Dạy học chủ đề vật chất và năng lượng trong môn khoa học lớp 4, 5 - Pdf 29

- 1 -
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô giáo trong tổ bộ
môn Phương pháp Tự nhiên và xã hội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại
trường và tạo điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Th.s Nguyễn Thị
Hương - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế,
kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và toàn thể
bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 14 tháng 04 năm 2011
Sinh viên

Trần Phương Hồng - 2 -

LỜI CAM ĐOAN
- 3 -
BẢNG KÝ HIỆU TÓM TẮT

Giáo viên : GV
Học sinh : HS
Phương pháp dạy học : PPDH
Trang : tr
Sách giáo khoa : SGK - 4 -
MỤC LỤC PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 01
2. Mục đích nghiên cứu đề tài 02
3. Đối tượng khách thể nghiên cứu đề tài 02
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 02
5. Phương pháp nghiên cứu 03
6. Cấu trúc khóa luận 03
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 04
I. Khái quát chủ đề “ Vật chất và năng lượng”
trong môn Khoa học lớp 4, 5 04
II. Một số phương pháp, phương tiện dạy học chủ đề

Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ của tri thức khoa học với sự
phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin. Cùng với sự phát triển đó trên
thế giới, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, nền kinh tế, văn hóa, xã hội đang có những chuyển biến mạnh mẽ. Do
vậy, ở tất cả các ngành nghề hiện nay đều đang có sự thay đổi để ngày càng phù
hợp hơn với yêu cầu đổi mới của toàn xã hội. Trong đó, đổi mới nền giáo dục
sao cho đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội được coi là vấn đề cấp thiết
mang tính chất thời đại, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu,
các nhà quản lý giáo dục cũng như chính những giáo viên trực tiếp giảng dạy.
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học gần đây được đề cập rất nhiều, kể
từ việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa đến việc vận dụng
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, hay cả đến khâu kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập của HS. Tuy nhiên, việc vận dụng những nội dung đổi mới đó vào
thực tế giảng dạy lại chưa thực sự hiệu quả. Để việc vận dụng phương pháp,
hình thức tổ chức dạy học mới sao cho phù hợp, đạt hiệu quả điều quan trọng là
cần phải nâng cao hiểu biết của người GV về xu hướng đổi mới hiện nay sao
cho có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Với giáo dục Tiểu học, bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc
dân, có nhiệm vụ là trang bị những kiến thức cơ sở ban đầu của người lao động
trong tương lai, đó là những con người được phát triển toàn diện, có tri thức, có
tay nghề năng lực thực hành tự chủ, sáng tạo. Muốn vậy, với từng môn học,
phần học, GV cần nghiên cứu, tìm hiểu những biện pháp dạy học cụ thể, nhằm
đạt được hiệu quả dạy học cao nhất.
- 7 -
Cùng với các môn học khác như Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Hát nhạc,
Mỹ thuật, Thể dục, thì Tự nhiên và xã hội là một môn học mang tính tích hợp
cao, môn học cung cấp cho HS những hiểu biết cơ bản ban đầu về các sự vật, sự
kiện, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và mối quan hệ của chúng với con
người. Trong đó, phân môn Khoa học lớp 4, 5, đóng vai trò quan trọng trong
việc cung cấp cho học sinh những nội dung đa dạng, phong phú về tự nhiên và

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp quan sát
6. Cấu trúc khóa luận
Phần 1. Mở đầu
Phần 2. Nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận
Chương 2. Dạy học các dạng bài trong chủ đề “Vật chất và năng lượng”
môn Khoa học lớp 4, 5.
Phần 3. Kết luận và đề xuất

- 9 -
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

I. Khái quát chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học
lớp 4,5.
1. Mục tiêu chương trình chủ đề “Vật chất và Năng lượng” trong môn Khoa
học lớp 4, 5.
1.1. Về kiến thức.
- Tìm hiểu, nhận biết được đặc điểm, tính chất của một số sự vật hiện
tượng trong tự nhiên: nước, âm thanh, ánh sáng, nhiệt và vai trò của chúng
đối với đời sống của con người.
- Nhớ được đặc điểm, ứng dụng của một số vật liệu thường dùng, sự biến

biến đổi của chất, 9 tiết dạy các bài về sử dụng năng lượng.
Nội dung các bài học thường có cấu trúc như sau:
- Yêu cầu HS quan sát hình vẽ, liên hệ thực tế bằng vốn hiểu biết của
mình để trả lời các câu hỏi rất gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các em
như: kể tên các đồ vật theo từng chủ đề bài học trong sách giáo khoa.
- Yêu cầu HS
+ Làm thí nghiệm
+ Đọc thông tin trong các mục “ bạn có biết” để trả lời câu hỏi.
+ Thực hiện các trò chơi học tập. Ví dụ: thi kể tên các đồ dùng làm bằng
chất dẻo (bài 31 lớp 5); dò tìm mạch điện (bài 46 bài 47 lớp 5)
- 11 -
+ Yêu cầu HS vẽ.
Như vậy mỗi chủ đề, mỗi bài học được trình bày theo thứ tự khám
phá, nhận biết, vận dụng để HS:
+ Khám phá về các dạng vật chất, năng lượng (thông qua các tranh ảnh,
thí nghiệm, thực hành, trò chơi).
+ Nhận biết các dạng vật chất và năng lượng thông thường (rút ra kết
luận từ hoạt động khám phá).
+ Vận dụng kiến thức về vật chất và năng lượng để hiểu, biết những ứng
dụng trong cuộc sống và có các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống của bản thân
và gia đình.
Các dụng cụ trong các thí nghiệm đơn giản, dễ kiếm, dễ làm như chai, lọ,
khay, thìa, nên hầu hết các thí nghiệm trong chương trình đều có thể thực hiện
được ví dụ như lớp 4 có thí nghiệm “Nước có thính chất gì?” (Bài 20), “Nước
bị ô nhiễm” (Bài 25), “Không khí gồm những thành phần nào” (Bài 32), ở lớp 5
có thí nghiệm về dung dịch (Bài 37), “Lắp mạch điện đơn giản” (Bài 46-47)
Những thí nghiệm đơn giản dễ thực hiện này sẽ khơi dậy trí tò mò, ham hiểu
biết của HS và giúp các em học tập tích cực.
Trò chơi khoa học cũng được đề cập nhiều trong chương trình. Các trò
chơi hấp dẫn và dễ thực hiện với HS, ví dụ: Các trò chơi “Thi thổi bóng” (Bài

học .
Độ tuổi HS Tiểu học còn thấp, năng lực chú ý và trí nhớ kém bền vững,
do đó không nên kéo dài nội dung bài học từ giờ này sang giờ khác. Làm như
- 13 -
vậy HS sẽ dễ mệt mỏi, chán nản, không lĩnh hội được đầy đủ và chính xác nội
dung bài học. Trong khoảng thời gian ngắn (30 – 35 phút) với dung lượng kiến
thức vừa phải HS lĩnh hội nội dung tài liệu học tập ngay trong tiết học. Như
vậy, không nên sử dụng một phương pháp trong giờ lên lớp mà phải kết hợp
đan xen các phương pháp dạy học khác nhau, nhằm giúp HS tập trung chú ý
cao, hứng thú học tập.
1.2.3. Phương pháp dạy học Tiểu học phụ thuộc vào vai trò, vị trí của nhà sư
phạm.
Vai trò của thầy, cô giáo có vị trí rất quan trọng. Đối với HS Tiểu học thầy
cô luôn là “mẫu người lý tưởng”. Do vậy, một giờ học thành công hay không,
phụ thuộc phần lớn vào khả năng sư phạm của người GV. Với người GV Tiểu
học, ngoài năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, còn rất cần có ngoại hình dễ ưa,
khuôn mặt, nụ cười đôn hậu, giọng nói và một chút năng khiếu nghệ thuật.
1.2.4. Phương pháp dạy học Tiểu học phụ thuộc vào các yếu tố khác.
Các phương tiện dạy học hỗ trợ không nhỏ đến hiệu quả sử dụng các
phương pháp dạy học ở Tiểu học. Điều này, phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất
và các đồ dùng dạy học ở mỗi nhà trường. GV cần chú ý sử dụng tối đa các
phương tiện, đồ dùng dạy học gắn liền với các phương pháp dạy học để giờ học
đạt kết quả cao.
2. Một số phương pháp dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng”.
2.1. Phương pháp đàm thoại
- Khái niệm: Phương pháp đàm thoại (phương pháp hỏi đáp) là phương pháp
GV đặt ra những câu hỏi để GV và HS đối thoại, nhằm gợi mở, dẫn dắt HS lĩnh
hội nội dung bài học.
- Tác dụng: Phương pháp đàm thoại được vận dụng tốt sẽ có tác dụng kích
thích tính tích cực, hứng thú, độc lập, sáng tạo của học sinh trong học tập; bồi

hội, nhằm tiếp nhận thông tin mà không có sự can thiệp vào quá trình diễn biến
của các sự vật, hiện tượng đó.
- Tác dụng: Phương pháp quan sát được sử dụng phổ biến trong dạy học môn
Tự nhiên và xã hội, quan sát chủ yếu là để nhận biết hình dạng, đặc điểm bên
ngoài của cơ thể người, của cây xanh, một số động vật hoặc để nhận biết các
hiện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên, trong cuộc sống hằng ngày.
- Cách tiến hành:
Bước 1. Xác định mục đích quan sát.
Bước 2. Lựa chọn đối tượng quan sát.
Bước 3.Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát
Tùy theo mục đích và đối tượng được sử dụng cho HS quan sát, GV cần
chỉ dẫn cho HS sử dụng nhiều giác quan để phán đoán, cảm nhận sự vật và hiện
tượng (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi).
- Sử dụng những câu hỏi nhằm hướng dẫn HS:
+ Quan sát toàn thể rồi mới đến bộ phận, chi tiết.
+ Quan sát bên ngoài rồi mới đi vào bên trong.
+ So sánh với các đối tượng cùng loại (mà các em đã biết) để tìm ra các
đặc điểm giống nhau và khác nhau.
Bước 4. Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát về đối tượng
- Khả năng ứng dụng: Phương pháp quan sát được sử dụng trong hầu hết các
bài học thuộc chủ đề Vật chất và năng lượng trong môn Khoa học lớp 4, 5.
Phương pháp quan sát được sử dụng kết hợp chủ yếu với phương pháp đàm
thoại nhằm giúp HS phát hiện ra đặc điểm, tính chất, công dụng của một số vật
liệu, hay các dấu hiệu để nhận biết một số hiện tượng tự nhiên.
- 16 -
2.3. Phương pháp thí nghiệm
- Khái niệm: Khi tiến hành thí nghiệm, GV hoặc HS sử dụng các dụng cụ thí
nghiệm, tái tạo hiện trường như đã xảy ra trong thực tế, để tìm hiểu và rút ra kết
luận khoa học (theo hướng phát huy tính tích cực của HS, GV cần khuyến khích
HS sử dụng các dụng cụ thí nghiệm). Ở bậc Tiểu học, các thí nghiệm chỉ nghiên

thao tác trên đối tượng, nhằm giúp HS hiểu rõ và vận dụng lý thuyết vào thực
hành, luyện tập, hình thành kĩ năng.
- Cách tiến hành
Khi sử dụng phương pháp thực hành, có thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1. Giúp HS hiểu vì sao thực hành kĩ năng đó và một số thông tin
quan trọng khác.
Bước 2. GV hướng dẫn để HS biết trình tự các bước và cách thực hiện
từng thao tác.
Bước 3. Tổ chức cho HS thực hành
Bước 4. Tổ chức cho HS báo cáo kết quả thực hành trước lớp.
- Khả năng ứng dụng: Phương pháp thực hành được sử dụng nhiều trong các
bài học về thực hành trong chủ đề Vật chất và năng lượng, HS được làm thực
hành các thí nghiệm, thực hành nội dung bài học trên mô hình (lắp mạch điện
đơn giản, thực hành lọc nước,…), thực hành vận dụng những nội dung đã học
giải quyết một số bài tập.
2.5. Phương pháp thảo luận
- Khái niệm: Phương pháp thảo luận là cách tổ chức đối thoại giữa GV và HS,
giữa HS và HS, nhằm huy động trí tuệ của tập thể để giải quyết một vấn đề do
- 18 -
môn học đặt ra, hoặc một vấn đề do thực tế cuộc sống đòi hỏi, để tìm hiểu và
đưa ra những giải pháp, những kiến nghị, những quan niệm mới.
- Tác dụng: Thảo luận có tác dụng hình thành năng lực làm việc tập thể, thể
hiện trên ba mặt:
+ HS được tập dượt tham gia tìm hiểu, hoặc giải quyết một vấn đề do
tình huống học tập hoặc do thực tế đặt ra.
+ HS được học hỏi bạn, biến kiến thức của bạn thành kiến thức của mình.
Qua thảo luận giúp các em nâng cao năng lực cá nhân.
+ Sử dụng trí tuệ tập thể theo phương châm: hợp tác để đạt được kết quả
cao.
+ Quá trình thảo luận, dưới sự hướng dẫn của GV, còn tạo ra mối quan

hưởng tới các hoạt động tiếp theo của tiết học.
+ Trò chơi phải thể hiện rõ mục đích học tập, không đơn thuần là trò chơi
giải trí.
- Cách xây dựng trò chơi học tập.
GV có thể chọn bất kì một hoạt động nào để tổ chức thành trò chơi bằng
cách vận dụng các nhân tố cơ bản sau:
+ Phải thể hiện tính thi đua giữa cá nhân và các nhóm.
+ Có quy định về sự “ thưởng”, “ phạt”.
+ Có cách chơi rõ ràng.
+ Có cách tính điểm.
- Cách tổ chức một trò chơi.
+ Giới thiệu tên trò chơi, hướng dẫn cách chơi.
- 20 -
+ Cho HS chơi thử.
+ Chơi thật.
+ Nhận xét kết quả của trò chơi, nhận xét thái độ của người tham dự và
rút kinh nghiệm.
+ Kết thúc, GV hỏi xem HS đã học được những gì qua trò chơi hoặc GV
tổng kết lại những gì cần học qua trò chơi.
- Khả năng ứng dụng: Việc tổ chức trò chơi cho HS cũng được sử dụng nhiều
trong các tiết học, đặc biệt là các bài học về thực hành. Qua trò chơi, HS có thể
vận dụng nội dung kiến thức đã học vào thực tiễn, giải quyết một số tình huống,
thực hành làm lại những nội dung đã thực hành, ứng dụng thực tế tốt hơn,
không chỉ giúp cho việc ghi nhớ nội dung bài học còn tạo không khí học tập sôi
nổi cho HS. Có thể tổ chức các trò chơi cho HS như: dự đoán đường truyền của
ánh sáng, khi học bài sử dụng năng lượng điện có thể tổ chức cho HS chơi trò
“Ai nhanh, ai đúng”, hay trò chơi “ Làm nhạc cụ” khi dạy bài học về âm thanh
trong cuộc sống SGK Khoa học 4.
2.7. Phương pháp điều tra
- Khái niệm: Phương pháp điều tra là cách tổ chức và hướng dẫn HS tìm hiểu

- Cách tiến hành
Bước 1. Lựa chọn và nêu vấn đề cần tìm hiểu cho HS
Bước 2. Tổ chức cho HS phát biểu ý kiến.
Bước 3. Tổng hợp ý kiến.
- 22 -
- Khả năng ứng dụng: So với các phương pháp trên thì phương pháp động não
ít được sử dụng trong dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng”, tuy nhiên vẫn
được sử dụng trong một số bài học, yêu cầu HS liên hệ thực tế, về đặc điểm cấu
tạo, công dụng hay diễn biến của một số hiện tượng tự nhiên, từ đó có thể dẫn
tới việc HS tự lĩnh hội được nội dung bài học theo sự hướng dẫn của GV.
Việc sử dụng các phương pháp dạy học trên khi dạy học chủ đề, GV nên
kết hợp với một số phương pháp dạy học mới như: dạy học nêu vấn đề, dạy học
theo dự án, dạy học trải nghiệm để đạt hiệu quả tốt nhất của bài học. Trong quá
trình dạy học, mỗi tiết học cần phối hợp các phương pháp khác nhau một cách
linh hoạt, sáng tạo theo hướng giảm sự quyết định và can thiệp của GV, tăng
cường sự tham gia của HS vào các hoạt động tìm tòi, phát hiện kiến thức mới.
Trong đó, GV cần đặc biệt lưu ý tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động khám
phá nhằm gợi sự tò mò khoa học, thói quen đặt câu hỏi, tìm câu giải thích khi
các em được tiếp cận với thế giới xung quanh.
3. Vài nét về phương tiện và hình thức dạy học chủ đề.
3.1. Về phương tiện dạy học.
3.1.1.Khái niệm: Phương tiện dạy học (hay còn gọi đồ dùng, thiết bị dạy học),
là một vật thể hay một tập hợp các vật thể mà GV sử dụng trong quá trình dạy
học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp HS lĩnh hội khái niệm, định
luật và hình thành những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết.
3.1.2. Các phương tiện dạy học chủ đề vật chất và năng lượng
Các dụng cụ thí nghiệm, tranh, ảnh, mô hình giáo khoa và mẫu vật, đèn
chiếu và băng hình giáo khoa, hay các phần mềm dạy học là những đồ dùng,
dụng cụ được sử dụng trong dạy học chủ đề này.
3.1.2.1. Tranh, ảnh

chỉ cần kích thước vừa và nhỏ).
- Đảm bảo sử dụng đúng lúc: Đồ dùng dạy học phải được sử dụng khi cần thiết
và phù hợp với trạng thái tâm lý HS mà GV đã tạo ra trong tiết học. Ngoài ra
cũng có các đồ dùng được trưng bày thường xuyên trong phòng học nhằm khác
sâu và củng cố kiến thức.
- Đảm bảo sử dụng đúng chỗ: khi sử dụng đồ dùng dạy học, GV cần tìm vị trí
để trình bày cho hợp lý, sao cho HS ngồi ở các vị trí trong lớp đều có thể tiếp
nhận thông tin từ đồ dùng dạy học.
- Đảm bảo sử dụng đúng mức độ và cường độ: Nội dung và phương pháp sử
dụng đồ dùng dạy học phải phù hợp với yêu cầu của tiết học và trình độ tiếp thu
của HS.
- Phải kết hợp sử dụng thiết bị dạy học đã được trang bị với việc tận dụng, khai
thác, sử dụng cơ sở vật chất, kĩ thuật ngoài xã hội.
3.2. Hình thức tổ chức dạy học chủ đề
3.2.1. Khái niệm: Hình thức tổ chức dạy học là sự biểu hiện bên ngoài của hoạt
động được phối hợp chặt chẽ của GV và HS, được thực hiện theo một trật tự
xác định và một chế độ nhất định. Các hình thức tổ chức dạy học là hình thái
tồn tại của quá trình dạy học. Các hình thức tổ chức dạy học rất đa dạng, có thể
kể hai hình thức cơ bản sau.
3.2.2. Hình thức dạy học trong lớp.
Hình thức dạy học trong lớp được tổ chức ở dạng tiết học. Hình thức này
áp dụng cho nhiều môn học, dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng cũng được
sử dụng chủ yếu hình thức này. Dạy học trong lớp thường áp dụng các hình
thức như dạy học đồng loạt cả lớp, dạy học cá nhân và dạy học theo nhóm.
Trong đó dạy học theo nhóm có thể đảm bảo được hoạt động tích cực, không ỷ
- 25 -
lại của HS, phát huy sự chủ động, sáng tạo trong học tập của HS, hình thức này
được sử dụng nhiều trong dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng trong môn
Khoa học lớp 4, 5.
3.2.3. Hình thức dạy học ngoài lớp và tham quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status