Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
5
TRNG I HC S PHM H NI 2
KHOA GIO DC TIU HC O TH SANG
PHT TRIN LI NểI MCH LC CHO TR
MU GIO LN THễNG QUA HèNH THC
DY TR K LI TRUYN VN HC
KHO LUN TT NGHIP I HC
Chuyờn ngnh: Ting Vit Ngi hng dn khoa hc
Th.S. Lấ TH LAN ANH
7
Li cam oan
Tụi xin cam oan ti Phỏt trin li núi mch lc cho tr mu giỏo ln thụng qua
hỡnh thc dy tr k li truyn vn hc l kt qu nghiờn cu ca riờng mỡnh, khoỏ lun
khụng sao chộp t cỏc ti liu cú sn no. ti cha c cụng b trong bt c mt cụng
trỡnh khoa hc no khỏc.
H Ni, Ngy 10 thỏng 05 nm 2011
Sinh viờn
o Th Sang
7. Cu trỳc khoỏ lun 11
CHNG 1. C S L LUN 12
1.1. Mt s c im ca tr mu giỏo ln 12
1.1.1. c im sinh lớ 12
1.1.2. c im tõm lớ 13
1.1.3. c im t duy 18
1.1.4. c im ngụn ng 19
1.2. Li núi mch lach v c trng li núi mch lc ca tr mu giỏo ln 23
1.2.1. Khỏi nim li núi mch lc 23
1.2.2. Cỏc kim li núi mch lc 24
1.2.3. c trng li núi mch lc ca tr mu giỏo ln 25
1.2.4. S cn thit phi phỏt trin li núi mch lc cho tr mu giỏo ln 26
1.3. K li truyờn vn hc 27
1.3.1. Khỏi nim k li truyn vn hc 27
1.3.2. Mc ớch ca vic dy tr k li truyn vn hc 27
2.2.6. Bin phỏp ỏnh giỏ truyn k li ca tr 39
2.3. T chc cho tr luyn tp k li truyn vn hc thụng qua mt s dng hot
ng ngoi tit hc
41
2.3.1. T chc thụng qua hot ng gúc 41
2.3.2. T chc hot ng vui chi: trũ chi úng kch 42
2.3.3 T chc thụng qua cỏc hot ng do chi tham quan 43
Mt s giỏo ỏn th nghim
Giỏo ỏn dy tr k li truyn 1
45
45
Giỏo ỏn dy tr k li truyn 2 50
Giỏo ỏn dy tr k li truyn 3 54
KT LUN
57
TI LIU THAM KHO
59
việc phát triển nhận thức và xã hội tốt hơn.
Từ lúc lọt lòng cho đến 6 tuổi là một quãng đời có tầm quan trọng trong
quá trình phát triển chung của trẻ em. Đúng nh L.N Tônxtôi đã nhận định khi
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
11
nhấn mạnh ý nghĩa của giai đoạn đó: Tất cả những gì mà đứa trẻ sẽ có sau
này khi trở thành ngời lớn đều thu nhận đợc trong thời thơ ấu. Trong
quãng đời còn lại, những cái mà nó thu nhận đợc chỉ đáng 1% những cái
đó mà thôi. Với sự nhạy cảm trc giỏc của nhà văn, ông đã nêu ra một phép
so sánh nh sau: Nếu từ đứa trẻ 5 tuổi đến ngời lớn, khoảng cách chỉ là một
bớc thì từ đứa trẻ sơ sinh đến đứa trẻ 5 tuổi là một khoảng dài kinh khủng
để nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục tiền học đờng (tức là giáo dục
mầm non). Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ
những cơ sở ban đầu của nhân cách con ngời mới, làm cho trẻ phát triển toàn
diện, hài hoà v cân đối, tạo điều kiện tốt cho những bớc phát triển sau này,
xây dựng cho trẻ em một nền tảng nhân cách vừa khoẻ khoắn, vừa mềm mại,
đầy sức sống cả về thể chất lẫn tinh thần, có nghĩa là giáo dục mầm non một
mặt làm cho trẻ hồn nhiên, vui tơi, tích cực, chủ động, nhạy cảm để trở thành
ngời dễ tiếp thu giáo dục. Mặt khác giáo dục mầm non hớng sự phát triển
của trẻ vào việc hình thành những tiền đề nhân cách mới, chuẩn bị cho trẻ khả
năng học tập tốt, sống và làm việc phù hợp với xã hội mới của nớc Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở thế kỷ XXI. Vớ nh ngời trng cây, ở giai
đoạn đầu là phải tạo ra những mầm non bụ bẫm, mềm mại để cho cây sau này
phát triển đợc khoẻ khoắn, chứ không phải tạo ra những cây còi cọc, nhiệm
vụ của giáo dục mầm non cũng tơng tự nh vậy.
1.2. Con ngời khác xa với con vật là nhờ có ngôn ngữ. Ngôn ngữ vừa
là phơng tiện, vừa là điều kiện để con ngời hoạt động và giao tiếp. Trong
năng của trẻ để bồi dỡng năng lực kể truyện văn học cho trẻ.
Từ những lý do trên, chỳng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: Phát triển
lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thc dạy trẻ kể lại
truyện văn học làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình. Chỳng tôi thấy
rằng đây là đề tài thiết thực đối với hoạt động dạy học và học ở bậc học mầm
non, và hi vọng đề tài này sẽ hấp dẫn với những ngời quan tâm tới trẻ em.
2. Lịch sử vấn đề
Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc
sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
13
sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dỡng thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân
tơng lai của đất nớc.
Theo nhà giỏo dc Xô Viết A.S Makarenko, ụng cho rng những cơ sở
căn bản của việc giỏo dc trẻ đợc hình thành từ trớc tuổi lên 5. Những điều
dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giỏo dc trẻ. Về sau việc
giỏo dc đào tạo con ngời vẫn tiếp tục những lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả,
cùng những nụ hoa thời đó đợc vun trồng trong 5 năm đầu tiên.
Ngày nay, thế hệ trẻ nói chung và trẻ em mầm non nói riêng giành đợc
rất nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trờng và xã hội. Những vấn đề về trẻ
em đã đợc các nhà nghiên cứu khoa học hết sức quan tâm. Riêng về phát
triển ngôn ngữ và lời nói mạch lạc cho trẻ đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu
khoa học với những công trình nghiên cứu đợc xã hội ghi nhận.
Trong cuốn Giáo trình phơng pháp phát triển lời nói trẻ em, tác giả
Nguyễn Xuân Khoa, NXB ĐHSP, năm 2007 đã viết chi tiết về lời nói mạch
lạc và các hình thức, phơng pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu
giáo.
tài: Một số biện pháp triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
hỡnh thc kể chuyện theo tranh. Nguyễn Thị Xuân đã điều tra đợc thực
trạng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi và thực trạng về việc sử
dụng các biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo tranh. Nguyễn Thị Xuân đã đa ra
đợc kết luận khoa học và đề xuất những kiến nghị về biện pháp phát triển
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu khác đã đi vào tìm hiểu về
ngôn ngữ và lời nói mạch lạc của các độ tuổi, các giai đoạn. Tựu chung lại các
nhà khoa học đều muốn tìm ra các hình thức và biện pháp để phát triển lời nói
mạch lạc cho trẻ hiệu quả nhất, nâng cao chất lợng dạy và học của ngành
giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nớc ta nói chung. Tuy
nhiên, cho tới thời điểm này, cha có một ai, cha có một công trình khoa học
nào đi sâu và khai thác việc dạy trẻ mẫu giáo lớn kể lại truyện văn học nhằm
phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ. Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
15
đợc cho mình một hớng đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá và thực
nghiệm của chính bản thân mình.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài: phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu
giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học.
Phạm vi nghiên cứu: ngụn ng mch lc ca trẻ mẫu giáo lớn ( 5 - 6
tuổi).
4. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ việc tìm hiểu đợc tầm quan trọng của lời nói mạch lạc đối
với trẻ mẫu giáo lớn, từ lòng yêu nghề mến trẻ, từ niềm say mê tìm tòi khoa
học, chỳng tôi đi vào nghiên cứu đề tài nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
17
Chơng 1
Cơ sở lí luận
1.1. Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn
1.1.1. Đặc điểm sinh lí
cách khéo léo và rất đa dạng. Chẳng hạn: trẻ có thể vẽ, cắt bằng kéo chơi
đàn. Nhìn chung, trẻ 5 - 6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm cơ
nh ở ngời lớn, còn việc tiếp thu những thói quen vận động thì phụ thuộc vào
đặc điểm cá thể của từng cơ thể, nhất là vào sự luyện tập phù hợp.
- Hệ tuần hoàn: Thành phần máu của tr tăng lên và có sự biến đổi về
chất:
Huyết sắc tố: 80 - 90%
Hồng cầu: 4,5 - 5 triệu
Bạch cầu: 7 - 10 nghìn
Tiểu cầu: 200 - 300 nghìn
Huyết áp của trẻ cũng tăng lên theo lứa tuổi:
Huyết áp tối đa: 103,8mm Hg
Huyết áp tối thiểu: 63,6mmHg
Ngoài ra, trọng lợng của tim cũng có sự thay đổi rõ rệt:
Trẻ nam có trọng lợng tim: 85,1 (g)
Trẻ nữ có trọng lợng tim: 82,4 (g)
Tần số co bóp của tim trong giai đoạn này là 80 - 110 lần/phút, tần số
co bóp của tim tiếp tục giảm đi chút ít khi trẻ càng lớn.
- Hệ hô hấp: Khe thanh âm ngắn, thanh đới ngắn, trẻ có giọng nói cao
hơn so với ngời lớn. Nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng
phát triển.
1.1.2. Đặc điểm tâm lí
1.1.2.1. Đặc điểm hoạt động vui chơi
* Chủ đề và nội dung chơi đợc mở rộng:
- Về chủ đề chơi, số lợng chủ đề đã tăng lên xuất hiện các chủ đề mới.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
19
20
thuận bàn bạc về dự định chơi, d kin a thờm trũ chi mi. Gia cỏc
nhúm chi cú mi quan h cht ch vi nhau, phi hp cựng nhau hng theo
mt ch chung dới sự điều khiển của thủ lĩnh. (Thủ lĩnh thờng là một
trẻ giàu kinh nghiệm có khả năng thu hút và điều khiển cuộc chơi). Trong quá
trình chơi trẻ biết nhận xét và đánh giá các bạn khác cũng nh biết nhận xét về
bản thân mình.
1.1.2.2. Sự xác định ý thức bản ngó v tính chủ định trong hoạt động
tâm lớ
1.1.2.2.1. Sự xác định ý thức bản ngã
Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi ngời khác, ã
đợc hình thành ở cuối tuổi ấu nhi (15 - 36 tháng tuổi). Tuy nhiên, phải trải
qua một quá trình phát triển ý thức bản ngã của trẻ mới đợc xác định rõ ràng.
Khi bớc vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ cha hiểu biết gì mấy về bản thân mình
và những phẩm chất của mình. Nhng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu
đợc mình là ngời nh thế nào, có những phẩm chất gì, những ngời xung
quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình lại có hành động ny hay hành
động khác í thức bản ngã hay sự tự ý thức đợc thể hiện rõ nhất trong sự tự
đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những u điểm hay khuyết
điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bt lực nữa. Tự ý thức của trẻ
ở lứa tuổi này mang một số đặc điểm sau:
- Trẻ đã biết đánh giá hành vi, phẩm chất, cử chỉ của ngời khác. Tuy
nhiên, sự đánh giá đó còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của trẻ đối với ngời
đợc đánh giá. Vớ d: mọi đứa trẻ thờng đánh giá tốt mẹ mình và đánh giá
ngợc lại những ngời mà chúng không yêu quý.
- Trẻ bắt đầu nhận thức đợc giới tính của mình biết mình là trai hay là
gái. Trẻ bắt đầu biết thực hiện những hành vi phù hợp với giới tính của mình,
đồng thời trẻ cũng bắt đều nhận xét đánh giá theo khía cạnh giới tính.
- ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch
để thực hiện hành động thờng đợc thể hiện rất rõ nét. Điều đó thúc đẩy các
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
22
hành động định hớng bên trong (tức là các quá trình tâm lý) phát triển mang
tính chủ định rõ ràng. Tính chủ định này đợc phát triển cùng với sự tiến triển
của hoạt động vui chơi ở trẻ mẫu giáo lớn, làm cho dạng trò chơi đóng vai
theo chủ đề chuyển dần sang trũ chơi có luật rõ hơn. Ví dụ, trớc đây khi
tham gia trò chơi dạy học, đứa trẻ đóng vai cô giáo, nhng nó hoàn toàn
không cần biết những lời dạy bảo của nó đã có ảnh hởng nh thế nào đối với
các học trò. Nó chỉ biết là nó đang làm cô giáo. Nhng giờ đây trong khi
tham gia trò chơi có luật thí dụ trò cớp cờ, đa trẻ không chỉ thích trò chơi
cớp cờ này mà trẻ còn cố gắng làm sao để cớp cho bằng đợc lá cờ càng
nhanh càng tốt để mang về cho đồng đội theo quy định. Vì làm nh vậy đội
của tr mới thắng cuộc.
Rõ ràng việc tham gia vào những trò chơi có luật làm cho hoạt động của
đứa trẻ trở nên có chủ tâm hơn. Hành động chơi ở đây có mục đích rất rõ ràng:
một là phải hành động khéo léo để không vi phạm luật lệ của trò chơi; hai là
cần phải đạt tới kết quả cao nhất. Nhờ loại trò chơi này mà các hoạt động tâm
lý bên trong đợc biến đổi một cách rõ nét, từ những quá trình tâm lý không
chủ định chuyển sang những quá trình tâm lý có chủ định nh tri giác có chủ
định, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định
- Trong sự phát triển các hành động ý chí của trẻ mẫu giáo lớn, có thể
thấy đợc sự liên kết giữa ba mặt: thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của
hành động, thứ hai là sự xác lập quan hệ giữa mục đích của hành với động cơ
và thứ ba là tăng tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện các
hành động.
độ khái quát cao, từ ú mà hiểu đợc bản chất của sự vật. Tuy nhiên t duy
của trẻ vẫn bị sơ đồ khống chế hoàn toàn cho nên trẻ cha tiếp thu đợc những
mối quan hệ trừu tợng tách khỏi sơ đồ, nghĩa là cha tiếp thu đợc khái niệm
khoa học, chỉ khi vào học lớp Một thì trẻ mới tiếp thu đợc.
T duy của trẻ đang có bớc chuyển biến quan trọng, tự nhận biết
những sự vật hiện tợng cụ thể chuyển sang nhận biết những hình ảnh khái
quát đó là chuẩn cảm giác.
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
24
1.1.4. Đặc điểm ngôn ngữ
Một trong những thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non (tức là
giáo dục tiên học đờng) là làm cho trẻ sử dụng đợc một cách thành thạo
tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày. Tiếng mẹ đẻ là phơng tiện quan trọng
nhất để lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lu với những ngời xung quanh,
để t duy, để tiếp thu khoa học, để bồi bổ tâm hồn Ganzalốp một nhà thơ
nổi tiếng của Đaghextan đã nói: Khi chết ngời cha để lại cho con cái của
mình nh ca, rung vn, thanh kim v cõy n pandua. Nhng một thế hệ
khi mất đi thì đề lại cho thế hệ tiếp theo tiếng nói. Ai có tiếng nói ngi ấy sẽ
xây dựng nhà mình, sẽ cy đợc rung, đúc đợc kiếm, lên đợc dây n
pandua và gẩy đợc nó.
Trẻ em tốt nghiệp trờng mẫu giáo là đứng trớc một nền văn hoá đồ
sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh
nghiệm của ông cha để lại, đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hoá đó
trong tng lai. Cho nờn vic phỏt trin ting m cho tr em ở lứa tuổi
mầm non là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mà ở độ tuổi mẫu giáo lớn
nhiệm vụ đó phải đợc hoàn thành. Nếu một a trẻ 5 6 tuổi mà nói năng ấp
b) Phát triển vốn từ và cấu trúc ngữ pháp
Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích luỹ đợc khá phong phú, không chỉ về
danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên từ. Trẻ nắm đợc vốn từ trong tiếng
mẹ đẻ đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày.
Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ đợc quyết định bởi điều kiện sống và giáo
dục. Nói chung, với điều kiện sống và giáo dục tốt thì trẻ em mẫu giáo lớn đã
có thể sử dụng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, mặc dù quá trình
đó diễn ra một cách không ý thức, khác với quá trình học ngữ pháp một cách
có ý thức ở trờng phổ thông sau này.
Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ còn đợc quyết định bởi tính tích cực của
bản thân trẻ đối với ngôn ngữ. Những trẻ em mà năng giao tiếp, năng tìm hiểu
các hiện tợng ngôn ngữ (tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tợng của ý thức)
thì không những hiểu đợc từ ngữ và nắm vững ngữ pháp một cách vững vàng
mà còn sáng tạo ra những từ ngữ, những cách nói cha hề có trong ngôn
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
26
ngữ của ngời lớn. Vớ d: Cháu Hoa Anh (5 tuổi) đã nói vịt ngó lộn phèo
hay cháu Vàng Anh (6 tuổi) đã dùng từ rất mới lạ để nói về màu đỏ nh ỏ
choen choét. Tính tích cực cao đối với ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn còn
biểu hiện ở chỗ thích sáng tạo thơ ca. Nhìn chung thì trẻ mẫu giáo cha thể
sáng tác thơ ca đợc, nhng ở một số em đã tiếp xúc sớm với những âm hởng
thơ ca nên cũng đã bắt đầu làm thơ vào cuối tuổi mẫu giáo. Vớ d: Bé Thuý
Giang đã làm bài thơ đầu tiên vào lúc gần 6 tuổi:
Bi th: Cỏi vn
Cái vờn nho nhỏ
Cô giáo đến chơi
khác có thể hình dung ra đợc những điều mình định mô tả mà không thể dựa
vào tình huống cụ thể trớc mắt. Yêu cầu ối với loại ngôn ngữ này là trẻ phải
diễn đạt rõ ràng, khúc chiết.
- Ngôn ngữ tình huống: trẻ sử dụng khi đối thoại với ngời lớn. Khi
giao tiếp với những ngời xung quanh trẻ sử dụng nhiều yếu tố trong tình
huống giao tiếp để hỗ trợ cho ngôn ngữ của mình. Nh vậy, chỉ có những
ngời đang giao tiếp với trẻ lúc đó mới hiểu đợc trẻ muốn nói gì.
- Ngôn ngữ mạch lạc (ngôn ngữ giải thích): độ tuổi này, ngôn ngữ
giải thích ở trẻ phát triển mạnh. Trẻ có nhu cầu giải thích cho bạn bè cùng tuổi
hiểu về nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều chuyện khác. Không
những thế trẻ còn muốn giải thích cho ngời lớn (cha mẹ, anh chị, cô giáo)
những điều mà trẻ cần họ hiểu. Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình
bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định phải nêu bật những điểm chủ
yếu và những mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tợng một cách hợp lý
để ngời khác dễ đồng tỡnh. Có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ và
mạch lạc, do đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc. Kiu ngôn ngữ mạch lạc có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thành những mối quan hệ qua lại
trong nhóm trẻ và với những ngời xung quanh, đặc biệt là đối với sự phát
Khoá luận tốt nghiệp Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2
Đào Thị Sang K33 Mầm Non Khoa GDTH
28
triển trí tuệ của trẻ. Muốn có ngôn ngữ mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra
cần phải đợc suy nghĩ rõ ràng, rành mạch ngay từ trong đầu tức là cần đợc
t duy hỗ trợ. Mặt khác, chính ngôn ngữ mạch lạc là phơng tiện làm cho t
duy của trẻ phát triển đến một chất lợng mới đó là việc nảy sinh các yếu tố
của t duy lôgíc nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ đợc nâng lên một
trình độ mới, cao hơn.
* Nhìn chung, đứa trẻ trớc khi bớc vào tuổi học sinh đã có khả năng
thoại và ngôn ngữ độc thoại.
* Lời nói hội thoại: bao gồm những phản ứng tơng hỗ của hai cá nhân
giao tiếp với nhau, các phản ứng tự phát một cách bình thờng đợc xác định
bởi hoàn cảnh hoặc lời nói của những ngời tham gia đối thoại. Có thể hiểu
đơn gin: Lời nói hội thoại là câu chuyện giữa hai hoặc nhiều chủ thể nói năng
(có sự đổi ngôi).
- Có 2 hình thức hội thoại là: nói chuyện và đàm thoại.
+ Nói chuyện: là câu chuyện giữa 2 ngời trở lên, không đợc chuẩn bị
kỹ từ trớc.
+ Đàm thoại: là câu chuyện về một chủ đề nào đó đợc chuẩn bị kỹ
càng với hệ thống câu hỏi. Nó mang tính hoàn cảnh cao, sử dụng nhiều hình
thức ngôn ngữ tỉnh lợc, những phơng tiện biểu cảm phi ngôn ngữ, các đặc
tính biểu cảm của lời nói đóng vai trò quan trọng.
Có thể thấy rằng, đặc điểm nổi bật của lời nói hội thoại chính là: đặt ra
câu hỏi và trả lời cho câu hỏi ấy dẫn đến các câu trả lời không đầy đủ, thậm
chí chỉ có một từ và câu không đầy đủ thiếu thành phần nào đó, với ngữ điệu
biểu cảm, cử chỉ, điệu bộ. ở đây, đặc biệt quan trọng là kĩ năng hình thành và
đa ra câu hỏi tơng ứng với nó là câu trả lời bổ sung và sửa chữa cho ngời
đối thoại với mình.
Trẻ có thể dễ dàng nắm đợc lời nói hội thoại vì trẻ sử dụng và đợc
nghe nhiều trong cuộc sống.
* Ngôn ngữ độc thoại: là câu chuyện của một chủ thể nói năng với
nhiều đối tợng, đây là hình thức ngôn ngữ phức tạp nhất về t duy và hình
thức, chủ thể phải có vốn ngôn ngữ rất rộng và chuẩn bị bài nói rất cẩn thận về