TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
VŨ THỊ NGUYÊN VẬN DỤNG MỘT SỐ QUAN ĐIỂM
CỦA LÝ THUYẾT KIẾN TẠO ĐỂ DẠY
HỌC CÁC BÀI VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI
TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 5
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tự nhiên và xã hội
HÀ NỘI, 2011
ứng mục tiêu của hệ thống giáo dục và giáo dục Tiểu học, chương trình môn
Khoa học đề ra mục tiêu phải khơi dạy tính tích cực trong hoạt động của học
sinh.Đặc biệt dạy môn Khoa học với nhiều chủ đề đa dạng đòi hỏi tính đầy
đủ và chính xác của những tri thức khoa học và người giáo viên phải làm thế
nào để xây dựng cho học sinh niềm tin, kiến thức khoa học bằng các biện
pháp và phương pháp dạy học khác nhau……. dạy học kiến tạo là phù hợp
nội dung khoa học lớp 5. Trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học, nội dung
về quá trình phát triển của cơ thể con người là nội dung khá mới với học
sinh Tiểu học. Và hiện nay, trước thực tại xã hội ngày càng phát triển, cuộc
sống vật chất và tinh thần của con người được đáp ứng ngày càng cao, học
sinh Tiểu học ngày càng được chăm lo và phát triển đủ cả về mặt vật chất và
tinh thần thì việc cung cấp cho các em những kiến thức khởi đầu về quá
trình phát triển của cơ thể con người là một việc làm thiết thực và quan
trọng, là bước ngoặc giúp học sinh bước vào cấp học cao hơn với môn Sinh
học.Vì vậy tôi chọn đề tài : “Vận dụng một số quan điểm của lý thuyết kiến
tạo để dạy học các bài về quá trình phát triển của cơ thể con người trong
môn Khoa học lớp 5”.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng một số quan điểm của lý thuyết kiến tạo để dạy học các bài
về quá trình phát triển của cơ thể người trong môn Khoa học lớp 5, để tổ
chức quá trình dạy học lớp 5 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Khoa
học ở Tiểu học.
3. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học được tổ chức trên cơ sở vận dụng một số quan điểm
của lý thuyết kiến tạo trong dạy học về nội dung quá trình phát triển của cơ
thể người trong chủ đề “Con người và sức khoẻ” của môn Khoa học lớp 5.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc dạy học theo một số quan điểm cơ bản của lý
thuyết kiến tạo và vận dụng để tổ chức quá trình dạy học các bài về quá trình
phát triển của cơ thể người.
Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Phương pháp dạy học ở Tiểu học
1.1.1.1.
Khái niệm phương pháp dạy học
Hêghen quan niệm: “Phương pháp là cách thức làm việc của chủ thể,
cách thức này phụ thuộc vào nội dung vì phương pháp là vận động bên
ngoài của nôi dung”.
Thuật ngữ phương pháp dạy học bắt nguồn từ tếng Hy Lạp METHOR
có nghĩa là con đường để đạt được mục đích dạy học. Theo đó phương pháp
dạy học là con đường để đạt được mục đích dạy học.
Phương pháp dạy học là hình thức, cách thức hoạt động của giáo viên
và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục đích
dạy học.
thức học sinh có thể chiếm lĩnh bằng các hoạt động tự lực mặc dù có đủ
phương tiện học tập và phương pháp dạy học tích cực không phải dễ dàng
được vận dụng ở mọi lúc, mọi nơi, cũng không phải mọi học sinh đều tự
nguyện, tự giác tham gia những hoạt động tích cực. Phương pháp nào cũng
có ưu điểm và nhược điểm của nó vì thế phải phối hợp các phương pháp.
Đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy và học tích cực cần phải
sử dụng các phương pháp dạy học hợp lý nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh. Các cách lý luận chỉ rõ về mặt hoạt động nhận thức thì phương
pháp thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời nói. Trong
nhóm các phương pháp dùng lời nói thì lời của thầy trò, lời của sách đóng
vai trò là nguồn tri thức chủ yếu, đặc biệt quan trọng là lời của thầy. Phương
pháp dùng lời có sử dụng các phương tiện trực quan nhưng phương tiện này
chỉ đóng vai trò minh hoạ cho lời thầy.Trong các phương pháp dùng lời thì
phương pháp vấn đáp học sinh, làm việc với sách, báo cáo nhỏ của học sinh
có nhiều thuận lợi để phát huy tính tích cực của học sinh.
Trong nhóm các phương pháp trực quan thì các phương tiện trực quan
là “nguồn” chủ yếu dẫn đến kiến thức mới. Trong các phương pháp trực
quan học sinh dùng tri giác tài liệu do thầy biểu diễn và dùng tư duy rút kiến
thức mới.
Đổi mới phương pháp dạy học lấy hoạt động của học sinh làm trung
tâm, tăng cường hoạt động hoạt động cá nhân, thông qua hoạt động cá nhân
kích thích động cơ bên trong của người học, làm họ tăng cường tính chủ
động, tự tin phát triển năng lực suy lý tự phát hiện kiến thức. Do vậy cần tổ
chức hoạt động tự học của học sinh. Rèn luyện phương pháp tự học không
ngừng nâng cao hiệu quả học tập mà còn là mục tiêu của đổi mới phương
pháp dạy và học. Giáo viên cần giao nhiệm vụ cho học sinh. Nhiệm vụ học
tập cụ thể, rõ ràng, đúng mực phù hợp với năng lực và điều kiện nhận thức
của các em. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tự học bằng cách đọc tài
liệu tham khảo hay sách giáo khoa và sau khi nghe giảng như thế nào, cách
giải quyết các bài tập ra sao… Giáo viên có thể sử dụng phương pháp vấn
Theo Birner: “Người học tạo nên kiến thức của bản thân mình bằng
cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và
kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào tình huống mới, hợp thành tổng thể
thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức
đang tồn tại trong óc”.
Bàn về kiến tạo, Giáo sư Tiến sĩ khoa học Nguyễn Bá Kim viết “Học
tập là quá trình người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi
với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn, những sự mất cân
bằng”.
Theo Phạm Gia Đức: “Kiến tạo là lý thuyết DH mà nền tảng của nó là
dựa trên kiến thức đã có của người học để xây dựng kiến thức mới sao cho
kiến thức mới phải phù hợp trong tổng thể cái đã có”.
Lương Việt Thái lại phân tích quan điểm về lý thuyết kiến tạo như sau:
“Trong quá trình học tập, những ý tưởng, quan điểm của học sinh được bộc
lộ, sử dụng, đánh giá và thách thức. Nếu những thông tin mới mâu thuẫn với
quan điểm hiện đại của học sinh thì họ phải điều chỉnh thay đổỉ cho phù hợp.
Ngoài ra, để ý tưởng mới trở thành bộ phận gắn bó hữu cơ với kiến thức cũ
của người học cần tích cực xây dựng tạo lập những mối quan hệ giữa chúng.
Còn Đào Thị Việt Anh bàn về một số quan điểm kiến tạo như:
- Quan điểm kiến tạo ngoại sinh: Môi trường làm việc bên ngoài đóng
vai trò quan trọng trong việc tiếp thu kiến thức. Việc lĩnh hội kiến thức là kết
quả của sự tương tác tích cực giữa cá nhân với đối tượng nhận thức trong
mối quan hệ giữa các thành viên xung quanh.
- Quan điểm kiến tạo nội sinh: Yếu tố con người đóng vai trò quyết
định, việc lĩnh hội kiến thức xảy ra bên trong cá nhân theo quy luật nhận
thức.
- Quan điểm kiến tạo biện chứng: Đứng ở vị trí trung gian, quan điểm
biện chứng trung gian cho rằng môi trường bên ngoài cũng như yếu tố con
người đều ánh hưởng đến việc kiến tạo tri thức.
Xuất phát từ bản chất của kiến tạo trong dạy học nhiều nhà nghiên cứu
mang tính chủ quan”. Từ đó tác giả nếu nên các nguyên tắc của lý thuyết
kiến tạo là:
- Không có kiến thức khách quan tuyệt đối. Kiến thức là một quá trình
và sản phẩm được kiến tạo theo từng cá nhân (tương tác giữa đối tượng học
tập và người học).
- Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và
vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp được khảo sát một cách
tổng thể.
- Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong một quá trình tích cực,
vì chỉ có từ những kinh nghiệm và kiến thức và khả năng đã có.
Học tập trong nhóm có ý nghĩa rất quan trọng góp phần cho người học
tự điều chỉnh sự học tập của bản thân mình.
1.1.3. Dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
1.1.3.1. Đặc trưng của dạy học theo lối kiến tạo
1.1.3.1.1. Quá trình kiến tạo tri thức
Theo J.piaget, quá trình kiến tạo tri thức xảy ra theo hai hướng đồng
hoá và điếu ứng. Đồng hoá là quá trình nếu gặp tri thức mới, nhưng tương tự
như tri thức đã biết thì tri thức mới này có thể kết hợp trực tiếp vào so đồ
nhận thức đang tồn tại, hay nói cách khác học sinh có thể dựa vào kiến thức
cũ để giải quyết tình huống mới. Điếu ứng là quá trình khi gặp một tri thức
mới có thể hoàn toàn khác biệt với những sơ đồ nhận thức đang có được
thay đổi để phù hợp với tri thức mới.
Xuất phát từ quan điểm của J.Piaget về bản chất của quá trình nhận
thức Von Glaserfeld đưa ra một số luận điểm như sau:
- Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ
không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài.
- Nhận thức là quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của
chính mỗi người. Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập
đang tồn tại bên ngoài ý thức chủ thể.
- Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân thu nhận phải tương xứng với
hiện tiềm năng phát triển của cá nhân đó. Nếu các hoạt động cuộc sống được
tổ chức trong vùng phát triển gần nhất thì sẽ đạt hiệu quả cao. Văn hoá, ngôn
ngữ tương tác lên việc kiến tạo tri thức của mỗi cá nhân. Mỗi trẻ em đều bắt
đầu sự học tập của mình từ rất lâu trước khi đến trường, việc học ở nhà
trường không phải bắt đầu từ chỗ trống rỗng mà bắt đầu từ một trình độ phát
triển hiện đại của trẻ. Như vậy, cũng có thể thấy trẻ bắt đầu việc học không
phải từ con số không mà bắt đầu từ một số “vốn” kinh nghiệm, tri thức nhất
định. Tri thức của trẻ không ở trạng thái tĩnh, mà luôn ở trong quá trình hình
thành, chín muồi và phát triển. Dạy học trong vùng phát triển nhất là việc
dạy học tính đến trạng thái phát triển này, tức là khêu gợi sức sống của các
tri thức đã hình thành trong trẻ.
Như vậy, học là quan tâm đến quá trình học bằng cách tìm hiểu những
gì xảy ra trong óc người học, trong hộp đen. Tức là cách tiếp cận về trí tuệ
theo bước chân của Piaget với cơ chế đồng hoá, điếu ứng, cân bằng… hay
Vưgôtxki với vùng phát triển gần: “học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu
trúc nhận thức để thích nghi với môi trường”, “học là tích hợp đồng hoá,
điều ứng, “nhập nội” những dữ liệu mới làm biến đổi cấu trúc nhận thức nội
tại hiện có”.
Polia: “Việc học tập bắt đầu hành động và sự cảm thụ, rồi từ đó đi đến
các từ và các khái niệm và phải kết thúc bằng sự rèn luyện những đặc điểm
mới mẻ nào đó của tư chất trí tuệ…”
“Để quá trình học tập có hiệu quả giai đoạn nghiện cứu cần phải tiến
hành trước giai đoạn sắp đặt lời và sự hình thành các khái niệm, cuối cùng
tài liệu học tập cần phải đi vào tiềm lực chung của tri thức học sinh, tạo khả
năng nâng cao trình độ tri thức của họ”.
Carl Rogers: “ Sự học hữu dụng nhất về phương diện xã hội trong thế
giới hiện đại là học về tiến trình học tập, là liên tục mở rộng kinh nghiệm và
kết hợp chính mình vào thay đổi”. Trong nghiên cứu về lý luận nhận thức
linh hoạt tiến sĩ Bùi Văn Quân viết:
1.Theo lý luận nhận thức linh hoạt, nhận thức của người học có tính linh
1.1.3.1.2. Tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học kiến tạo.
Từ điển Tiếng Việt cho rằng: Tích cực là hăng hái, nhiệt tình với công
việc. Tính tích cực có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển và trái với
tiêu cực. Khi nói đến tính tích cực là nói đến tính chủ động và những hoạt
động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển.
Theo tác giả IF.Kharlamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của
học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình nắm vững tri thức”.
Nhà vật lý người Đức, Lictenbe có câu châm ngôn nổi tiếng: “Những
cái gì mà bản thân anh buộc phải khám phá, để lại trong tiềm thức của anh
con đường nhỏ mà anh lại có thể sử dụng khi cần thiết”.
Trong dạy học kiến tạo, mọi tri thức mới đều được cài đặt vào trong
các tình huống mà nếu không chủ động khám phá, tìm tòi học sinh không
thể xây dựng được tri thức của riêng mình. Như vậy tính linh hoạt của nhận
thức của học sinh được phát huy một cách tối đa. Nhận thức luôn bị kích
hoạt do sự thay đổi căn bản của môi trường học tập, tri thức của học sinh là
loại tri thức sống động bắt nguồn từ chính những yếu tố cấu thành hoàn cảnh
cụ thể của học tập và sự phát triển của cá nhân học sinh.
1.1.3.2. Môi trường học tập mang tính kiến tạo
1.1.3.2.1. Môi trường học tập
Môi trường: là tất cả các yếu tố bên trong cũng như yếu tố bên ngoài
tạo thành môi trường của người dạy, người học.
Môi trường bên trong: chỉ mối quan hệ nội tại bên trong của người
dạy, người học như: tiềm năng trí tuệ, xúc cảm, có giá trị, vốn sống, sức
khoẻ, phong cách…
Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu ttố bên ngoài của người học, người
dạy như hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống của người dạy
và người học.
1.1.3.2.2. Môi trường học tập kiến tạo
Môi trường học tập mang tính kiến tạo là môi trường thân thiện giữa
dựng và thử nghiệm các ý tưởng và giải pháp, kiểm tra các ý tưởng và giải
pháp đó trong một môi trường hợp tác và chia sẻ.
Dạy học theo lối kiến tạo không những không hạ thấp vai trò của giáo
viên mà trái lại đòi hỏi giáo viên phải có trình độ cao hơn nhiều về phẩm
chất và năng lực nghề nghiệp.
Giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn, trọng tài luôn đi bên cạnh hỗ
trợ học sinh kiến tạo tri thức mới, cố vấn khi học sinh gặp khó khăn và là
trọng tài trong các cuộc tranh luận của học sinh. Để làm được điều này đòi
hỏi giáo viên phải có kiến thức vững chắc, thông thạo các con đường tìm
kiếm tri thức. Không chỉ có thế, giáo viên còn là người dẫn dắt học sinh,
động viên học sinh khi gặp khó khăn, trợ giúp khi học sinh cần đến. Giáo
viên là người thầy, người bạn của học sinh.
1.1.4. Ưu, nhược điểm của dạy học theo lối kiến tạo
Không có một phương pháp dạy học nào là tối ưu, là tốt nhất, phương
pháp nào cũng bộc lộ những ưu điểm và hạn chế. Giáo viên luôn linh hoạt và
sáng tạo trong vận dung các phương pháp dạy học sao cho có kết quả tốt
nhất cho học sinh của mình. Dạy học theo lý thuyết kiến tạo có một số ưu
điểm và hạn chế sau:
1.1.4.1. Ưu điểm
Dạy học kiến tạo là cách dạy học tích cực vì vậy mang ưu điểm của
phương pháp dạy học tích cực hay dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Quá trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo giúp cho học sinh đựơc trải
nghiệm, tiếp cận vấn đề, huy động nguồn tri thức, kinh nghiệm sử dụng
nguồn tri thức đó là một cách hữu ích. Nói cách khác là quá trình học đi đôi
với hành kiến thức luôn vận động trong một quá trình hoạt động của chủ thể.
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo tạo ra sản phẩm kép. Học sinh không
chỉ nắm tri thức một cách vững chắc mà còn biết cách tìm ra tri thức đó.
Học sinh được học tập thông qua các sai lầm do đó các sai lầm của
học sinh trở nên có ý nghĩa.
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo là cách dạy học đón trước vùng phát
Kiểm
nghiệmĐiều
chỉnhTri
thức
mới
1.1.5.1. Các bước tiến hành trong dạy học kiến tạo
+ Ôn tập, tái hiện
Bằng việc kiểm tra bài cũ, hỏi những kiến thức của bài học trước đó
hoặc những kiến thức liên quan trong cùng chủ đề.
+ Nêu vấn đề của kiến thức mới (có thể từ giáo viên hoặc từ phía học
sinh).
Từ kiến thức bài cũ liên quan dẫn dắt đến kiến thức mới hoặc dẫn dắt
trực tiếp đến kiến thức mới.
Ví dụ: Khi học bài: “Từ tuổi vị thành liên đến tuổi già”, từ kiến thức
của bài “từ lúc mới sinh đến tuổi dậy thì”, giáo viên dẫn dắt trực tiếp như
sau: Cuộc đời mỗi con người chia thành những giai đoạn khác nhau. Bài
trước các em đã biết được đặc điểm chung nổi bật của lứa tuổi từ lúc sinh ra
đến lúc dậy thì. Bài học hôm nay sẽ giúp các em có kiến thức từ tuổi vị
thành liên đến tuổi già.
+ Tập hợp các ý tưởng của học sinh.
Bằng việc tranh luận, trao đổi để tập hợp các ý tưởng của học sinh, so sánh
các ý tưởng từ đó đưa ra ý tưởng chung.
đúng, quan niệm sai).
+ Bước 2: Khuyến khích học sinh bộc lộ các quan niệm có sẵn và đưa
học sinh vào những tình huống có vấn đề mà trong đó việc sử dụng những
quan niệm có sẵn sẽ đưa đến những tiên đoán cần kiểm chứng (tạo được
mâu thuẫn nhận thức giữa kinh nghiệm vốn có với thực tiễn quan sát).
+ Bước 3: Học sinh trao đổi để xem xét lại những quan điểm sẵn có và
xây dựng quan niệm mới.
+ Bước 4: Củng cố vận dụng kiến thức mới.
1.1.6. Học sinh tiểu học và việc học tập theo quan điểm của lý thuyết
kiến tạo
1.1.6.1. Tổng quan đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học.
Nhìn chung học sinh Tiểu học rất dễ nhạy cảm với các tác động bên
ngoài, điều này phản ánh trong nhiều hoạt động nhận thức của học sinh.
Về tri giác: Do khả năng phân tích chưa phát triển nên học sinh Tiểu
học tri giác mang tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không chủ
động. Các em khó phân biệt chính xác sự giống nhau hay khác nhau giữa các
sự vật. Về tri giác độ lớn các em khó khăn khi phải quan sát các vật có kích
cỡ quá lớn hoặc quá nhỏ.
Về trí nhớ: Ở học sinh Tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ
không chủ định đề đang phát triển. Đến cuối bậc Tiểu học, ghi nhớ có chủ
định của các em phát triển mạnh. Tuy vậy, ở lứa tuổi này ghi nhớ không chủ
định vẫn giữ vai trò quan trọng.
Trí nhớ trực quan hình tượng và tri nhớ máy móc phát triển hơn trí
nhớ logic, hiện tượng hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là các câu chữ hình tượng
khô khan
Về tưởng tượng: Trí tưởng tượng của các em tuy có phát triển nhưng
còn tản mạn, ít có tổ chức và còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh
nghiệm sống và các mẫu hình đã biết.
Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, trí tưởng tượng của các em
dạy học một vấn đề nào đó giữ vai trò rất quan trọng. Nó có thể giúp người
giáo viên thấy được những nhận thức đúng đắn của học sinh để phát triển,