1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*********
GIANG THỊ THỦY TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY CHO TRẺ MẪU
GIÁO NHỠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCChuyên ngành:
Tâm lí học Người hướng dẫn khoa học
tuệ thì tư duy là phần cốt lõi. Giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo nhỡ là giai đoạn
phát triển mạnh tư duy trực quan-hình tượng. Trẻ em có nhu cầu khám phá
các mối quan hệ và sự phụ thuộc giữa các sự vật, hiện tượng để thỏa mãn
nhhu cầu nhận thức ngày càng cao. Trẻ có khả năng suy luận và khái quát
hóa. Trẻ đã biết so sánh các dấu hiệu giống và khác nhau của hai đối tượng.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo,
tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ mẫu
giáo nhỡ khi trẻ được giáo dục theo “Chương trình giáo dục Mầm non” được
ban hành ngày 25/7/2009.
Là sinh viên mầm non, nhận thức được tầm quan trọng của việc phát
triển tư duy cho trẻ, tôi nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ
mẫu giáo nhỡ”.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm phát hiện đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo
nhỡ. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển tư duy cho trẻ.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ
- Khách thể nghiên cứu:30 trẻ mẫu giáo nhỡ của trường mầm non Mai Đình A
– Sóc Sơn – Hà Nội
4. Giả thuyết khoa học
Tư duy trực quan – hình tượng phát triển không đồng đều ở trẻ. Trẻ có
khả năng suy luận nhưng kết luận của trẻ còn ngây thơ, khái quát hóa được
hình thành nhưng còn nhầm lẫn cái thuộc tính cơ bản và không cơ bản, các
thao tác tư duy được hình thành nhưng còn non yếu. Có nhiều nguyên nhân
triển tư duy cho trẻ.
6.5. Phương pháp xử lý số liệu
Dùng toán thống kê để xử lý số liệu, so sánh, đối chiếu để rút ra kết
luận
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chỉ nghiên cứu sự hình thành và phát triển tư duy trực quan-
hình tượng, đặc điểm khái quát hóa, suy luận và đặc điểm các thao tác tư duy
của trẻ mẫu giáo nhỡ ở trường Mầm non Mai Đình A- Sóc Sơn-Hà Nội.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài này bước đầu tìm hiểu thực trạng tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ.
Qua đó góp phần đánh giá “Chương trình Giáo dục mầm non” ban hành theo
Quy định số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009. 5
9. Cấu trúc của khóa luận
Mở đầu
Nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận
Chương 2. Tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ
Chương 3. Thử nghiệm biện pháp hình thành và phát triển tư duy cho trẻ mẫu
giáo nhỡ
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
này là việc thực hiện các hành động không chỉ bên ngoài mang tính vật chất
cụ thể mà được xem xét ngầm trong óc dựa trên hình ảnh, biểu tượng mà trẻ
đã lĩnh hội được trước đó”. (5,46)
Trong công trình nghiên cứu về tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non,
Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã nhận xét: “Cùng với sự hoàn thiện hoạt động vui
chơi và sự phát triển các hoạt động khác (vẽ, nặn, kể chuyện, xây dựng, đi
chơi, đi dạo…) vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên thêm
nhiều, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu và hứng thú nhận
thức tăng lên rõ rệt. Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực
quan-hình tượng, và đây cũng là thời điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ
nhất”. (6,287)
Gần đây có công trình nghiên cứu của Đỗ Thị Dung về đặc điểm tư duy
của trẻ mẫu giáo lớn về bảo toàn khối lượng, định hệ không gian và giải mã
các sơ đồ đã khẳng định: “Ở các lứa tuổi trước, tư duy chủ yếu của trẻ là tư
duy trực quan-hình ảnh thì điểm phát triển nhất của tư duy trẻ lớn là: xuất 7
hiện kiểu tư duy mới đó là tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư
duy logic”. (3,19)
Như vậy, trên bình diện lý luận và thực tiễn, các vấn đề có liên quan trực
tiếp đến đề tài đã được chúng tôi điểm qua trên đây giúp chúng tôi có tư liệu
quý báu. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu đặc điểm tư duy của
trẻ mẫu giáo nhỡ khi trẻ được giáo dục theo “Chương trình Giáo dục Mầm
non” ban hành theo quyết định số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009.
1.1. Những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài khóa luận
1.1.1. Khái niệm tư duy trong tâm lí học
Để cải tạo thế giới, đòi hỏi con người không chỉ nhận thức cái hiện tại
mà còn nhận thức cả những cái đã diễn ra trong quá khứ và những cái sẽ diễn
giới hạn những khả năng, những nhận thức của con người.
+ Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
Nhờ có tính trừu tượng và khái quát của tư duy mà con người không
chỉ giải quyết những nhiệm vụ của hiện tại mà còn có thể giải quyết những
nhiệm vụ của tương lai, rút ra được quy luật, phương pháp chung.
+ Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ
Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ. Tư duy phải dùng ngôn
ngữ để làm công cụ, phương tiện để giải quyết vấn đề. Nếu không có ngôn
ngữ thì quá trình tư duy không diễn ra được, các sản phẩm của tư duy cũng
không được chủ thể và người khác chấp nhận.
+ Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính
Tư duy phải dựa trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ
sở trực quan sinh động. Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực
tiếp giữa tư duy với hiện thực. Ngược lại, tư duy và sản phẩm của tư duy cũng
ảnh hưởng tới quá trình nhận thức cảm tính. Những đặc điểm tư duy trên có ý
nghĩa to lớn đối với việc dạy học và giáo dục bởi vì: 9
* Không có khả năng tư duy thì trẻ không thể lĩnh hội được kinh nghiệm xã
hội, ngay trong hoạt động vui chơi, tư duy giúp trẻ giải quyết những tình
huống xảy ra trong trò chơi, làm nảy sinh nhiều sáng kiến.
* Muốn phát triển tư duy cho trẻ cần đặt trẻ vào tình huống có vấn đề.
* Phát triển tư duy gắn liền với phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
* Phát triển tư duy tiến hành cùng và thông qua hoạt động vui chơi và các
dạng hoạt động khác.
* Phát triển tư duy gắn với rèn luyện cảm giác, tri giác, trí nhớ.
1.2.2. Các thao tác tư duy
Xét về bản chất thì tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao
tượng hóa và khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau như quan hệ giữa
phân tích và tổng hợp nhưng ở mức độ cao hơn.
Khi xem xét tất cả các thao tác tư duy đã trình bày trên đây trong một
hành động tư duy cụ thể chúng ta cần chú ý mấy điểm sau:
- Các thao tác tư duy đều có quan hệ qua lại với nhau, thống nhất theo một
hướng nhất định do nhiệm vụ tư duy quy định.
- Trong thực tế tư duy, các thao tác đó đan chéo nhau chứ không diễn ra trình
tự nêu ở trên.
- Tùy theo nhiệm vụ, điều kiện tư duy không nhất thiết trong hành động tư
duy nào cũng phải thực hiện tất cả các thao tác trên.
1.2.3. Các hình thức của tư duy
1.2.3.1. Khái niệm
Khái niệm là hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mối liên
hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của tập hợp các sự vật, hiện tượng nào đó,
chẳng hạn các khái niệm “cái nhà”, “con người” 11
1.2.3.2. Phán đoán
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng vận dụng các khái niệm
để khẳng định hoặc phủ định một thuộc tính, một mối liên hệ nào đó của hiện
thực khách quan. Phán đoán được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ là các
mệnh đề theo những quy tắc văn phạm nhất định.
1.2.3.3. Suy luận
Suy luận là một hình thức của tư duy trừu tượng trong đó xuất phát từ
một hoặc nhiều phán đoán làm tiền đề để rút ra phán đoán mới từ những phán
=> Các loại tư duy này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ xung, chi phối
lẫn nhau. Trong đó, tư duy trực quan-hành động và tư duy trực quan-hình ảnh
là hai loại tư duy có trước tuổi học và làm cơ sở cho tư duy trừu tượng.
1.3. Các dạng hoạt động và sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ
1.3.1. Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo nhỡ
Bước sang tuổi mẫu giáo, đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo thay đổi
một cách rõ rệt, một bước ngoặt mới. Ở trẻ xuất hiện tính độc lập, muốn tự
mình làm tấ cả những việc như người lớn nhưng không thể bởi năng lực của
trẻ còn non yếu. Bên cạnh đó, trẻ còn có mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu
hoạt động của trẻ và một bên là yêu cầu, chuẩn mực của người lớn. Để giải
quyết những mâu thuẫn trên, trẻ đã tìm đến một hoạt động mới. Đó là hoạt
động vui chơi. Và vui chơi chính là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Vui
chơi là hoạt động chủ đạo không phải vì trẻ dành nhiều thời gian cho nó, mà
chính là trò chơi đã gây ra những biến đổi về chất trong tâm lý của trẻ. Nó chi
phối toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ và các dạng hoạt động khác (“học tập”,
“lao động”…) làm cho chúng mang màu sắc độc đáo của lứa tuổi mẫu giáo.
Trẻ mẫu giáo có nhiều hình thức vui chơi như: hoạt động với đồ vật, trò
chơi có luật, trò chơi dân gian, trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ)…
Thông qua trò chơi, trẻ tiếp thu và lĩnh hội nhiều kinh nghiệm mới mẻ. Trong 13
trò chơi, trẻ biểu hiện rõ nhất ý thức làm chủ. Trẻ hoạt động hết mình, tích
cực, độc lập, chủ động. Khi hoạt động với đồ vật, trẻ khám phá được những
thuộc tính, chức năng và phương thức sử dụng chúng : cái bát dùng để ăn, cái
thìa dùng để xúc cơm, cái tủ dùng để đựng đồ…Bên cạnh việc hoạt động với
đồ vật, trẻ còn được giao lưu trực tiếp với người lớn, qua đó trẻ phát tiển ngôn
ngữ và lĩnh hội được một số những nguyên tắc cơ bản trong cuộc sống “buộc”
mọi người phải tuân theo: con cái phải vâng lời cha mẹ, lễ phép với người
biểu tượng về sự vật, hiện tượng của trế giới xung quanh làm cơ sở cho tư duy
hoạt động. Đồng thời với việc nhập vai tương đối thành thạo cho phép đứa trẻ
đứng trên quan điểm của người khác mà dự đoán hành vi sắp tới của họ. Và
trên cơ sớ đó, trẻ lập kế hoạch hành động và tổ chức hành vi của bản thân.
Hơn nữa trong khi chơi, những tình huống khó khăn nảy sinh đòi hỏi trẻ phải
tìm cách khắc phục, thúc đẩy tư duy của trẻ phát triển.
1.3.2. Hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo nhỡ
Hoạt động học tập là hoạt động do người học thực hiện nhằm tiếp thu
những tri thức khoa học và kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Trên cơ sở đó hình
thành và phát triển nhân cách người học theo mục tiêu giáo dục đề ra.
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh phổ thông, dạng
hoạt động này mới đạt tới dạng chính thức, còn trước đó ở tuổi mẫu giáo, hoạt
đông học tập đang ở thời kì phôi thai. Trẻ em mẫu giáo chưa thực hiện được
hoạt động học tập bởi vì các chức năng tâm lí và sinh lí ở trẻ em chưa đủ để
thực hiện hoạt động này. Thông qua giao tiếp và hoạt động vui chơi (đặc biệt
là trò chơi ĐVTCĐ) đã hình thành ở trẻ mẫu giáo một số yếu tố sơ khai của
hoạt động học tập. Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ đã tiếp thu được một
lượng tri thức đáng kể về thế giới xung quanh do trẻ trực tiếp nhìn thấy và sờ
thấy được hoặc là người lớn kể lại qua các câu chuyện, phim ảnh. Tuy nhiên
đây chưa phải là tri thức khoa học mà là tri thức kinh nghiệm, tri thức tiền
khoa học. 15
Sự phát triển lòng ham hiểu biết của trẻ trong suốt thời kì mẫu giáo
được thể hiện ở sự tăng lên mạnh mẽ ở số lượng và sự biến đổi tính chất trong
những câu hỏi của trẻ. Nếu lúc 3-4 tuổi trẻ chỉ có một số câu hỏi hướng vào
việc tìm hiểu thế giới xung quanh thì đến 4-5 tuổi những câu hỏi tìm hiểu cái
mới đang trở nên chiếm ưu thế. Nhiều trẻ đã quan tâm đến nguyên nhân của
chứ không có những giờ học chuyên biệt như xướng âm, kí âm, luyện
thanh…
Tiết học của trẻ mẫu giáo chủ yếu được thông qua trò chơi và chủ yếu
là trò chơi ĐVTCĐ, trò chơi có luật… Trẻ bắt đầu tiếp cận với quy luật chung
của sự vật và hiện tượng xung quanh, trẻ em rất thích theo dõi biểu hiện của
những quy luật chung trong những trường hợp riêng. Trước mắt chúng có biết
bao điều mới lạ trong thế giới xung quanh mà chúng khát khao muốn hiểu.
Dần dần trẻ cảm nhận thấy rằng chính học tập ở trường phổ thông mới là con
đường dẫn tới những khám phá kỳ diệu ấy.
Trẻ mẫu giáo chỉ thích tiếp nhận nhiệm vụ học tập trong trường hợp mà
những tri thức kỹ năng có thể vận dụng vào trò chơi, vào các hoạt động tạo
hình hoặc vào một hình thức hấp dẫn nào đó. Trong hoạt động vui chơi đặc
biệt là trong các tiết học, người lớn đánh giá những việc trẻ đã làm, so sánh
tiến trình và kết quả việc làm của trẻ này so với trẻ khác, làm cho trẻ bắt đầu
tự kiểm tra những hành động của mình và đánh giá những tri thức, kỹ năng
của mình một cách đúng đắn hơn. Nhờ vậy, kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá
sẽ được hình thành ở trẻ.
=> Như vậy, ở trẻ mẫu giáo, hoạt động học tập chưa đạt tới dạng chính thức
nhưng đã xuất hiện những yếu tố cần thiết (như tính chủ định của các quá
trình tâm lý, ý thức nghĩa vụ, bắt đầu tự kiểm tra, tự đánh giá…). Việc tổ chức
trò chơi có định hướng cùng với việc tổ chức các tiết học vừa sức và phù hợp
với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo sẽ thúc đẩy những yếu tố của hoạt 17
động học tập nảy sinh một cách thuận lợi chuẩn bị tốt cho trẻ học tập ở trường
phổ thông sau này.
1.3.3. Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ
Bước sang tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản,
triển tâm lí nói chung và tư duy nói riêng là làm sao cho trẻ mất đi cái ngây
dại mà vẫn giữ được cái hồn nhiên vui tươi của trẻ thơ.
1.4. Chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo nhỡ
Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
theo Quyết định số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009, chương trình này
được cụ thể hóa thành sách Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo
dục Mầm non Mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi)(8). Mục tiêu giáo dục về phát triển
nhận thức cho trẻ: thích tìm hiểu khám phá đồ vật và hay đặt các câu hỏi : Tại
sao? Để làm gì? ; nhận biết được một số đặc điểm giống và khác nhau của
bản thân với người gần gũi; phân loại được các đối tượng theo 1-2 dấu hiệu
cho trước; nhận biết được mối liên hệ đơn giản giữa sự vật, hiện tượng quen
thuộc; nhận biết được phía phải, phía trái của bản thân; nhận biết được các
buổi sáng-trưa-chiều-tối; đếm được trong phạm vi 10; có biểu tượng về số
trong phạm vi 5; so sánh và sử dụng được các từ: bằng nhau, to hơn-nhỏ hơn,
cao hơn-thấp hơn, nhiều hơn-ít hơn…; nhận biết được sự giống và khác nhau
giữa các hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác qua một số dấu
hiệu nổi bật; nhận biết được một số công cụ sản phẩm, ý nghĩa của một số
nghề phổ biến và gần gũi.
Để đạt được mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục cần được tổ chức
thành các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp ở tất cả các chủ đề (thế giới
thực vật, thế giới động vật, giao thông…), các môn học (làm quen với biểu
tượng toán, làm quen với tác phẩm văn học, âm nhạc, tạo hình…). Giáo dục
trẻ qua những hoạt động này giúp trẻ hoạt động một cách tích cực trong môi
trường thân thiện. Trẻ được chủ động tham gia vào quá trình học tập, khám 19
phá, trải nghiệm, được sử dụng đồ dùng học tập, đồ chơi, hoạt động cá nhân,
hoạt động theo nhóm. Những hoạt đông này rất phù hợp với trẻ 4-5 tuổi, vì
2.1.1. Sự phát triển tư duy trực quan-hình tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ
Tư duy trực quan-hình tượng phát triển mạnh mẽ trong suốt tuổi mẫu
giáo. Trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu. Ở tuổi mẫu giáo bé,
do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên
ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài toán hết
sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan-hình tượng. Cùng với sự hoàn thiện
hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ và những hoạt động
khác, vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ giàu lên thêm, chức năng kí hiệu
phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt.
Chính vì vậy, đây là thời điểm tư duy trực quan-hình tượng phát triển mạnh
mẽ nhất.
Để khảo sát sự phát triển tư duy trực quan-hình tượng của trẻ mẫu giáo
nhỡ, chúng tôi dùng 2 thực nghiệm:
2.1.1.1. Thực nghiệm 1
Chúng tôi dùng thực nghiệm của J.Piaget. Thực nghiệm được tiến hành như
sau:
1. Đối tượng: 30 trẻ 4-5 tuổi
2. Dụng cụ: + 6 hình tròn màu xanh bằng bìa cứng đường kính
3,5cm
+ 6 hình tròn màu đỏ bằng bìa cứng đường kính 3,5cm
3. Tiến hành
Người thực nghiệm xếp dàn hàng ngang 6 hình tròn màu xanh trên bàn và bảo
trẻ: “Con hãy xếp những hình tròn màu đỏ bằng số hình tròn màu xanh và xếp
ở dưới. Cứ 1 hình tròn màu xanh lại xếp 1 hình tròn màu đỏ”. 21
2. Số hình tròn đỏ có
bằng số hình tròn
xanh không?
28 93,3
2 6,7
30
3. Số hình tròn đỏ có
bằng số hình tròn xanh
24 80 6 20 22
không? Hay nhiều hơn, ít
hơn?
=> Từ bảng số liệu trên chúng tôi thấy được:
- Ở câu hỏi (1) đòi hỏi kỹ năng xếp tương ứng 1-1. Kỹ năng này đã được hình
thành và rèn luyện ở trẻ mẫu giáo bé và đến tuổi mẫu giáo nhỡ thì trẻ tương
đối đã thành thạo. Vì thế, ở câu hỏi này 100% trẻ đã xếp được và đúng theo
yêu cầu của cô.
- Ở câu hỏi (2), khi cho gom 2 loại hình tròn xanh và đỏ lại với nhau rồi hỏi
trẻ xem số hình tròn xanh có bằng số hình tròn đỏ không thì có 93,3% số trẻ
trả lời đúng. Nhưng trong số 93,3% thì có 66.6% số trẻ suy nghĩ một lúc rồi
trả lời câu hỏi của cô. Như vậy, số trẻ này đã có khả năng giải bài toán bằng
“phép thử ngầm trong óc”. Số trẻ còn lại thì trực tiếp đếm 2 loại hình tròn rồi
mới trả lời. Số trẻ trả lời sai chỉ có 6,7%.
Có Không
Lấy
được
Không
lấy
được
Trả lời
được
Không
trả lời
được
Sl % Sl
% Sl % Sl % Sl % Sl %
1. Con có
thích lấy đồ
chơi đó
không?
30
100
0 0
2. Bây giờ con
hãy lấy đồ
chơi đó đi.
30
chơi và khám phá đồ vật.
- Ở câu hỏi (3): Khi người thực nghiệm hỏi trẻ tại sao lại lấy được đồ chơi đó,
80% số trẻ trả lời được. Đa phần trẻ trả lời là: “Con thấy nó giống cái cầu bập
bênh”, hay “ Con thấy nó giống cái đu quay”. Trẻ trả lời được như vậy là do
hàng ngày trẻ hay được tiếp xúc với những thứ đó. Trẻ được nhìn thấy chúng
và được trực tiếp chơi trên những đồ vật đó. Qua đó, trẻ giữ lại được những
biểu tượng đó trong đầu và dùng nó để trả lời câu hỏi của cô. 20% trẻ không
trả lời được là do tư duy trực quan-hình tượng chưa chiếm ưu thế, vốn ngôn
ngữ còn hạn chế, hành động theo cách “thử và có lỗi”.
=> Như vậy, qua 2 thực nghiệm trên trên, chúng tôi nhận thấy rằng: tư duy
trực quan-hình tượng đã bắt đầu chiếm ưu thế ở trẻ. Khi hành động với các
biểu tượng trong óc, trẻ hình dung được các hành động thực tiễn với các đối
tượng và kết quả của những hành động ấy. Bằng con đường đó, trẻ có thể giải
được nhiều bài toán thực tiễn đặt ra cho mình. Tuy vậy, vì chưa có khả năng
tư duy trừu tượng nên trẻ mới chỉ dựa vào những biểu tượng đã có, những
kinh nghiệm đã trải qua, những ấn tượng trực tiếp để giải các bài toán cụ thể.
Vì vậy, trong nhiều trường hợp chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài
mà chưa đi được vào bản chất bên trong. Do đó, trong khi giúp trẻ tư duy-25
hình tượng, cần phải uốn nắn những suy nghĩ, suy luận lệch lạc của trẻ, cung
cấp cho trẻ những biểu tượng chính xác và cần thiết để trẻ có được những suy
luận đúng hơn. Trước hết đó là việc cung cấp các biểu tượng cho trẻ một cách
phong phú và đa dạng; hệ thống hóa và chính xác hóa dần những biểu tượng
về thế giới xung quanh. Cụ thể ở một số hoạt động như: Trong hội họa:
thường xuyên hướng dẫn trẻ quan sát khi ra ngoài đường bằng cách đặt những
câu hỏi giúp trẻ nắm bắt được đặc trưng của những sự vật, tìm mối liên hệ hay
sự khác biệt giữa các giữa các sự vật, hiện tượng, chỉ cho trẻ hiểu chỗ nào