Mở đầu
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đang thực
hiện đã giúp cho đời sống kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều chuyển biến
tích cực. Theo đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh
tế được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô, hình thức hoạt
động, được tự do kinh doanh những ngành nghề, lĩnh vực mà Nhà nước
không cấm. Từ khi có chủ trương cho thành lập các hình thức công ty, doanh
nghiệp tư nhân theo Nghị quyết số 16 (năm 1988) của Bộ Chính trị và Luật
Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân ban hành năm 1990, các DN NQD cũng
không ngừng được hình thành và lớn mạnh. Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp ban
hành năm 1999 đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các DN NQD phát triển,
huy động mọi nguồn lực trong nhân dân để đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo ra
nhiều của cải cho xã hội, giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động góp
phần không nhỏ vào nhịp độ tăng trưởng của đất nước. Các DN NQD được
đánh giá là “vừa năng động vừa manh động nhất”, bên cạnh những mặt tích
cực thì dưới tác động của cơ chế thị trường, họ luôn tìm mọi cách để thu về
cho mình nhiều lợi nhuận nhất, kể cả việc làm ăn phi pháp như trốn thuế,
buôn lậu, kinh doanh trái phép ...
Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, trong những năm
gần đây, thuế chiếm bình quân 21% GDP, nhưng tình trạng thất thu thuế vẫn
diễn ra rất nghiêm trọng. Để chấn chỉnh tình trạng này, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Chỉ thị số 15/2005/CT-TTg ngày 15 tháng 04 năm 2005 về các
biện pháp xử lý nợ đọng và chống thất thu ngân sách nhà nước. Chỉ thị nêu
rõ: “… tình trạng thất thu thuế còn lớn, nhất là đối với khu vực doanh nghiệp
dân doanh…”. Để tăng cường xử lý nợ đọng và chống thất thu ngân sách nhà
nước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho các Bộ, ngành thực hiện nhiều giải
pháp; trong đó, giao trách giao trách nhiệm cho Bộ Công an chỉ đạo các đơn
vị nghiệp vụ thuộc Bộ và Công an địa phương:
- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế, hải quan và các cơ quan hữu quan để
bóng (bất hợp pháp) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai'' năm 1998 của tác giả Đồng
Xuân Thọ; ''Hoạt động phát hiện, khám phá của Cảnh sát kinh tế Hà Nội đối
với các vụ án trốn thuế trong kinh doanh mặt hàng ôtô, xe máy'' năm 2002 của
tác giả Đậu Văn Liên và luận án tiến sĩ luật học: “Phát hiện, điều tra vụ án
trốn thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu của lực lượng Cảnh sát kinh tế ” năm
2005 của tác giả Đồng Xuân Thọ. Tuy nhiên, các công trình trên đều được
thực hiện khi chưa có Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, mặt khác
do chính sách, pháp luật về xuất, nhập khẩu thường xuyên thay đổi nên một
số đề xuất đến nay không còn phù hợp với tình hình thực tiễn.
Ngày 20/08/2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI đã thông qua
Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11, có hiệu lực
kể từ ngày 01/10/2004. Theo đó, tổ chức bộ máy của Cơ quan Cảnh sát điều
tra có nhiều thay đổi, thành lập lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV
với tên gọi mới, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác so với trước đây.
Trước tình hình đó, tôi xin nghiên cứu đề tài: “Phát hiện, điều tra vụ án trốn
thuế nhập khẩu trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của lực lượng
Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ” làm luận
văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình
tội phạm trốn thuế NK trong các DN NQD và hoạt động phát hiện, điều tra
của lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV để đánh giá, rút ra những ưu
điểm và hạn chế, thiếu sót, từ đó, đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả phát hiện và điều tra khám phá các vụ án trong lĩnh vực này.
Để đạt được mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ:
Nghiên cứu, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trốn
thuế, các quy định của pháp luật về thuế NK, về các DN NQD và hoạt động
phát hiện, điều tra của lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV;
Khảo sát tình hình tội phạm trốn thuế NK trong các DN NQD và thực
trạng hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm này của lực lượng CSĐT tội
của lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV, trên cơ sở đó để đề xuất
những giải pháp căn bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện, điều tra
loại tội phạm này.
Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể là tài liệu tham khảo hữu ích
cho hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy trong các trường Công an
nhân dân, những giải pháp và kiến nghị được ứng dụng sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả công tác phát hiện, điều tra loại tội phạm này.
6. Bố cục của luận văn
Luận văn có cấu trúc thành ba phần:
- Phần mở đầu;
- Phần nội dung gồm 3 chương;
- Phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
Nhận thức chung về tội phạm trốn thuế nhập khẩu
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hoạt động phát hiện, điều
tra của lực lượng cảnh sát điều tra
tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
1.1. Nhận thức chung về tội phạm trốn thuế NK trong các DN NQD
1.1.1. Pháp luật hiện hành của Nhà nước về hoạt động NK các mặt
hàng cơ bản
- Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được Quốc hội khoá VIII, kỳ họp
thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 12 năm 1991 và được Quốc hội sửa đổi, bổ
sung vào các kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá IX (năm 1993), kỳ họp thứ 3, Quốc
hội khoá X (năm 1998), kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI (năm 2005).
- Luật Hải quan năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải
quan (Quốc hội XI, kỳ họp thứ 7).
- Luật Thương mại được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày
10 tháng 05 năm 1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1998.
- Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 07 năm 1998 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, NK,
Số tiền thuế
nhập khẩu
phải nộp
=
Số lượng từng đơn vị mặt
hàng thực tế nhập khẩu
ghi trong tờ khai hải quan
x
Giá
tính
thuế
x
Thuế suất của từng mặt
hàng ghi trong Biểu thuế
tại thời điểm tính thuế
Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối:
Giá tính thuế đối với hàng hóa NK là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu
nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế. Nếu hàng hoá NK có
xuất xứ từ các nước hoặc tổ chức quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện trị giá
tính thuế đối với hàng hoá NK theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại thì giá tính thuế NK được tính dựa
vào Nghị định số 60/2002/NĐ-CP ngày 06 tháng 06 năm 2002 của Chính phủ và
Thông tư số 118/2003/TT-BTC ngày 08 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính.
Theo các quy định này, giá tính thuế NK được tính bằng các phương pháp:
- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá NK;
- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá NK giống hệt;
- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá NK tương tự;
- Phương pháp giá trị khấu trừ;
- Phương pháp giá trị tính toán;
- Phương pháp khác.
biện pháp về thuế để tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế
chống phân biệt đối xử. Bộ trưởng Bộ Tài chính qui định áp dụng mức thuế
suất thuế NK đối với từng mặt hàng, theo thủ tục do Chính phủ qui định dựa
trên biểu thuế NK theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất do
ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành. Hiện nay, Việt Nam có trên 3.000
nhóm mặt hàng và trên 25 mức thuế suất.
Như vậy, quản lý hoạt động NK hàng hoá có nhiều văn bản pháp luật
khác nhau, do nhiều cơ quan ban hành và tham gia điều hành, quản lý. Cùng
một loại hàng hoá NK nhưng có nhiều căn cứ, cách tính thuế và mức nộp thuế
NK khác nhau, bọn tội phạm rất dễ lợi dụng để hoạt động phạm tội trốn thuế
NK, lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV phải đặc biệt chú ý để chủ
động phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này.
1.1.2. Nhận thức về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Từ năm 1986, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương,
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các loại hình
DN NQD với các tên gọi khác nhau như doanh nghiệp tư nhân, công ty
TNHH, công ty cổ phần, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài… cùng tồn tại bình
đẳng với các doanh nghiệp nhà nước và hàng ngày đang góp phần xây
dựng, phát triển nền kinh tế. Quốc hội cũng đã thông qua các Luật Doanh
nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Công ty, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam đến Luật Doanh nghiệp năm 1999, đã tạo ra hành lang pháp lý thuận
lợi cho các loại hình DN NQD phát triển cả về số lượng, vốn và lĩnh vực,
ngành nghề hoạt động.
Đặc điểm cơ bản của các DN NQD là quyền sở hữu tư nhân (nếu có các
hình thức sở hữu khác thì chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ) về tư liệu sản xuất, quy mô sản
xuất đa dạng, lấy phương hướng kinh doanh thu lợi nhuận làm phương hướng
hoạt động cơ bản.
Để đưa ra khái niệm DN NQD, cần tìm hiểu khái niệm về doanh nghiệp
nhà nước, theo qui định tại Điều 1 của Luật Doanh nghiệp nhà nước thì:
''Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn
người cùng quản lý trước toàn thể thành viên về những việc làm nhân danh
công ty. Công ty không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
- Công ty cổ phần:
Là công ty hợp vốn, vốn của công ty được chia làm nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần, các thành viên gọi là cổ đông, cổ đông có cổ phiếu và
chịu trách nhiệm tài sản đến hết giá trị hưởng cổ phần mà mình có.
Các sáng lập viên phải cùng nhau mua ít nhất là 20% số cổ phần dự kiến
phát hành của công ty, hoặc phải công khai gọi vốn từ các nguồn khác.
Công ty được phép phát hành trái phiếu để thu hút vốn đầu tư theo quy
định của pháp luật.
Trong thời gian hoạt động, công ty phải có ít nhất 7 thành viên.
- Doanh nghiệp tư nhân:
Là doanh nghiệp do một người đứng ra bỏ vốn thành lập, làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về toàn bộ hoạt động của
doanh nghiệp.
Trong khuôn khổ của pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự
chủ kinh doanh, kinh doanh được hiểu là thực hiện một số hoặc tất cả các
công đoạn đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm sinh lợi.
- Xí nghiệp liên doanh:
Là một pháp nhân có quốc tịch Việt Nam tồn tại dưới dạng công ty
TNHH, nhưng vốn là do hai bên là bên Việt Nam (góp tối thiểu là 30%) và
bên nước ngoài đóng góp.
Thành phần Hội đồng quản trị phụ thuộc vào số vốn góp.
- Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Là một xí nghiệp do một đơn vị nước ngoài (được phép của Chính phủ
Việt Nam) đầu tư 100% vốn vào Việt Nam để sản xuất, kinh doanh mà khi
hoạt động được coi là pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam.
Bên nước ngoài nắm toàn bộ quyền kiểm soát hoạt động sản xuất,
kinh doanh.
Theo Luật Thương mại năm 1997 và Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày
Nhà nước và biết khai thác các kẽ hở của các chế độ, chính sách đó để thu lợi
bất chính. Vì vậy, các vi phạm pháp luật trong các DN NQD được thể hiện rất
đa dạng, phức tạp.
- Ban lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp, kế toán, thủ kho ..., những người
giữ các vị trí then chốt trong doanh nghiệp thường có quan hệ gia đình, bạn bè
mật thiết, họ có chung lợi ích nên họ thường bao che cho nhau khi có các vi
phạm, mặt khác, những người làm thuê cho doanh nghiệp luôn có tâm lý sợ bị
chủ đuổi việc. Đây cũng là trở ngại, khó khăn cho việc tổ chức phát hiện, đấu
tranh chống các vi phạm pháp luật trong các DN NQD.
- Chủ doanh nghiệp thường lôi kéo các cán bộ có chức, có quyền trong các
cơ quan quản lý nhà nước tiếp tay cho việc làm ăn phi pháp của mình, đây
cũng là trở ngại lớn cho việc phát hiện, điều tra xử lý các vi phạm pháp luật
trong các DN NQD.
1.1.3. Đặc điểm pháp lí của tội phạm trốn thuế NK trong các DN NQD
Tội phạm trốn thuế NK trong các DN NQD là một dạng của tội trốn thuế
được quy định tại Điều 161 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
'' Điều 161. Tội trốn thuế
1. Người nào trốn thuế với số tiền từ năm mươi triệu đồng đến dưới một
trăm năm mươi triệu đồng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế
hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều
153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233,
236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt
tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc bị phạt cải tạo không giam
giữ đến hai năm.
2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ một trăm năm mươi triệu đồng đến
dưới năm trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần
đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ năm trăm triệu đồng trở lên hoặc
trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy
năm.
* Khách thể của tội phạm: tội phạm trốn thuế NK đã xâm phạm chính sách
thuế của Nhà nước trong hoạt động ngoại thương, sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ, làm thất thoát, giảm sút nguồn thu cho ngân sách nhà nước và
hiệu quả điều hành nền kinh tế.
* Mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm trốn thuế
NK đòi hỏi phải có hai dấu hiệu:
- Thứ nhất, phải có hành vi trốn tránh việc nộp thuế, tức là đối tượng nộp
thuế dùng thủ đoạn gian dối để không phải đóng thuế hoặc đóng số thuế ít
hơn số thuế theo quy định phải nộp. Các thủ đoạn đó phổ biến như sau:
Kê khai không đúng căn cứ tính thuế theo quy định của pháp luật về
thuế xuất khẩu, thuế NK;
Lập sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ, hợp đồng sai với thực tế sản
xuất, kinh doanh;
Lợi dụng các kẽ hở trong các chính sách, pháp luật về quản lí hoạt
động NK để gian lận, trốn thuế NK;
Làm giả chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hợp đồng ngoại thương, chứng
từ thanh toán và các chứng từ khác có liên quan để trốn thuế;
Lợi dụng Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho ân
hạn nộp thuế để xin nhập nhiều hàng hóa, nợ thuế NK với số tiền lớn sau đó tẩu
tán hàng và chây ỳ không nộp thuế, tiến hành giải thể doanh nghiệp hoặc bỏ
trốn.
Các dấu hiệu nêu trên thể hiện rõ nét hành vi trốn thuế NK trong các
DN NQD.
- Thứ hai, về mặt định lượng thì số thuế NK bị trốn phải từ năm mươi
triệu đồng trở lên hoặc dưới năm mươi triệu đồng nhưng:
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế;
Hoặc đã bị kết án về tội trốn thuế (có tiền án);
Hoặc đã bị kết án về một số tội khác được quy định tại các Điều
153 ... 160, 164, 193 ... 196, 230, 232, 233, 236 và 238 Bộ luật Hình sự
(nhưng chưa được xoá án tích).
chức. Trong khi đó, chủ thể của tội phạm trốn thuế chỉ là con người cụ thể có
đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định, có chủ trương hoặc
trực tiếp thực hiện hành vi trốn thuế;
Việc xử lý vi phạm hành chính về thuế là do các cơ quan quản lí nhà
nước thực hiện như ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan thuế, cơ quan hải
quan..., trong khi đó việc áp dụng chế tài để xử lý tội phạm trốn thuế chỉ do
Toà án mới có quyền áp dụng và phải theo trình tự mà Bộ luật TTHS quy
định;
Vi phạm hành chính về thuế do các luật thuế và các văn bản dưới luật
về thuế quy định; trong khi đó, tội phạm trốn thuế chỉ được quy định trong Bộ
luật Hình sự...
Việc phân biệt giữa hành vi vi phạm hành chính trốn thuế với hành vi là
tội phạm trốn thuế có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn. Nhận thức đúng điều đó là
cơ sở để lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV tập trung đấu tranh có
trọng tâm, trọng điểm và có hiệu quả với tội phạm trốn thuế, làm sáng tỏ các
dấu hiệu đặc trưng của tội phạm để xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.
Tóm lại, tội phạm trốn thuế NK trong các DN NQD là một dạng của
tội phạm trốn thuế được quy định tại Điều 161 của Bộ luật Hình sự năm
1999. Nghiên cứu khái niệm và đặc điểm pháp lý của tội phạm trốn thuế
nói chung và tội phạm trốn thuế NK trong các DN NQD nói riêng có ý
nghĩa rất quan trọng đối với lực lượng CSĐTTP về TTQLKT và CV trong
việc nhận diện tội phạm, phục vụ tốt hơn yêu cầu phát hiện, điều tra và xử
lý vụ án trốn thuế.
1.1.4. Những đặc trưng cơ bản của tội phạm trốn thuế NK trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Tội phạm kinh tế nói chung, tội phạm trốn thuế NK trong các DN
NQD nói riêng đều có những đặc trưng riêng biệt. Nghiên cứu các đặc
trưng này có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho lực lượng CSĐT tội phạm về
TTQLKT và CV áp dụng kịp thời, hợp lý và có hiệu quả các biện pháp
nghiệp vụ trong phòng ngừa, phát hiện và điều tra, khám phá các vụ án trốn
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI PHẠM HỌC
1. Khái niệm, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa
tội phạm học và các môn khoa học khác.
1.1 Khái niệm.
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới phục vụ lợi ích xã
hội, loài người đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và
xã hội. Điều đó là cơ sở nảy sinh và phát triển nhiều ngành khoa học khác
nhau.
Đã từ lâu, vấn đề đấu tranh ngăn chặn tiến tới làm giảm và loại trừ tội
phạm đã trở thành một trong những mối quan tâm chú ý của các Nhà nước
dưới mọi chế độ chế độ xã hội khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả đối với
các loại tội phạm – hiện tượng xã hội tiêu cực và phức tạp, đòi hỏi con người
cần phải không ngừng nghiên cứu để nhận thức đầy đủ về hiện tượng này. Tội
phạm là gì? Nó được hình thành phát triểnvà tồn tại theo những quy luật nào?
Để đấu tranh với nó cần phải tiến hành bằng những phương pháp tác động ra
sao?...Công việc đó được tiến hành gắn liền với thực tế đấu tranh chống tội
phạm ở mỗi quốc gia, qua mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Kết quả của
quá trình đó đem laị cho loài người những tri thức phong phú cần thiết về hiện
tượng tội phạm và những kinh nghiệm quý báu trong đấu tranh chống tội
phạm.
Những tri thức và kinh nghiệm về tội phạm và phương pháp phòng
chống tội phạm ngày càng được tích luỹ đầy đủ. Bước đầu được phản ánh tản
mạn riêng lẻ, sau đó được đúc rút hệ thống lại và được nghiên cứu tỉ mỉ sâu
sắc hơn trong các tài liệu chuyên khảo của các ngành khoa học pháp lý, khoa
học xã hội. Trong điều kiện các lĩnh vực khoa học phát triển, mạnh mẽ theo
hướng chuyên sâu, vấn đề nghiên cứu về tội phạm và biện pháp đấu tranh
chống tội phạm được nâng lên và tách riêng thành bộ môn khoa học độc lập
chuyên nghiên cứu về những quy luật hình thành, phát sinh phát triển của tội
phạm cùng với các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhằm loại bỏ và hạn chế
sự tác động của hiện tượng này. Như vậy, ngành khoa học nghiên cứu về tội
Mỗi ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Đó là
những quy luật tác động trong lĩnh vực mà ngành khoa học đó cần nghiên
cứu. Tội phạm học với tư cách là môn khoa học độc lập, vì vậy cũng có đối
tượng nghiên cứu riêng. Đó là những sự vật hiện tượng liên quan đến hoạt
động tội phạm và phòng ngừa tội phạm.
Trong các tài liệu Tội phạm học của nhiều nước trên thế giới đã được
xác định và phân loại thành những nhóm đối tương nghiên cứu như: nghiên
cứu tội phạm là hiện tượng của xã hội; nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân
thân người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Có thể xác nhận rằng việc định
ra đối tượng nghiên cứu của tội phạm như vậy là đúng đắn, bởi vì điều đó
phản ánh được khái quát nội dung nghiên cứu của vấn đề về tội phạm theo
một trình tự hệ thống bao hàm được đầy đủ những vấn đề phản ánh quy luật
hoạt động nhận thức về hiện tượng tội phạm, từ việc xác định khái niệm tội
phạm, phạm vi tình trạng, cấu trúc tội phạm và diễn biến của nó, đến việc đi
sâu nghiên cứu nguyên nhân, điều kiên của tình trạng này, cúng như về nhân
thân người phạm tội, tất cả điều đó nhằm đến mục đích là nghiên cứu tìm tòi
biện pháp, phương tiện phòng ngừa tội phạm. Cách xác định như trên còn cho
thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung của các nhóm đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu vấn đề này có tác dụng ảnh hưởng với vấn đề khác trong hệ
thống các đối tượng đã nêu, vì vậy để thấy rằng các nhóm đối tượng nghiên
cứu trên có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng tác động lẫn nhau và không cho
phép người nghiên cứu coi nhẹ đối tượng nghiên cứu nào trong việc nghiên
cứu soạn thảo các vấn đề về Tội phạm học. Trong lý luận Tội phạm học người
ta gọi bốn nhóm đối tượng nghiên cứu đó là bốn bộ phận cấu thành cơ bản
hoặc bốn nhóm hiện tượng xã hội cần phải nghiên nghiên cứu trong khoa học
tội phạm.
Các đối tượng nghiên cứu và nội dung cơ bản của Tội phạm học bao
gồm:
2.1.1 Tình trạng tội phạm.
Tình trạng tội phạm là hệ thống các sự kiện phạm tội cụ thể được diễn
nhân và điều kiện, mối quan hệ tác động giữa nguyên nhân và điều kiện trong
quá trình tác động đến hành vi phạm tội.
- Nghiên cứu tìm ra cơ chế tác động của nguyên nhân và điều kiện tội
phạm đối với hành vi của con người phạm tội (các yếu tố tiêu cực về kinh tế,
tư tưởng, tâm lý, giáo dục…tác động đến con người như thế nào trong quá
trình đãn đến việc phạm tội).
Trong điều kiện trình độ lý luận về tội phạm ở nước ta hiện nay chưa
được phát triển hoàn hảo, trong việc nghiên cứu và xác định nguyên nhân,
điều kiện của Tình trạng tội phạm nói chung và tội phạm cụ thể còn nhiều vấn
đề cần phải xem xét để đi đến thống nhất quan điểm. Chẳng hạn còn có sự
nhầm lẫn giữa nguyên nhân và điều kiện phạm tội, giữa nguồn gốc tội phạm
và nguyên nhân, điều kiện tội phạm…điều đó dẫn đến việc xem xét đánh giá
vấn đề nguyên nhân và điều kiện tội phạm còn có sự khác nhau. Từ đó cho
thấy, tính cấp bách của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tội phạm
trong khoa học Tội phạm học ở nước ta.
1.2.3. Nhân thân người phạm tội.
Nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu quan trọng của Tội
phạm học. Có thể hiểu khái niệm nhân thân người phạm tội là “những đặc
điểm dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người phạm tội”. Con người
có thể có nhiều loại phẩm chất tính cách khác nhau như tính cách sinh vật
(giới tính, lứa tuổi, chiều cao , cân nặng, màu tóc, màu da…) bản năng động
vất và những phẩm chất tính cách xã hội (quan điểm, trình độ học vấn, tình
trạng gia đình, quan hệ xã hội …)
Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội theo các nội dung
sau:
- Nghiên cứu các đặc điểm về xã hội – nhân khẩu học bao gồm giới
tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp….
- Nghiên cứu về phẩm chất đạo đức và tâm lý cá nhân kể phạm tội. Ơ
đây cần đề cập đến các đặc điểm về thái độ đối xử của kể phạm tội và các tổ
chức chính quyền, tổ chức xã hội và những con người xung quanh, đối với