Website: Email : Tel : 0918.775.368
đề cơng Kinh tế chính trị
Đề tài : Cổ phần hoá doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế
Mở đầu : đặt vấn đề về tính tất yếu của vấn đề cổ phần hoá :
+ Đòi hỏi của lí luận
+ Đòi hỏi của thực tiễn
+ Căn cứ vào chủ trơng đờng lối và chính sách của Đảng và Nhà nớc
Nội dung:
I. Chủ lí luận của nghĩa Marx-Lenin về sở hữu và các thành phần kinh tế
1 Bản chất của sở hữu
2 Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nớc
2.1 Bản chất của thành phần kinh tế Nhà nớc
2.2 Đặc điểm vai trò của kinh tế Nhà nớc :
.Về sở hữu
.Về các ngành kinh tế mũi nhọn
.Về hớng phát triển
II. Doanh nghiệp Nhà N ớc thực trạng và vấn đề đặt ra
1 Vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc trong nền kinh tế nớc ta hiện nay
2 Thực trạng hoạt động của hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc
2.1 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nớc
2.2 Nguyên nhân của tình trạng trên
2.3 Những vớng mắc cần giải quyết
III. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là giải pháp cơ bản để đổi mới
hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nớc hiện nay
1. Các quan điểm về cổ phần hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình trạng cổ phần hoá ở Việt Nam hiện nay
2.1 Bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
2.2 Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam
2.3 Những giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
Kết luận :
Rút ra kết quả chủ yếu của đề án đã đề cập và kiến nghị của cá nhân về vấn đề
kinh tế trong những năm qua không có nghĩa là mọi việc của chúng ta đang tiến
triển tốt đẹp. Các tổ chức kinh tế thế giới đã cảnh báo không ít lần là tốc độ tăng
trởng cao của chúng ta có một nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế có điểm
xuất phát thấp.
- Phát triển kinh tế đòi hỏi xoá bỏ bao cấp đổi với Doanh nghiệp nhà n-
ớc. Hiện nay mối quan hệ giữa Nhà nớc và các Doanh nghiệp nhà nớc hoàn
toàn không rõ ràng. Nhà nớc không nắm rõ ở mỗi thời điểm tổng số doanh
nghiệp của mình là bao nhiêu, chứ cha nói đến các chỉ tiêu phức tạp nh vốn nằm
ở đâu, tăng giảm nh thế nào, hiệu quả sử dụng ra sao? Để duy trì doanh nghiệp
kém hiệu quả, Nhà nớc đã sử dụng hàng loạt các biện pháp bao cấp trực tiếp và
gián tiếp nh : xoá nợ, khoanh nợ, tăng vốn, u đãi tín dụng, tính chi phí không
đầy đủ và cuối cùng, không ai biết Doanh nghiệp nhà nớc nuôi xã hội hay xã
hội phải nuôi Doanh nghiệp nhà nớc. Không nên quên rằng Doanh nghiệp nhà
nớc là phơng tiện chứ không phải mục đích. Cạnh tranh với khu vực t nhân.
Yêu cầu đổi mới còn xuất phát từ việc cạnh tranh với khu vực t nhân đang hồi
sinh nhanh chóng. Mặt khác, trong quá trình hội nhập, Doanh nghiệp nhà nớc
không phải chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp t nhân trong nớc mà với cả các
doanh nghiệp t nhân rất mạnh của nớc ngoài. Cạnh tranh trong nớc và quốc tế
không chấp nhận việc Nhà nớc giữ độc quyền cho các doanh nghiệp của mình.
Cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi không chỉ xoá bỏ độc quyền mà cả bao cấp.
3
1.2. Cổ phần hoá - giải pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nớc tối u
1.2.1. Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc là gì?
1.2.1.1. Khái niệm về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc.
Phải nói rằng nhân dân ta không còn xa lạ gì với khái niệm cổ phần. Cụm
từ cổ phần đã rất quen thuộc từ trên 40 năm nay, kể từ khi Đảng ta vận động
nhân dân lập hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, lập cửa hàng, xí nghiệp,
công ty hợp danh.
Vậy Cổ phần hoá là gì? Cổ phần hoá là quá trình chuyển Doanh
nghiệp nhà nớc từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nớc thành lập doanh
lực có chủ thể rõ ràng và hợp lực mới mạnh mẽ hơn; đồng thời chuyển doanh
nghiệp sang vận hành theo cơ chế quản lý mới, tự chủ, năng động hơn, nhng có
sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ hơn.
1.2.2. Cổ phần hoá là giải pháp cải cách doanh nghiệp tối u ở nớc ta
trong giai đoạn hiện nay.
Từ yêu cầu đòi hỏi phải đổi mới các Doanh nghiệp nhà nớc, vấn đề cải
cách Doanh nghiệp nhà nớc từ lâu là mối quan tâm của Đảng và Nhà nớc ta. Đã
có nhiều giải pháp cải cách đợc thực hiện. Trong thời gian từ 1960 đến 1990,
tức là trớc thời điểm thực hiện cổ phần hoá, Đảng và Nhà nớc ta đã triển khai
nhiều biện pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh (Doanh nghiệp nhà
nớc theo tên gọi lúc đó). Tuy nhiên thực tế cho thấy các giải pháp cải cách
Doanh nghiệp nhà nớc đợc thực hiện trớc năm 1990 ít mang lại hiệu quả. Vai
trò, hiệu quả của Doanh nghiệp nhà nớc hầu nh không đợc cải thiện. Tình trạng
kém hiệu quả, thua lỗ, tình trạng lãng phí tài sản vẫn là căn bệnh cố hữu của
Doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta. Nhiều Doanh nghiệp nhà nớc đã trở thành bình
phong cho những hoạt động kinh tế phi pháp, trốn thuế, lậu thuế, buôn lậu. Có
khá nhiều ý kiến khác nhau về những kết quả hạn chế của các biện pháp cải
cách Doanh nghiệp nhà nớc đã thực hiện trớc đây. Tuy nhiên có thể nhận thấy
dễ dàng đợc thừa nhận khá rộng rãi là Doanh nghiệp nhà nớc thực tế không có
chủ nhân thực sự. Nhà nớc cũng là thực thể trừu tợng. Các cán bộ, công nhân
trong Doanh nghiệp nhà nớc ít quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
5
Doanh nghiệp nhà nớc nơi mình đang làm việc. Lý do đơn giản là họ vẫn có l-
ơng ngay cả khi Doanh nghiệp nhà nớc đã bên bờ phá sản. Rõ ràng, vấn đề lợi
ích, đặc biệt là lợic ích sở hữu trong Doanh nghiệp nhà nớc chính là cội nguồn
của những căn bệnh mà chúng gặp phải.
Cải cách Doanh nghiệp nhà nớc có thể tiến hành bằng nhiều cách khác
nhau nh: bán Doanh nghiệp nhà nớc, cho thuê Doanh nghiệp nhà nớc, cải cách
cơ chế quản lý Doanh nghiệp nhà nớc Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc chỉ
là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp
bằng giải pháp cổ phần hoá, mà chỉ có một bộ phận doanh nghiệp. Bộ phận
doanh nghiệp ấy là gì? Căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam, Doanh nghiệp
nhà nớc đợc chọn lựa cổ phần hoá phải có đủ ba điều kiện sau đây:
- Là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Không thuộc diện những doanh nghiệp cần thiết giữ 100% vốn đầu t
Nhà nớc.
- Có phơng án kinh doanh hiệu quả.
3. Mục tiêu cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nớc
Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính Phủ về việc chuyển
một số Doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần đã nêu rõ: chuyển Doanh
nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu:
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong nớc và nớc ngoài để đầu t đổi mới công nghệ tạo thêm việc
làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu Doanh
nghiệp nhà nớc.
- Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và
những ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự; thay đổi phơng thức quản lý tạo
động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng cờng phát triển
đất nớc, nâng cao thu nhập của ngời lao động, góp phần tăng trởng kinh tế của
đất nớc.
Qua những văn bản cơ bản đó có thể khẳng định các mục tiêu của cổ
phần hoá đã đợc xác định một cách rõ ràng và nhất quán. Song phải chăng huy
7