Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973 - Pdf 29

Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

VŨ THỊ HƯỜNG CVAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẬT BẢN
TỪ NĂM 1951 ĐẾN NĂM 1973
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới Người hướng dẫn khoa học
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
HÀ NỘI – 2011
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
2

Nhật Bản.
Như vậy, trong những nguyên nhân phát triển vai trò của Nhà nước là
một nhân tố quan trọng hàng đầu không thể thiếu, tạo động lực phát triển
“thần kì” cho nền kinh tế Nhật Bản.
Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay,
tìm hiểu sự phát triển “thần kì” của nền kinh tế Nhật Bản là một vấn đề hết
sức thiết thực, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu. Các công trình
nghiên cứu đã thấy được sự phát triển “thần kì” của Nhật Bản, đánh giá một
cách khách quan về những nguyên nhân phát triển của giai đoạn này.
Vì vậy nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế
Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973 sẽ góp phần làm sâu sắc thêm một trong
những nhân tố tạo nên sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản. Qua đó, có thể
rút ra một số kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế của một số nước đang phát
triển.
Mặt khác, vai trò của Nhà nước đối với phát triển kinh tế không chỉ là
vấn đề nghiên cứu của các nhà kinh tế học mà nó còn thu hút sự quan tâm của
mọi quốc gia không phân biệt thể chế chính trị. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới năm 2008 đã giáng một đòn chí tử vào lý thuyết của chủ nghĩa
tự do mới, vào quan điểm coi nhẹ vai trò điều hành và quản lí của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường. Thực tế đó đã dẫn đến nhiều tranh luận khác
nhau về việc nên hay không nên tăng cường vai trò của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường. Vì vậy, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
nói chung và vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm
1951 đến năm 1973 cần được sự quan tâm, nghiên cứu có hệ thống.
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
4
Chính vì những lý do khoa học và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn
vấn đề “Vai trò của Nhà nước đối với sự triển kinh tế Nhật Bản từ năm
1951 đến năm 1973” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

sách “Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế” của tác giả Vũ Tuấn
Anh, NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1994. Cuốn sách là tập hợp những
bài viết của các nhà khoa học thuộc 11 quốc tịch: Việt Nam, Ấn Độ, Canađa,
Đài Loan, Inđônêxia, Malaixia, Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Thái Lan, Trung
Quốc, Xingapo. Đây là những báo cáo khoa học đã được trình bày tại cuộc
tọa đàm khoa học với chủ đề “Vai trò của Nhà nước trong quá trình cơ cấu
lại và phát triển kinh tế ở các nước châu Á” do Viện kinh tế thế giới chủ trì từ
ngày 14 đến ngày 16 tháng 12 năm 1993. Trong đó có bài “Những điều kiện
tiên quyết cho chính sách công nghiệp ở Nhật Bản” của tác giả Manabu
Shimizu.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước, tìm
hiểu về kinh tế Nhật Bản và vai trò của Nhà nước Nhật Bản còn phải kể tới
các công trình của các nhà khoa học Nhật Bản, Mỹ, Anh.
Năm 1998, NXB Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách của
Nakamura “Những bài giảng về lịch sử kinh tế Nhật Bản hiện đại 1926 –
1994, Lưu Ngọc Trịnh dịch. Cuốn sách đã tập trung trình bày những biến đổi
lớn của nền kinh tế Nhật Bản từ năm 1926 đến năm 1994. Qua việc trình bày
các chính sách của Chính phủ nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển qua các
thời kì, độc giả sẽ nhận thấy vai trò của Nhà nước và tác động của các chính
sách này đối với sự tăng trưởng.
Tìm hiểu một cách toàn diện về nền kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh
thế giới thứ hai tới những năm 80 của thế kỉ XX, không thể không nhắc đến
công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả thuộc Viện nghiên cứu Đại học
Chuo: “Kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai”. Cuốn sách được
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
6
nhà nghiên cứu Phạm Hưng Long dịch, Nxb Khoa học xã hội phát hành năm
1992. Khi trình bày sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản các tác giả cũng đã
đề cập đến vai trò của Nhà nước như là một nguyên nhân thúc đẩy sự phát

các mô hình kinh tế khác và rút ra một số nhận xét về vai trò của Nhà nước
trong phát triển kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, khóa luận có ba nhiệm vụ cơ bản:
Một là, trên phương diện lịch sử, tác giả sẽ đưa ra những lý luận chung
về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, tác giả
trình bày những thành tựu kinh tế của Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973.
Hai là, nêu rõ vai trò của Nhà nước đối với phát triển kinh tế Nhật Bản
với các vai trò chính: vạch đường lối, lập kế hoạch; vai trò điều chỉnh kinh tế;
các biện pháp bảo vệ và phát triển các tổ chức độc quyền; vai trò tạo môi
trường kinh doanh thuận lợi; vai trò phát huy và sử dụng nhân tố con người và
chú trọng ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất.
Ba là, trên cơ sở những vấn đề nghiên cứu đưa ra một vài liên hệ với
các mô hình kinh tế và những nhận xét về vai trò của Nhà nước đối với phát
triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến 1973. Từ đặc điểm, nhận xét đó rút ra
những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế của các nước đang phát
triển.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với sự phát
triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Những tài liệu chính phục vụ cho khóa luận bao gồm:
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
8
Các sách chuyên khảo của những nhà nghiên cứu, các chuyên gia về
Nhật Bản, bao gồm cả các tác giả Việt Nam và các tác giả nước ngoài.
Các tạp chí: Tạp chí hoạt động khoa học, Tạp chí thông tin khoa học,
Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Tạp chí kinh tế châu Á – Thái


Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
10
Chương 1
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN TỪ NĂM 1951
ĐẾN NĂM 1973

1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
KINH TẾ
1.1.1. Tư tưởng về bàn tay vô hình của A.Smith
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế đã được Adam Smith

lợi ích cá nhân thì có một “bàn tay vô hình” chi phối buộc “con người kinh tế”
phải thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự định là đáp ứng lợi ích xã
hội. “Bàn tay vô hình” chính là các quy luật kinh tế khách quan chi phối hoạt
động của con người. Ông gọi hệ thống các quy luật đó là “trật tự tự nhiên”.
A.Smith đề cao vai trò của quy luật kinh tế, đề cao tự do kinh doanh, tự do
cạnh tranh, hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế. Đối với
A.Smith Nhà nước phải là tối thiểu. Trong tác phẩm “Nghiên cứu về nguyên
nhân và bản chất của sự giàu có của các dân tộc” và với việc xây dựng lý
thuyết về “bàn tay vô hình” đã khẳng định tự do kinh doanh là đúng đắn nhất
và chỉ ra vai trò của Nhà nước như “người lính gác đêm” bảo vệ chế độ tư
hữu và tự do kinh doanh.
Theo A.Smith Nhà nước có những vai trò sau đây:
Thứ nhất là “quốc phòng, tức là bảo vệ xã hội chống lại bạo lực và
bất công của các dân tộc khác”; thứ hai là “bảo hộ”; thứ ba là “phát triển
những của cải công cộng, tức là tạo ra và duy trì những thể chế công cộng,
những toà nhà và công trình công cộng, những thứ này dù rất có ích nhưng
không bao giờ thu được lợi nhuận” [15, tr.43].
1.1.2. Lý thuyết Keynes về sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
12
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt đầu những năm 30 của
thế kỉ XX tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nước Anh và thế giới có nhiều
biến động lớn. Ngay từ đầu thế kỉ XX ở Anh cũng như nhiều nước tư bản đã
công nghiệp hóa, lực lượng sản xuất phát triển mạnh cả về quy mô, trình độ
và đặc biệt là tính chất xã hội hóa cao. Với một nền kinh tế khổng lồ có tính
chất xã hội hóa cao và sự cạnh tranh gia tăng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh
của Nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tế lúc này các mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở các nước tư bản (mà
trước hết là Mỹ và Anh) diễn ra gay gắt. Sự hoạt động tự phát của nền kinh tế

bản là tăng trưởng và việc làm trên cơ sở phát huy vai trò điều tiết kinh tế của
Nhà nước. Theo ông, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước
phải thực hiện việc điều tiết kinh tế.
Để đảm bảo cho sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp và khủng
hoảng thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần có sự can
thiệp của Nhà nước vào kinh tế để tăng “cầu có hiệu quả”, kích thích tiêu
dùng sản xuất, kích thích đầu tư cơ bản để đảm bảo việc làm và tăng thu nhập.
Vì vậy, ông đề nghị Nhà nước phải duy trì đầu tư. Muốn vậy phải sử dụng
ngân sách của Nhà nước để kích thích đầu tư của tư nhân và Nhà nước. Ông
đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế khoá, công trái Nhà nước. Nhờ nó mà
bổ sung ngân sách, tác động tích cực đến cục diện thị trường, điều tiết việc
làm. Nó được coi là nhân tố của chính sách chống chu kì trong học thuyết
kinh tế Keynes. Ông cũng khuyến khích nhiều hình thức hoạt động để nâng
cao tổng cầu và việc làm trong xã hội, thậm chí cả các hoạt động ăn bám nhất
và không có lợi cho nền kinh tế như quân phiệt hoá nền kinh tế.
Như vậy, với học thuyết này Keynes đã phủ nhận vai trò của thị trường
và nhấn mạnh vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước trong việc điều chỉnh các
quá trình kinh tế. Học thuyết kinh tế của Keynes đã thắng thế vì đã đưa ra
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
14
được các giải pháp khả thi trong thực tiễn và giữ địa vị thống trị đến giữa
những năm 70 của thế kỉ XX. Nhiều nước đã áp dụng thành công học thuyết
kinh tế Keynes mà đặc biệt là ở Mỹ và Pháp. Các nhà kinh tế học Mỹ đánh
giá cao học thuyết Keynes, coi đó là “liều thuốc chữa cho chủ nghĩa tư bản
Tây Âu khỏi ốm yếu và làm cho nền kinh tế Mỹ khỏe mạnh” [16, tr.144].
1.1.3. Lý thuyết kinh tế của trường phái chủ nghĩa tự do mới
Chủ nghĩa tự do kinh tế là các lý thuyết kinh tế tư sản coi nền kinh tế tư
bản chủ nghĩa là hệ thống hoạt động tự động, do các quy luật kinh tế khách
quan tự phát điều tiết. Tư tưởng cơ bản của nó là tự do kinh doanh, tự do tham

That chơ, Tổng thống Mỹ Reagan cùng với Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF) nhiệt liệt tán thưởng và lý thuyết đó được đưa vào vận
hành ngay tại Mỹ, các nước Tây Âu và hàng loạt các nước khác. Với phương
châm là “thị trường nhiều hơn, Nhà nước ít hơn” với năm điểm chủ yếu: 1.
Tăng thị trường; 2. giảm Nhà nước; 3. phi điều tiết hóa; 4. tự do hóa; 5. tư
nhân hóa. Theo quan điểm của thuyết tự do mới, tăng trưởng kinh tế phải đi
trước, công bằng xã hội sẽ đi sau, người nghèo hãy kiên tâm chờ đợi. Do việc
áp dụng chủ nghĩa tự do mới, khoảng cách giữa các nước giàu và các nước
nghèo cũng như giữa người giàu và người nghèo càng gia tăng.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu những năm 70 của thế kỉ
XX, Nhà nước Nhật Bản đã tham gia vào phát triển kinh tế một cách tích cực
và sâu rộng. Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch, vạch
đường lối và điều tiết nền kinh tế thông qua những chính sách và biện pháp cụ
thể. Có thể khẳng định chắc chắn rằng cả ở Mỹ, Anh và Nhật Bản, trọng tâm
chủ yếu của chính sách kinh tế sau Chiến tranh thế giới hai đến trước cuộc
khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 mà Chính phủ vạch ra là thực hiện việc làm
đầy đủ và mức sống cao hơn. Các chính sách kinh tế dựa vào học thuyết
Keneys đã mang lại hiệu quả lớn. Các khoản đầu tư công cộng được Chính
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
16
phủ Nhật Bản sử dụng để duy trì lâu dài sự tăng trưởng kinh tế và khoảng
cuối thời kì tăng tưởng cao, Chính phủ đã bắt đầu hướng vào việc cải thiện
cuộc sống của người dân.
1.2. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN TỪ NĂM 1951 ĐẾN
NĂM 1973
1.2.1. Khái quát kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Nhật Bản là quốc gia hải đảo, nằm trải hình cánh cung ở sườn phía
đông của lục địa châu Á, gồm 3000 hòn đảo, trong đó gồm bốn đảo lớn là:
Hokkaido, Hoshu, Shikoku, Kyushu. Nhật Bản có một “diện tích không lớn,

của toàn bộ nền kinh tế tăng mạnh. Từ năm 1952 đến năm 1958, tổng sản
phẩm quốc dân đã tăng với tốc độ 6,9% bình quân hàng năm. Năm 1959, khi
tốc độ tăng trưởng vượt mức 10% nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa gây được sự
chú ý của thế giới. Đến năm sau, khi tốc độ tăng trưởng lại vượt tốc độ của
năm trước thì thế giới bắt đầu kinh ngạc và gọi đó là sự “thần kì” Nhật Bản về
kinh tế. Tốc độ tăng trưởng cao này được duy trì trong suốt những năm 60.
Trong những năm này, tổng sản phẩm quốc dân tăng trung bình hàng năm
10%. Trong những năm tiếp theo tốc độ tăng trưởng trung bình hơi giảm đi
còn 7,8% nhưng vẫn cao hơn tiêu chuẩn quốc tế.
Về giá trị tuyệt đối, năm 1950 tổng sản phẩm quốc dân của Nhật mới
đạt 24 tỷ USD, nhỏ hơn bất kì nước phương Tây nào và chỉ bằng một vài
phần trăm tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ. Nhưng Nhật Bản đã nhanh chóng
vượt qua tất cả các nước phương Tây trừ Mỹ “Nhật đã vượt tổng sản phẩm
của Canađa vào năm 1960, của Tây Đức vào năm 1968 và trở thành cường
quốc kinh tế thứ hai thế giới tư bản sau Mỹ. Năm 1973, tổng sản phẩm quốc
dân của Nhật đạt khoảng 360 tỷ USD, tuy còn nhỏ hơn Mỹ song sự chênh lệch
đã thu hẹp lại 3/1” [10, tr.42]. Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
18
Bảng 1.1: Tốc độ tăng sản phẩm quốc dân Nhật
(Tính theo giá cố định)
(Đơn vị: %)
Năm Tốc độ tăng
Trung bình từ 1953 - 1955 7,7
Trung bình từ 1956 - 1960 14,6
Trung bình từ 1961 - 1965 9,65
Trung bình từ 1966 - 1970 12,5

điện cũng đã thay đổi sâu sắc. Trong những năm 60, nhiệt điện nhất là nhiệt
điện điêden đã thay thế vai trò của thuỷ điện. Bước sang những năm 70, vai
trò của điện nguyên tử được đề cao. Năm 1970, 4 lò phản ứng nguyên tử đã
được đưa vào sản xuất với sản lượng 4,6 tỷ kw/giờ.
Đặc biệt là xuất hiện nguồn năng lượng mới là dầu lửa đã chiếm vị trí
ngày càng quan trọng. Trước chiến tranh, tỷ lệ dầu lửa trong cán cân năng
lượng còn rất thấp. Sau chiến tranh tăng lên rất nhanh “Năm 1955, dầu lửa
chiếm 19,4%, than đá chiếm 46,5%, thuỷ điện chiếm 18%. Đến năm 1973,
dầu lửa chiếm 77,6%, than đá chiếm 15,5%, thuỷ điện chiếm 4,6%, điện
nguyên tử chiếm 0,6%” [10, tr.13].
Mặc dù Nhật Bản đã triệt để khai thác nguồn dầu lửa trong nước nhưng
cũng chỉ đảm bảo 1% nhu cầu. Do đó, Nhật Bản phải đẩy mạnh việc tìm kiếm
nguồn dầu lửa ở nước ngoài. Nếu khả năng chế biến dầu lửa ở Nhật Bản trước
chiến tranh đạt 4,28% triệu tấn trong đó 3,88 triệu tấn là dầu thô nhập khẩu;
0,39 triệu tấn khai thác trong nước; đến năm 1971, riêng dầu thô nhập khẩu đã
lên đến 186 triệu tấn. Điều này chứng tỏ khả năng chế biến dầu thô của Nhật
Bản lúc này ít ra cũng gấp 46 lần trước chiến tranh. Nhật Bản trở thành nước
nhập khẩu dầu thô lớn thứ hai trên thế giới tư bản.
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
20
Về sản xuất than đá, trước và khoảng 10 năm sau chiến tranh, than đá
vẫn chiếm vị trí quan trọng nhất trong cán cân năng lượng của Nhật. Sau đó tỷ
lệ đó giảm xuống rất nhanh nhưng số lượng vẫn tăng. Năm 1957, sản xuất
được 52,2 triệu tấn; năm 1961, được 55,4 triệu tấn. Tuy nhiên công nghiệp
khai thác than vẫn tăng chậm chạp hơn điện, dầu lửa, luyện thép, chế tạo
máy…
Sản xuất thép là một trong những trụ cột của nền công nghiệp Nhật
Bản. Năm 1950, Nhật đã phục hồi được mức sản xuất trước chiến tranh đạt
4,8 triệu tấn. Mười năm sau, năm 1960 sản lượng tăng gấp 5 lần, đạt 22 triệu

1960, Nhật còn đứng hàng thứ 6 trong thế giới tư bản, năm 1967 vươn lên
hàng thứ hai sau Mỹ. So với trước chiến tranh, năng lực sản xuất ô tô vào năm
1970 của Nhật đã gấp khoảng 100 lần.
Đóng tàu là ngành phát triển khá mạnh trước chiến tranh, đặc biệt trong
chiến tranh. Sau chiến tranh, công nghiệp đóng tàu được chính phủ đặc biệt
quan tâm vì nó là ngành có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của các hạm
đội và xuất nhập khẩu. Những năm trước chiến tranh, Nhật Bản thua CHLB
Đức và Anh về sản lượng tàu biển. Đến đầu những năm 70, Nhật Bản đã sản
xuất trên 50% tổng số tàu biển của thế giới. Khoảng cách về năng lực sản xuất
tàu biển giữa Nhật Bản với các nước sản xuất tàu biển chủ yếu ngày càng lớn:
năm 1965 gấp khoảng 3 lần CHLB Đức, năm 1970 gấp khoảng 7 lần CHLB
Đức và Thụy Điển - những nước đứng hàng thứ hai, thứ ba trong thế giới tư
bản về sản xuất tàu biển. Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
22
Bảng 1.2: Những số liệu về ngành đóng tàu Nhật Bản
Sản lượng của các nước sản xuất chính. (Đơn vị 1000tấn)
Tên nước 1964 1969
Nhật 4085 9303
CHLB Đức 890 1609
Italya 1021 1293
Anh 1043 1040
Pháp 510 791
Tổng cộng 10264 19315

là khi Nhật chuyển việc nhập vũ khí hiện đại của Mỹ cho quân đội tự sản
xuất. Năm 1963, sản xuất được khoảng 300 máy bay các loại. Năm 1967,
Nhật đã sản xuất được các loại tên lửa nặng 8,2 tấn, tầm 2000 km. Tháng 2
năm 1960, Nhật Bản đã là nước thứ 4 sau Liên Xô, Mỹ, Pháp phóng thành
công vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo Trái đất. Theo chương trình chinh phục vũ
trụ từ năm 1970 đến năm 1975, Nhật đã phóng 10 vệ tinh thí nghiệm.
1.2.2.2. Nông – Lâm - Ngư nghiệp
Nông – lâm – ngư nghiệp cũng là những lĩnh vực sản xuất vật chất
quan trọng trong kinh tế Nhật Bản. Năm 1960, tổng giá trị sản xuất nông –
lâm – ngư nghiệp còn cao hơn tổng giá trị sản phẩm của công nghiệp (kể cả
công nghiệp khai thác, chế biến, điện, nước) 4,5 tỷ USD so với 4,1 tỷ USD.
Nhưng do Chính phủ thực hiện chính sách hi sinh nông nghiệp vì lợi ích của
tư bản công nghiệp nên địa vị của Nông – lâm – ngư nghiệp, đặc biệt là nông
nghiệp giảm đi nhanh chóng, ngày càng không đáp ứng được nhu cầu của
công nghiệp và tiêu dùng trong nước. Năm 1969, tổng giá trị sản phẩm của
nông – lâm – ngư nghiệp chỉ còn bằng khoảng 1/6 của công nghiệp, 9 tỷ USD
với 56,4 tỷ USD. Tuy nhiên, đứng về góc độ phát triển trung bình hàng năm
thì Nhật vẫn phát triển nhanh hơn một số nước tư bản chủ yếu: từ năm 1950
Vũ Thị Hường K33 Cử nhân Lịch sử
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1951 đến năm 1973
24
đến năm 1960, Nhật tăng 3,8%; Mỹ 1,3%; Anh 2,1%; CHLB Đức 2,4%; Pháp
2,8%; Ý 2,5%. Từ năm 1966 đến năm 1969, Nhật đạt 3,7%; Mỹ 1,3%; Anh
2,6%; CHLB Đức 2%; Pháp 2,3%;Ý 2,7%. Kết quả là vị trí của Nhật được
nâng lên một chút, trong khi các nước tư bản chủ yếu có xu hướng giảm dần
hoặc giậm chân tại chỗ.
 Nông nghiệp
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, số lao động nông nghiệp đã giảm
xuống rất nhanh từ 14,5 triệu người năm 1960 xuống còn 8,9 triệu người năm
1969, trong đó phần lớn lao động là phụ nữ, người già. Tỷ lệ người lao động

lượng tiêu thụ phân đạm (nguyên chất) trong nông nghiệp tăng từ 668 ngàn
tấn lên 908 ngàn tấn, phân kali tăng từ 509 ngàn tấn đến 696 ngàn tấn. Nhật là
nước đứng đầu thế giới về sản lượng phân bón trên đơn vị diện tích, gấp 5 lần
Pháp và 16 lần Mỹ.
Trong nông nghiệp, trồng trọt phát triển chậm hơn chăn nuôi. Lúa là
sản phẩm chính của trồng trọt (chiếm hơn 60 % diện tích gieo trồng). Ở Nhật
Nhà nước thu mua gạo cao hơn giá bán lẻ, nhằm khuyến khích nông dân sản
xuất lúa, giải quyết vấn đề tự túc gạo trong nước. Từ năm 1967 đến năm
1969, Nhật luôn đạt sản lượng lúa cao và ổn định 14 triệu tấn/ năm, trong đó
nhu cầu tiêu thụ hàng năm lại ít hơn sản lượng đạt được, do đó năm 1969 và
năm 1970 đều “thừa” gạo. Trước tình hình đó, Chính phủ đã phải thi hành
nhiều biện pháp giảm diện tích gieo trồng lúa. Trong khi đó, rau, hoa quả, cây
công nghiệp từ cuối những năm 60 đã phát triển nhanh hơn cả, song cũng chỉ
thoả mãn một phần nhu cầu trong nước. Lợn, bò, gà là những sản phẩm chính
của ngành chăn nuôi. Cuối những năm 60 Nhật có khoảng 4 triệu lợn, hơn 3
triệu bò các loại, 138 triệu gà. Gà là ngành chăn nuôi phát triển mạnh nhất ở
Nhật.

Trích đoạn Chính sách đầu tư Một số biện pháp bảo vệ và phát triển các tổ chức độc quyền trong Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi Pháp luật và trật tự Vai trò phát huy và sử dụng nhân tố con người vào phát triển kinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status