Hệ thống biểu tượng trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh (KL06046) - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*********
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG
TRONG THƠ TÌNH YÊU XUÂN QUỲNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Người hướng dẫn khoa học:
TS. LA NGUYỆT ANH
HÀ NỘI - 2014

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn Líp K36B - SP V¨n

tham khảo các tài liệu có liên quan, dưới sự giúp đỡ khoa học của TS. La Nguyệt Anh.
Khóa luận không sao chép từ một tài liệu, công trình sẵn có.
Kết quả khóa luận ít nhiều có đóng góp vào việc tìm hiểu và nghiên cứu tác
giả Xuân Quỳnh.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Người thực hiện Nguyễn Thị Thu Huyền

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn Líp K36B - SP V¨n MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 1 Líp K36B - SP V¨n

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân từng nhận xét: “Xuân Quỳnh là hiện
tượng rất quan trọng của nền thơ chúng ta. Có lẽ là từ đời Hồ Xuân Hương, qua các
chặng phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy, mới lại thấy một thi sĩ mà tài
năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào
phong phú như vậy” [9, tr.109].
Xuân Quỳnh là gương mặt tiêu biểu của lớp nhà thơ trẻ Việt Nam trưởng
thành từ lửa đạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ và là nhà thơ nữ có vị trí quan
trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Xuân Quỳnh bước vào làng thơ như một
sự thách thức với số phận. Người con gái ấy đã chối bỏ phông màn, ánh sáng lộng
lẫy, hào quang của sân khấu vũ đạo để buộc số phận mình vào với cây bút và các
trang giấy, mạnh dạn dấn thân trên con đường chinh phục nghệ thuật.
1.2. Xuân Quỳnh được mệnh danh là “Nữ hoàng thơ tình”, chị viết rất nhiều
về tình yêu. Chị là một người có phong cách riêng khá độc đáo, ở chị ta thấy một hồn
thơ hết sức khỏe khoắn, một khát vọng sống cháy bỏng và một tình yêu nồng nàn tha
thiết. Đọc những tác phẩm thơ tình yêu Xuân Quỳnh ta thấy nổi bật thế giới hình ảnh

tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật, bản sắc thơ ca dung dị mà độc đáo của
tác giả Tự hát, đồng thời khóa luận sẽ giúp bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn
người phụ nữ đa cảm, đa mang này.
2. Lịch sử vấn đề
Xuân Quỳnh là một nữ sĩ, một người cầm bút hạnh phúc. Tất cả niềm vui,
nỗi khổ, những lênh đênh bảy nổi ba chìm của chị được thơ trang trải hết. Thơ là
khuôn mặt ngời ngợi sáng trong của tâm hồn Xuân Quỳnh, có bao nhiêu ánh sáng
đều được phản chiếu qua thơ và ngay cả khi chị như một chiếc lá đã lìa cành thì thơ
vẫn tiếp tục sự tồn tại của nữ sĩ trên cõi đời này.
Bài viết Những tình cảm trắc ẩn trong thơ Xuân Quỳnh của Nguyễn Hòa
Bình chỉ ra rằng: “Không phải vô cớ mà trong thơ chị có rất nhiều hình ảnh, từ chỉ
tâm trạng, và chị sử dụng nó một cách thường xuyên như những quân cờ được chơi
trong mọi vấn đề. Không thể thay thế được, có thể lọc ra một hệ thống những: cô
đơn, cay đắng đau đớn, nỗi buồn da diết nhớ thương, vui sướng, hạnh phúc, đặc biệt

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 3 Líp K36B - SP V¨n

là những hình ảnh chuyên chở tâm trạng: “cánh buồm”,“hoa cỏ may”,“màu
thu”,“con tàu đi trong hoang vắng” xuất hiện với mật độ dày đặc trong thơ chị.
Chúng gợi sự cảm thông, gợi ra rất nhanh sự đồng cảm tương giao những nỗi niềm
trắc ẩn nơi chị” [23, tr.242].
Nhiều ý kiến nhận định thơ Xuân Quỳnh có rất nhiều hình ảnh: đó là bức
chân dung về những năm tháng lửa đạn, đó là những đổi thay kỳ diệu của quê
hương, vẻ đẹp của xứ sở trong những phút giây yên bình. Thơ chị giàu ý nghĩa xã
hội là bởi điều đó.
Lê Thị Ngọc Quỳnh trong bài viết Thế giới thiên nhiên trong thơ Xuân
Quỳnh chỉ ra rằng: “các hình tượng thiên nhiên luôn song hành cùng những luồng
cảm xúc suy tư của chị, nhập hòa vào những ao ước, trăn trở và đặc biệt không thể
thiếu trong những khoảnh khắc đột biến lớn trong cuộc đời và hồn thơ chẳng bình

mình, nên mới hay nhắc đến như vậy” [3, tr.39].
Ngoài thế giới thiên nhiên ngoài khung cửa sổ, chị còn thiết lập trong thơ
mình một không gian khác nhỏ bé, ấm áp “riêng” của mình mà tác giả Chu Văn Sơn
đã gọi là “chất thơ từ tổ ấm”. Trong thế giới đó chúng ta có thể nhận ra những chi
tiết đồ vật sinh hoạt: gian phòng, cánh cửa, lọ hoa, ngọn đèn…vv. Tất cả những đồ
vật tưởng chừng như quá quen thuộc, hay va chạm trong cuộc sống hàng ngày, sẽ bị
lãng quên, che khuất và cạn kiệt chất thơ nhưng lại cất lên thứ ngôn ngữ dung dị,
thân thuộc giản dị vô cùng. Có lẽ vì vậy mà người đọc thường đánh giá Xuân
Quỳnh có một lối thơ rất “đời thường”.
Trong thơ Xuân Quỳnh ngoài những hình ảnh thiên nhiên thì chị rất hay nói
đến “ngôi nhà”, “căn phòng”… Chị luôn đối sánh mình với tổ ấm ấy, hóa thân vào
từng đồ vật và mỗi sự vật chi tiết đều cất lên tiếng nói nhớ nhung, khắc khoải đợi
chờ. Sự nhạy cảm của tâm hồn chị đã đem lại “chất thơ” bình dị mà sâu lắng cho
những sự vật cụ thể bình thường. Tất cả chi tiết ấy đều được chắt lọc tinh tế nhưng
giản dị hồn nhiên và có khả năng tạo những rung cảm lớn trong lòng độc giả.
Trong bài viết Cánh chuồn trong giông bão của Chu Văn Sơn ngoài những
hình ảnh, biểu tượng trong thơ, tác giả cũng nhấn mạnh đến giọng điệu chủ âm
trong thơ Xuân Quỳnh và cho rằng lo âu chính là điệu hồn chị. Trong bài viết, nhà
nghiên cứu chỉ ra từ cái điệu tâm hồn đầy phấp phỏng ấy mà Xuân Quỳnh tìm đến
tình yêu như một sự cứu cánh, để nương tựa, tìm chút bình yên trong cuộc đời đầy

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 5 Líp K36B - SP V¨n

“bão tố” của mình. Chị quay trở về với gia đình - Tổ ấm yêu thương để con sóng
Xuân Quỳnh chống chọi vượt qua cái bấp bênh vô định của dòng đời. Có thể nói,
bài viết của Chu Văn Sơn đã lí giải một cách sắc sảo về giọng điệu thơ Xuân Quỳnh
- giọng điệu lo âu, đầy khắc khoải của một người phụ nữ. Thế giới trong thơ Xuân
Quỳnh là sự tương tranh không ngừng giữa khắc nghiệt và yên lành với những biểu
hiện sống động và biến hóa khôn cùng của chúng. Ở đó “trái tim thơ Xuân Quỳnh là

3. Mc ớch nghiờn cu
Nghiờn cu H thng biu tng trong th tỡnh yờu Xuõn Qunh ngi vit
xỏc nh mc ớch ca khúa lun nh sau:
- Tỡm hiu h thng biu tng trong mng th tỡnh yờu ca Xuõn Qunh,
qua ú cú th thy c c im cng nh ý ngha ca nhng biu tng ú.
- Ch ra c nhng h thng biu tng c trng trong th tỡnh yờu ca
Xuõn Qunh.
- Khng nh bỳt phỏp sỏng to riờng, c ỏo, giu mu sc thm m, vn
húa trong th Xuõn Qunh v tip tc khng nh v trớ ca tỏc gi i vi th ca
hin i Vit Nam.
õy cng l bc tp dt nghiờn cu quan trng ca sinh viờn trong quỏ
trỡnh hc tp khoa Ng Vn ca trng i hc cú th vn dng vo vic ging
dy sau ny.
4. i tng v phm vi nghiờn cu
4.1. i tng nghiờn cu
Khoỏ lun nghiờn cu h thng biu tng trong th tỡnh yờu Xuõn Qunh.
4.2. Phm vi t liu
T khi gn bú cuc i mỡnh vi th ca cho n khi t gió cuc i, Xuõn
Qunh ó li 7 tp th chớnh. Tuy vy, do hn ch v ngun ti liu cng nh
nng lc ngi vit, chỳng tụi ch tp trung kho sỏt, thng kờ trong cun:
Th tỡnh - Xuõn Qunh, Nxb Vn hc, 2008
Ngoi ra, chỳng tụi cng tham kho thờm mt s bi th tỡnh yờu ca Xuõn
Qunh cỏc tp: T tm - Chi bic (in chung, Nxb Vn hc, 1963); Hoa dc chin
ho (Nxb Vn hc, 1968); Giú Lo cỏt trng (Nxb Vn hc, 1974); Li ru trờn mt
t (Nxb Vn hc, 1978); Sõn ga chiu em i (Nxb Vn hc,1984); T hỏt (Nxb
Tỏc phm mi - Hi nh vn Vit Nam, 1984); Hoa c may (Nxb Tỏc phm mi -
Hi nh vn Vit Nam, 1989).

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 7 Líp K36B - SP V¨n


Khóa luận tốt nghiệp Đại học Khoa Ngữ Văn
Nguyễn Thị Thu Huyền 8 Lớp K36B - SP Văn

NI DUNG
Chng 1
NHNG VN CHUNG

1.1. Quan nim v biu tng v biu tng trong th
1.1.1. Khỏi nim biu tng
Thut ng biu tng (ting Phỏp: Symbole, ting Anh: Symbol) cú ngun gc
t ting Hy Lp: Symbolon, ngha l kớ hiu, du hiu nhn ra nhau l mt, ngy nay
c nhiu ngnh khoa hc s dng vi nhng ni hm khỏc nhau [5, tr.20].
Trong T in thut ng vn hc, biu tng c hiu l: khỏi nim ch
mt giai on, mt hỡnh thc ca nhn thc cao hn cm giỏc, cho ta hỡnh nh ca
s vt cũn gi li trong u úc sau khi tỏc ng ca s vt vo giỏc quan ta ó chm
dt [4, tr.23]. Trong ngha rng, biu tng l: c trng phn ỏnh cuc sng
bng hỡnh tng vn hc ngh thut [4, tr.24]. Trong ngha hp, biu tng l:
mt phng thc chuyn ngha ca li núi hoc mt loi hỡnh tng ngh thut
c bit cú kh nng truyn cm ln, va khỏi quỏt c bn cht ca mt hin
tng no y, va th hin mt quan nim, mt t tng hay mt trit lý sõu xa
vi con ngi v cuc i [4, tr.24].
Trong cun Quỏ trỡnh sỏng to th ca, Bựi Cụng Hựng cng ch ra rng:
Hỡnh nh cm tớnh c th v nhng hin tng ca th gii bờn ngoi. Biu tng
cựng vi cm giỏc v tri giỏc to nờn nhn thc cm tớnh [6, tr.66].
1.1.2. Biu tng trong th
Biu tng trong vn hc c th l biu tng trong th ca dựng sỏng tỏc
th, ú l nhng hỡnh nh c th giu tớnh cm xỳc cú nhiu kh nng cha ng ý
ngha sõu, cú kh nng kt hp v bin húa nhiu. Nú l cỏc hỡnh nh cú sc khỏi
quỏt nht nh nhng thng l khi im ca cỏc hỡnh nh khỏc phong phỳ hn, a

truyền thống. Sự chiếm lĩnh thế giới bên ngoài thông qua các biểu tượng như một
phương thức có khả năng đem đến cho nhà thơ sự bộc lộ tư tưởng và tình cảm của
cá nhân mình, nó kích thích nhà thơ diễn đạt những nội dung tiềm ẩn trong tâm hồn
mình, và mặt khác như là biểu hiện của quá trình vận dụng các yếu tố nghệ thuật, để
không ngừng mở rộng khả năng biểu đạt, sức sáng tạo của nhà thơ.
Việc sáng tạo biểu tượng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực thụ cảm và nhu
cầu biểu hiện của nhà thơ trước hiện thực đời sống. Điều này có liên quan đến đặc

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 10 Líp K36B - SP V¨n

điểm tư duy nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ ở mỗi nhà thơ. Những quan niệm
về nhân sinh, thế sự, về thơ ca…và về chính bản thân cá tính sáng tạo của người
nghệ sĩ chính là những yếu tố chi phối lựa chọn của nhà thơ. Biểu tượng thơ được
lựa chọn theo những tiêu chí nhất định, đáp ứng được nhu cầu bộc lộ của nhà thơ,
hợp với tư tưởng chủ đề, với phong cách và phương pháp sáng tác. Chẳng hạn, hình
ảnh dòng sông, con nước thường gợi nhiều tâm tưởng về cuộc sống và những hoài
niệm về quê hương, về tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên. Những hoài niệm ấy càng trở
nên thiêng liêng sâu sắc trong hoàn ảnh đất nước có chiến tranh ly tán:
Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)
Nhiều dòng sông đã đi vào thơ và trở thành biểu tượng đẹp của tình yêu quê
hương đất nước:
Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến
Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển
Vẫn trở về lưu luyến bên sông
(Con sông quê hương - Tế Hanh)
Trên đây là những trình bày khái lược về biểu tượng và biểu tượng trong thơ.
Đó là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu hệ thống biểu tượng - một yếu tố đặc sắc trong

may mn. V cng nh vy, bc ng cụng danh dự trn y hoi bóo nhng
sut i vn ln n, cha Xuõn Qunh mun thoỏt khi s rng buc ca n ỏo cm
nhng li b chớnh nú ghỡ sỏt t. Chin tranh au thng ó y cha v cỏc con
v hai min Nam - Bc, gia bin tri cỏch mt. Dự ni nh thng c dõng trn
trong tim nhng cuc sng nghốo tỳng vi ng lng cũm cừi khụng ụng lo
cho hai ch em Qunh. Cha Qunh cựng ngi v mi ó di c vo Nam sinh sng.
Tt c tỡnh thng ca cha dnh cho hai a con th di, cú l ch dn t li trong
nhng cỏnh th cht cha nh nhung gi t phng xa.
Dự thiu hi m tỡnh m nhng iu may mn ln nht m cuc i ó em
n cho Xuõn Qunh, ú l c sng cựng b ni, ch gỏi ụng Mai, c bao
bc, ch che trong vũng tay rng m ca b v quan trng l c tha hng
nhng c tớnh chu ỏo, õn cn, nhng nhn ca b - nhng c tớnh rt truyn
thng ca ngi ph n Vit Nam.

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 12 Líp K36B - SP V¨n

Những kỉ niệm đau buồn của tuổi thơ rồi cũng qua đi theo năm tháng. Chẳng
bao lâu, Xuân Quỳnh trở thành một thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp. Năm 1955, khi mới
13 tuổi, Xuân Quỳnh được tuyển thẳng vào đoàn Văn công nhân dân Trung ương.
Cũng từ đây, Xuân Quỳnh bước chân vào lĩnh vực nghệ. Nhạy cảm với thế giới
xung quanh và với chính cuộc đời mình, 16 tuổi Xuân Quỳnh chập chững viết
những bài thơ đầu tiên để hé lộ một hồn thơ hồn nhiên, táo bạo và đầy cá tính.
Những thành công đầu tiên khá rực rỡ của một diễn viên múa đầy triển vọng cũng
không đủ sức để giữ chân người con gái đam mê thơ, quyết tâm sống “hết mình cho
đời, hết mình cho thơ”.
Quyết tâm từ bỏ sàn diễn để dấn thân vào “nghiệp văn” nhiều gian truân, lao
tâm khổ tứ, Xuân Quỳnh từ đây đã lấy cả cuộc đời mình đánh đổi cho nghệ thuật.
Năm 1962 -1964, Xuân Quỳnh tham gia học trường bồi dưỡng những người viết
văn trẻ (khóa I) của Hội nhà văn Việt Nam. Không được may mắn học nhiều nhưng

dân tộc và lịch sử. Mảng sáng tác về đề tài công dân của Xuân Quỳnh đã trở thành:
“những viên đá lát đường, những nhát cuốc” [21, tr.515] góp phần xây dựng nền
thơ ca chống Mĩ cứu nước hào hùng của dân tộc.
Bên cạnh đề tài công dân thì Xuân Quỳnh đã gây được ấn tượng với người
đọc thông qua mảng đề tài viết về những tình cảm riêng tư. Xuân Quỳnh viết nhiều
tác phẩm truyện, thơ cho thiếu nhi và chị xứng đáng là một tên tuổi trong lĩnh vực
văn học thiếu nhi. Ngoài những tác phẩm viết về thiếu nhi Xuân Quỳnh cũng viết
rất nhiều về tình yêu, bạn đọc biết đến chị nhiều hơn qua mảng thơ tình. Ở mảng
thơ tình chị lấy chính cuộc đời mình để lao động nghệ thuật, lấy cuộc đời mình tâm
sự chia sẻ trên những trang thơ. Những bài thơ tình yêu được tuyển chọn trong các
tập thơ Sân ga chiều em đi (1980); Tự hát (1982); Hoa cỏ may (1988). Xuân Quỳnh
đã nói về tình yêu bằng những lời cháy bỏng, tha thiết và nồng nàn, thể hiện tâm
trạng của một người phụ nữ khao khát được yêu “lòng em nhớ đến anh; Cả trong
mơ còn thức”.
Nhưng rồi những vấp ngã trong tình yêu khiến Xuân Quỳnh, từ một người
con gái nhìn cuộc sống qua lăng kính màu hồng đã trở thành một người đàn bà từng
trải. Thơ tình Xuân Quỳnh bớt dần cái vẻ sôi nổi, rạo rực của thuở ban đầu mà trở
nên trầm tĩnh, sâu lắng hơn. Bên cạnh những khao khát tình yêu, thơ chị đầy ắp tâm
trạng khắc khoải, man mác lo âu và dự cảm chia xa. Nhà thơ lo sợ tình yêu của
mình giống như một chiếc bình pha lê tuyệt đẹp nhưng mỏng manh, dễ vỡ:

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 14 Líp K36B - SP V¨n

Lời yêu mỏng manh như màu khói
Ai biết tình anh có đổi thay
(Hoa cỏ may)
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận xét: “Đọc thơ của chị nhất là mảng thơ
tình một hồi, chúng ta thấy những khát khao của một người yêu rất nhiều mà nhận
chẳng bao nhiêu. Đơn độc đi trong cuộc đời và lúc nào cũng cảm thấy là bất hạnh,

người tình, một tâm hồn mãi mãi khao khát, mãi mãi thao thức vì tình yêu. Chưa ai
biểu hiện một sự yêu đương sâu xa, đằm thắm đến thế trong thơ tình Việt Nam như
chị” [24, tr.51].
Xuân Quỳnh là một tác giả thơ có bản sắc tương đối rõ nét. Bản sắc ấy ngày
càng được khẳng khẳng định và biểu hiện với nhiều sắc thái qua mỗi tập thơ. Từ khi
xuất hiện cho đến khi vĩnh biệt cuộc đời, quá trình sáng tác thơ của Xuân Quỳnh là
một chặng đường đi lên không bị đứt đoạn. Hồn thơ của chị ngày một đa dạng và
không ngừng được mở ra. Ngòi bút của Xuân Quỳnh đã được thử thách qua thời
gian, với nhiều loại chủ đề khác nhau. Trong đó có những bài thơ tình yêu đã đạt tới
đỉnh cao. “Thơ Xuân Quỳnh không có mạch thơ nào thật sự bình yên đơn giản,
thường có nhiều trăn trở băn khoăn. Dù đi vào những vấn đề lớn hay tình cảm riêng
tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ
thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương” [3, tr.9].
Đọc thơ Xuân Quỳnh, người ta không có cảm giác tác giả cố ý làm thơ. Chị
sống hồn nhiên, sống hết mình với các bài thơ của mình, hay nói đúng hơn, thơ chị
chính là đời sống của chị, là tâm trạng thật của chị trong mỗi bước vui buồn của đời
sống. Trước Xuân Quỳnh có lẽ chưa có người phụ nữ làm thơ nào đã nói về tình
yêu bằng những lời cháy bỏng, tha thiết và nồng nàn như thế. Tình yêu trong thơ chị
đẹp và trong sáng quá. Ở Xuân Quỳnh, tình yêu không bao giờ đơn thuần là tình
yêu, nó còn tượng trưng cho cái đẹp, cái tốt, cái cao quý của con người, tượng trưng
cho niềm khát khao được tự hoàn thiện mình.
Trong thơ Xuân Quỳnh, người đọc dường như nghe thấy trong những câu
thơ ấy nỗi đau của một người đã sống hết mình, làm việc hết mình, yêu hết mình,
một niềm khát khao, một sự vật lộn với số phận của mình để hiến dâng cho nghệ
thuật, cho cuộc đời, cho tình yêu chung và riêng bằng cái sức lực cuối cùng của sự
sống phải tính đến từng nhịp đập của một trái tim đau. “Có thể thấy những bài thơ

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 16 Líp K36B - SP V¨n



Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 17 Líp K36B - SP V¨n

Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
(Sóng)
Về giọng điệu, thơ Xuân Quỳnh có một giọng điệu rất dễ nhận ra, giọng điệu
ở đây không phải là cách nói mà là cách cảm xúc, là giọng điệu của một tâm hồn
người viết. “Một giọng điệu không kiểu cách, khiên cưỡng, luôn tự nhiên phóng
khoáng dù tác giả không hề ồn ào, to tiếng, có thể xem là đặc điểm dễ nhận thấy ở
Xuân Quỳnh” [24, tr.86]. Trong thơ tình Xuân Quỳnh chủ yếu là giọng điệu thổ lộ,
giãi bày. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thấy chị phơi trải lòng mình, chị như mang hết
ruột gan mình phổ vào thơ. Tất cả những tâm sự hiện lên rất thật, chân thực, giàu
biểu cảm. Mỗi vần thơ như hòa quyện vào nhau để khắc họa cái sâu sắc, dữ dội
trong tình yêu của Xuân Quỳnh. Nó cứ ồn ào, nhức nhối trái tim khiến chị không
thể giấu kín trong tâm tư. Cứ dồn xuống thì nó lại cộm lên. Đó, tình yêu của Xuân
Quỳnh mãnh liệt như vậy đấy! Vậy nên chị phải kể, phải chia sẻ, phải thổ lộ cho
mọi người hiểu.
Xuân Quỳnh là một người phụ nữ có nhu cầu bộc bạch, giãi bày hơn bao giờ
hết.Thổ lộ, bộc bạch để rồi Xuân Quỳnh đi đến khẳng định về cái thủy chung, tha
thiết trong tình yêu của chính mình. Đối với người phụ nữ đang sống trong tình yêu,
có những điều được “dồn xuống tâm tư” nhưng có những điều dù cố chôn vùi, gạt
bỏ thì nó vẫn hiện diện, cứ thổn thức, nhức nhối, buộc con tim phải giãi bày, chia sẻ.
Tuy nhiên, cái làm nên giọng điệu thủ thỉ, tâm tình rất riêng của Xuân Quỳnh
chính là ở lối hát ru. Lời ru cũng diễn tả được sâu sắc cái ngọt ngào, tâm tình trong
giọng điệu thơ của chị, trong thơ Xuân Quỳnh đã cố gắng “nén lại tiếng thở dài, vất
vả gian truân để làm dịu lòng người thân, bè bạn bằng tiếng hát ru trong suốt cuộc
đời mình” [7, tr.157]. Đọc thơ Xuân Quỳnh là ta được nghe một giọng thơ rất “đời”,
phập phồng hơi thở của cuộc sống. Đó là chất giọng của người phụ nữ từng trải, có

cảm xúc, suy tư, trên những trang thơ, gửi gắm ở đó những ước muốn, khát khao
của tình yêu vĩnh cửu. Ta gặp trong thơ chị những hình ảnh, sự vật bình thường
giản dị hết sức đời thường. Đó là hình ảnh đôi “bàn tay” với những chai sần vì vất
vả lân đận trong cuộc sống đời thường, là hình ảnh “trái tim” tha thiết yêu thương,
trái tim suốt đời cống hiến, chở che, hi sinh cho gia đình hay đó là “ngôi nhà”,
“vòm cây”, “mái phố”… Qua sáng tạo của chị, những hình ảnh ấy như biết nói, trở

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 19 Líp K36B - SP V¨n

thành biểu tượng tình yêu. Chịu sự chi phối rõ rệt của cảm quan phụ nữ, biểu tượng
thơ Xuân Quỳnh thường thiên về cụ thể, giản dị, rất gần với tự nhiên và sinh hoạt
đời thường. Tất cả những biểu tượng này, dù trực tiếp hay gián tiếp đều bộc lộ tâm
trạng, thể hiện quan niệm của nhà thơ.
Từ những khái quát trên về thơ tình yêu Xuân Quỳnh có thể thấy, người phụ
nữ đa tài, đa mang ấy đã “tự hát” về cuộc đời mình. “Chị đã đem chính mình, chính
cuộc đời mình ra làm thơ, và thơ đối với chị không phải là một nghề nghiệp, cũng
không phải Tài năng, mà là Số Phận, là Tâm Hồn, là điều Thiêng Liêng khó đạt tới
nhất trên Cõi Đời này” [21, tr.590]. Tính chất tự truyện là nét đậm quán xuyến hàng
loạt bài thơ, tập thơ. Chị gần như trở thành nhân vật của chính thơ mình. Chị đã đưa
chính cuộc đời mình vào trong thơ. Thơ Xuân Quỳnh như nhận xét của Chu Văn
Sơn: “Âu cũng là tự hát”. Chị hát về thân phận mình, về thế hệ mình. Chị đã hát lên
khúc ca tình yêu từ chính tình yêu của mình.
1.2.3. Khảo sát biểu tượng trong thơ tình yêu Xuân Quỳnh
Khảo sát hệ thống bài thơ trong sự nghiệp sáng tác của Xuân Quỳnh chúng
tôi thống kê được một khối lượng khá lớn. Trong tổng số 265 bài thơ, có 73 bài thơ
tình yêu, chiếm khoảng 27.5%. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát hệ thống các biểu
tượng trong mảng thơ tình yêu Xuân Quỳnh. Kết quả như sau:
STT
Biểu tượng

18
36
31
29
12
20
32
15
4%
4%
14,8%
5,9%
6,6%
13,3%
11,4%
10,7%
4,4%
7,4%
11,9%
5,5%

Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
NguyÔn ThÞ Thu HuyÒn 20 Líp K36B - SP V¨n

Trên cơ sở khảo sát và theo chủ quan của chúng tôi, trong khuôn khổ khóa
luận này chúng tôi sẽ lựa chọn và đi sâu tìm hiểu các biểu tượng sau trong thơ tình
yêu Xuân Quỳnh: biểu tượng trái tim, bàn tay, ngôi nhà, vòm cây, con đường, dòng
sông, hoa, thuyền - sóng - biển. Sự lựa chọn này, như đã nói, mang tính chất chủ
quan. Tuy nhiên không phải là không có cơ sở. Thứ nhất, chúng tôi nghiên cứu
những biểu tượng xuất hiện với tỉ lệ cao trong thơ tình yêu Xuân Quỳnh. Thứ hai,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status