi
về chất ở những câu hỏi của trẻ em. Ở trẻ mẫu giáo lớn có những câu hỏi hướng
vào sự tiếp thu tri thức chiếm ưu thế, hơn thế nữa trẻ em thường quan tâm tới
những nguyên nhân của sự vật, hiện tượng muôn hình, muôn vẻ, những mối liên
hệ giữa chúng.[13]
A.U.Orokina, A.k.Bodrenko và nhiều nhà tâm lý - GDMN thì cho rằng
TTCNT của trẻ mẫu giáo là khả năng giải quyết một cách hiệu quả các nhiệm vụ
nhận thức bằng việc cố gắng, nỗ lực huy động ở mức cao các chức năng tâm lý
nhận thức, đặc biệt là hoạt động của tư duy (như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái -22-

quát hoá…). TTCNT của trẻ được thể hiện trong quá trình nhận thức, ở năng lực
vận dụng các kĩ năng nhận thức như: Kĩ năng phân tích, tổng hợp thông tin (qua
quan sát, tri giác…); kĩ năng so sánh đối chiếu, phân loại các đối tượng, nhóm đối
tượng theo những dấu hiệu khác nhau. Sự phát triển TTCNT gắn liền với sự lĩnh
hội những kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng phong phú cũng như các chuẩn mực xã
hội và các quy tắc hành vi.[13]
Đồng quan điểm trên, thông qua nghiên cứu TTCNT của trẻ mẫu giáo 5-6

của đứa trẻ (hành động, cử chỉ, nét mặt, ngôn ngữ…). Trong quá trình cho trẻ
KPKH về MTXQ có thể nhận biết TTCNT của trẻ bằng các dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất: Những dấu hiệu nói lên nhu cầu và hứng thú nhận thức của trẻ đối với
MTXQ.
Nhu cầu, hứng thú nhận thức của trẻ trong quá trình LQVMTXQ biểu hiện
bằng những dấu hiệu cụ thể sau đây:
- Trẻ thích thú, chủ động tiếp xúc, hoạt động với đối tượng gần gũi xung
quanh
- Trẻ hay đặt ra những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV, đối với người
lớn xung quanh và yêu cầu giải thích cặn kẽ, việc đặt ra câu hỏi nói lên sự hiểu biết,
lòng mong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về những sự vật hiện tượng trong
MTXQ: Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Có thể… được không? Tại sao? Như thế
nào? Từ đâu mà có? Nếu đứa trẻ học thụ động, không hứng thú thì nó sẽ không
đưa ra những câu hỏi và nó cũng không có phản ứng gì nếu câu hỏi không được trả
lời. Theo G.I Sukina, GV cần tôn trọng những câu hỏi do trẻ đưa ra, trả lời kịp thời
những câu hỏi và kích thích trẻ đặt ra câu hỏi, đây không chỉ là biểu hiện của nhu -24-

cầu, hứng thú nhận thức mà còn là con đường quan trọng nhất để củng cố hứng thú
nhận thức cho trẻ.[14]
- Trẻ chú ý QS, chú ý lắng nghe cô nói và theo dõi những gì cô làm.
- Trẻ hay giơ tay phát biểu, nhiệt tình bổ sung ý kiến vào câu trả lời của các
bạn và thích tham gia vào các hoạt động.
- Thông qua sự QS của mình, người GV có thể xác định được những biểu
hiện cảm xúc hứng thú nhận thức ở trẻ như: Cảm xúc vui sướng, hài lòng khi
được người khác giải đáp những câu hỏi, những thắc mắc của mình, khi tự mình
tìm ra những câu trả lời đúng hay những thành công khác trong hoạt động. Ngoài
ra ta có thể thấy được sự giận dỗi, nỗi thất vọng nếu người khác không thoả mãn

- Trẻ có sự nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Sự phản ứng của trẻ khi cô đưa ra tín hiệu báo hết giờ học: Phản ứng không
hài lòng khi phải kết thúc công việc, cố gắng cho đến khi hoàn thành sản phẩm
(vẽ, nặn, cắt, dán …) hoàn thành các bài tập, trò chơi.
- Tất cả những biểu hiện về TTCNT của trẻ 5-6 tuổi không rời rạc, riêng rẽ
với nhau mà chúng gắn liền với nhau và nằm trong một tổng thể thống nhất.
TTCNT của trẻ mẫu giáo, trong đó có trẻ 5-6 tuổi được thể hiện ở các mức độ
khác nhau trong các hoạt động của chúng. GV mầm non cần biết được các cấp
độ TTCNT của trẻ từ đó xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung cũng như các
phương tiện nhằm đạt mục tiêu giáo dục đã đặt ra.
1.3. Một số vấn đề về PPQS trong tổ chức cho trẻ KPKH về MTXQ
1.3.1. Khái niệm

Trích đoạn Tăng cường sử dụng các loại phương tiện, thiết bị dạy học trực quan Đa dạng hóa các loại QS trong khám phá chủ đề TGĐ Đổi mới tiến trình QS trong tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn KPKH về TGĐV theo hướng phát huy TTC Kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status