MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIÁM ĐỐC 6
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 6
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 6
1.1.1. Trên thế giới 6
1.1.2. Ở Việt Nam 8
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 11
1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục 11
1.2.2. Dạy học và quản lí hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX 14
1.2.3. Quản lí hoạt động dạy học bổ túc THPT của giám đốc TTGDTX 22
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN 30
1.3.1. Yếu tố chủ quan 30
1.3.2. Các yếu tố khách quan 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 35
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 35
CỦA GIÁM ĐỐC CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH NINH BÌNH 35
2.1. MỘT SỐ NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH NINH BÌNH 35
2.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội 35
2.1.2. Khái quát về tình hình phát triển giáo dục và đào tạo 37
2.1.3 Vài nét về các Trung tâm GDTX tỉnh Ninh Bình 40
2.2. THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRUNG TÂM GDTX TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 43
2.2. 1. Những thuận lợi và khó khăn chính 43
2.2.2. Thực trạng về hoạt động dạy học của giáo viên 46
2.2.3. Thực trạng về số lượng và chất lượng học tập của học viên 48
3.2.5. Tăng cường quản lí nề nếp, kỉ cương trường học và xây dựng môi trường làm việc tích cực,
thân thiện 85
3.2.6. Tăng cường cơ sở vật chất sư phạm trong trung tâm và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài
chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học 92
3.2.7. Tổ chức, chỉ đạo dạy học theo hướng tăng thời lượng học tập và phân hóa đối tượng, GV
hướng dẫn HV học tập hiệu quả 94
3.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 100
3.4. KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM VỀ SỰ CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG SỐ 2.1. QUY MÔ TRƯỜNG, LỚP, HỌC VIÊN TỈNH NINH BÌNH 38
TỪ NĂM HỌC 2009-2010 ĐẾN NĂM HỌC 2013-2014 38
BẢNG SỐ 2.2. SỐ LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÍ, GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN, 39
TRÌNH ĐỘ GIÁO VIÊN CÁC CẤP HỌC 39
BẢNG 2.3. THỐNG KÊ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYỂN SINH QUA MỘT SỐ NĂM HỌC 45
BẢNG 2.4. THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG CÁN BỘ, GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN 46
CỦA CÁC TRUNG TÂM GDTX TỈNH NINH BÌNH QUA MỘT SỐ NĂM HỌC 46
BẢNG 2.5. GIÁO VIÊN TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 47
BẢNG 2.6. THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG LỚP HỌC VÀ HỌC VIÊN 48
TỪ NĂM HỌC 2009-2010 ĐẾN NĂM HỌC 2012-2013 48
BẢNG 2.7. TỔNG HỢP KẾT QUẢ CỦA MỘT SỐ MẶT GIÁO DỤC CỦA TẤT CẢ CÁC TRUNG TÂM GDTX TỪ
NĂM HỌC 2010-2011 ĐẾN NĂM HỌC 2012-2013 49
BẢNG 2.8. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CỦA GIÁO VIÊN 52
BẢNG 2.9. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN 53
BẢNG 2.10. THỰC TRẠNG QUẢN LÍ THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 54
BẢNG 2.11. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ VIỆC SOẠN BÀI CỦA GIÁO VIÊN 56
BẢNG 2.12. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIỜ LÊN LỚP CỦA GIÁO VIÊN 57
BẢNG 2.13. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ DỰ GIỜ 59
VÀ ĐÁNH GIÁ GIỜ DẠY CỦA GIÁO VIÊN 59
các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các Trung tâm GDTX trong
địa bàn tỉnh Ninh bình là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm đưa ra những biện pháp quản lí có tính chất thiết thực nhất phục
vụ cho công tác quản lí, điều hành hoạt động dạy học, nhằm không ngừng nâng cao
chất lượng dạy học và góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ở các Trung tâm giáo
dục thường xuyên.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tương nghiên cứu
1
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lí hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lí dạy học nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở Trung tâm giáo dục thường xuyên trong giai đoạn hiện nay
4. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở thực trạng của công tác quản lí dạy học và chất lượng dạy học ở
Trung tâm giáo dục thường xuyên cùng với thực tế công tác quản lí của bản thân, đề
tài này đưa ra các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trung
tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Nếu vận dụng tốt các biện pháp quản lí này
sẽ khắc phục được những hạn chế của công tác quản lí dạy học ở các Trung tâm
GDTX trong địa bàn tỉnh Ninh bình trong giai đoạn hiện nay, thúc đẩy hoạt động
dạy học ngày càng phát triển vững chắc và có chất lượng cao hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa những vấn đề lí luận có liên quan đến quản lí hoạt động
dạy học ở trung tâm GDTX
5.2. Khảo sát thực trạng của quá trình quản lí hoạt động dạy học ở các trung
tâm GDTX tỉnh Ninh Bình
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các
trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Ninh bình
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đối với trung tâm GDTX, hoạt động dạy học văn hoá được diễn ra dưới các
trung tâm GDTX tỉnh Ninh Bình. Trên cơ sở phân tích công tác quản lí, chỉ ra những
mặt mạnh, mặt yếu và nguyên nhân để từ đó đề xuất những biện pháp quản lí.
- Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp dùng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia
có trình độ cao thuộc một lĩnh vực, chuyên ngành để nhận định, đánh giá một vấn
đề khoa học.
Đối tượng chuyên gia cần lấy ý kiến là các đồng chí lãnh đạo Sở GD&ĐT,
các cán bộ, chuyên viên phòng GDCN-GDTX, các Giám đốc trung tâm GDTX và
các thầy cô khoa quản lí giáo dục của trường ĐHSP Hà Nội.
3
Cánh thức tiến hành: thông qua gặp trực tiếp, trao đổi qua hộp thư, qua các
cuộc họp, hội thảo.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp toán thống kê là phương pháp sử dụng các công thức toán
thống kê để định hướng kết quả nghiên cứu trên cơ sở đó rút ra kết luận khoa học
mang tính khái quát.
Trên cơ sở thu thập số liệu và xử lí số liệu, từ đó cho phép đánh giá hiệu quả
của nội dung nghiên cứu, tính cấp thiết, tính thực tiễn và tính hiệu quả của các biện
pháp quản lí đề xuất.
7.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ (biểu bảng, sơ đồ)
8. Điểm mới của đề tài
Vấn đề GDTX ở nước ta đến nay đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu,
các đề tài, các bài báo đăng trên các tạp chí và báo cáo ở nhiều hội thảo khoa học.
Điển hình là các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Tô Bá
Trượng, Trần Kiểm, Vũ Ngọc Hải, Trần Bá Hoành, Thái Xuân Đào, Nguyễn Như
Ất, Phạm Tất Dong, v.v… và gần đây có một số luận văn thạc sĩ khoa học chuyên
ngành quản lí giáo dục nghiên cứu về các lĩnh vực quản lí trung tâm GDTX như của
các tác giả: Dương Hiền Mỹ, năm 2006; Lê Công Phi, năm 2009; Lê Hồng Thịnh,
một cách khách quan vai trò của GDTX đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, đưa
đến sự phát triển cho mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia và toàn xã hội.
Nếu xem xét với tư cách là một hệ thống thì GDTX mới hình thành vào
những năm giữa của thế kỷ XX. Năm 1949 tại Flsior (Đan Mạch) lần đầu tiên tổ
chức Hội nghị quốc tế về GDTX. Đây có thể coi là dấu mốc khởi đầu đánh dấu sự
quan tâm của các nhà giáo dục học đối với vấn đề giáo dục người lớn – bộ phận chủ
yếu trong đối tượng của GDTX. Hội nghị là sự khởi đầu cho chuỗi các Hội nghị thế
giới về GDTX.
Cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, khoa học và công nghệ (KH&CN) phát triển
rất nhanh, những thành tựu mới về KH&CN dẫn đến sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu
ngành nghề (nhiều nghề cũ đã không thể tồn tại đồng thời xuất hiện những ngành
nghề mới) thúc đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa… Sự thay đổi môi trường và điều
kiện sống, thay đổi công nghệ trong sản xuất đã đặt ra yêu cầu đối với người dân
nói chung và lực lượng lao động nói riêng luôn phải học để tiếp thu cái mới. Nhu
6
cầu học tập không chỉ dừng lại ở một độ tuổi nhất định hay đóng khung trong
những nội dung đã được chọn lọc tinh túy, kinh nghiệm và nó là nhu cầu của đa số
người dân ở mọi lứa tuổi, trình độ, điều kiện và hoàn cảnh sống, nhu cầu về nội
dung học cũng rất phong phú và liên tục biến động theo sự xuất hiện với tần suất
nhanh của những thành tựu khoa học mới. Thực tế đó đã chỉ ra sự bất cập của nền
giáo dục đương thời vốn chỉ chú trọng vào phương thức GDCQ, tập trung. GDCQ
chủ yếu tập trung ở đô thị, thiếu linh động về đối tượng người học và nội dung học
đã không đáp ứng được nhu cầu học tập của người dân cả về hình thức và nội dung
học. Giáo dục ít có cơ hội đến những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và đến với người nghèo.
Năm 1968 xuất hiện tác phẩm nổi tiếng của Ph.Combs “Khủng hoảng giáo
dục trên phạm vi toàn Thế giới”. Trong tác phẩm này đề cập đến 4 vấn đề sau:
- Giáo dục trong nhà trường không đủ đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người
- Học vấn trong nhà trường thậm chí cả nhà trường đại học không đáp ứng
được yêu cầu phát triển KT-XH
thể thiếu trong hệ thống GDQD. GDTX ngày càng khẳng định vai trò hết sức to lớn
trong việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển KT- XH ở
mỗi nước. GDTX là chìa khoá vàng để bước vào thế kỷ XXI (Hội nghị lần thứ III
khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về GDTX do UNESCO tổ chức tại Kuala
Lumpur, Malaysia năm 1996 đã đưa ra).
1.1.2. Ở Việt Nam
Quá trình phát triển của GDTX gắn liền với quá trình phát triển của hệ thống
giáo dục quốc dân nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
Năm 1945 khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Chính phủ đã ký sắc
lệnh số số 17 ngày 8/9/1945 về thành lập Nha BDHV, rồi Sắc lệnh số 19: Thiết lập
cho nông dân, thợ thuyền và nhân dân lao động những lớp học bình dân buổi tối.
Nha BDHV ra đời là sự mở đầu và là tiền thân của ngành GDTX ngày nay [30].
Ngay từ khi mới phát động phong trào Bình dân học vụ năm 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ thị "Mỗi người biết chữ là một giáo viên, mỗi gia đình là một
8
lớp học, mỗi người công dân Việt Nam bất kỳ già trẻ gái trai đều phải biết chữ ".
Đây được coi là phương châm và nội dung công tác của Bình dân học vụ. Bản chất
của Bình dân học vụ là một phong trào của quần chúng, “của dân, do dân, vì dân”,
chủ trương lấy sức mạnh của nhân dân để tiến hành công việc. Bình dân học vụ là
công cuộc của toàn dân, vì vậy mọi người dân yêu nước, tùy tài, tùy lực, ai cũng
phải tham gia.
Dù với hình thức sơ khai và trong diều kiện rất khó khăn, song chỉ sau một
năm hoạt động BDHV để chống nạn thất học (8/9/1945 - 8/9/1946) đã có 2.520.678
người, chủ yếu là người lớn tuổi, đã thoát nạn mù chữ. Trong thời gian từ năm 1945
đến năm 1959, GDTX nước ta đã làm nên một kỳ tích: Cơ bản xóa được nạn mù
chữ cho toàn dân, 93.4% dân số trong độ tuổi từ 12 đến 50 đã biết đọc, biết viết
chữ quốc ngữ , từng bước nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động và đào tạo
nhanh chóng được một đội ngũ cán bộ để đáp ứng được nhu cầu của cách mạng.
Có nhiều nguyên nhân đưa đến thành tựu nổi bật trên của GDTX trong giai
đoạn này, song nguyên nhân chính phải khẳng định là do công tác quản lí rất hiệu
và học thường xuyên suốt đời; đa dạng hóa hình thức giáo dục đào tạo.
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997) đã
đề ra những định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó đã chỉ rõ: Giữ vai trò nòng cốt của các
trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục – đào tạo, tạo cơ hội cho
mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình.
Đến nay, do sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, sự đóng góp to lớn của đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, ngành GDTX đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu
học tập của nhân dân.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của đất nước, GDTX đang đứng trước
những nhiệm vụ nặng nề và phải tích cực khắc phục những yếu kém để vươn lên,
đặc biệt là chất lượng giáo dục còn thấp và không đồng đều giữa các vùng, miền,
công tác quản lí dạy học còn nhiều yếu kém, trong đó có công tác quản lí dạy học
bổ túc THPT của các trung tâm GDTX.
10
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục
1.2.1.1. Quản lí
Quản lí là một khái niệm ghép “quản” và “lí”. “Quản’ có hàm nghĩa rất phong
phú: Cai quản, thống trị, giữ gìn, theo dõi…Theo góc độ điều khiển, “quản” có thể
hiểu là lái, điều khiển, chỉ huy, kiểm soát…Do đó, trong đời sống xã hội ngày càng
phát sinh những khái niệm liên quan với từ “quản” như quản giáo, quản thúc, quản
tượng, quản gia, quản trị,…. “Lí” theo hàm nghĩa là khoa học, khách quan nâng cao
hiệu quả hoạt động “quản”.
C.Mác đã lột tả bản chất của quản lí là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những
công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động
của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động riêng lẻ của nó. Một người chơi
vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy. Như vậy,
theo C.Mác: quản lí là loại lao động để điều khiển mọi quá trình lao động phát triển
xã hội.
- Đối tượng tác động của quản lí là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ
thể sống, gồm nhiều yếu tố có quan hệ hữu cơ theo một cấu trúc nhất định, tồn tại
theo thời gian, không gian cụ thể. Ví dụ: Một doanh nghiệp, một trường đại học,
một khối liên minh, một quốc gia,…
- Hệ thống quản lí gồm hai phân hệ: Chủ thể quản lí và khách thể quản lí.
- Tác động quản lí thường mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp,
biện pháp khác nhau.
- Quản lí là một hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định
đúng quy luật và có hiệu quả quản lí nhưng cũng tuân theo những nguyên tắc nhất
định nhằm hướng đến mục tiêu.
- Mục tiêu cuối cùng của quản lí là chất lượng, sản phẩm vì lơi ích phục vụ
con người.[18]
1.2.1.2. Quản lí giáo dục
Khái niệm Quản lí giáo dục hiện nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau:
12
- Tác giả M. I Kônđacốp cho rằng: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện
pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ
thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như
chất lượng”.[31]
- Khuđôminski cho rằng: “Quản lí giáo dục là tác động hệ thống có kế hoạch,
có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các
khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản xã hội chủ nghĩa
cho thế hệ trẻ”[8].
- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là
hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”[1].
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí (hệ giáo dục) nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các
tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
quy luật xã hội, v.v…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục. [25]
Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục thực chất là những tác động của chủ
thể quản lí vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh,
với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Tóm lại: Theo các tác giả thì khái niệm quản lí giáo dục đều chứa đựng các
nhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể quản lí giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản
lí của nhà nước mà cơ quan quản lí trực tiếp là Bộ, Sở, Phòng giáo dục, còn ở tầm
vi mô là quản lí của Hiệu trưởng nhà trường. Phải có hệ thống tác động quản lí
theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương
nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội, phải có
một lực lượng đông đảo của xã hội những người làm công tác giáo dục cùng với
hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng.
1.2.2. Dạy học và quản lí hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX
1.2.2.1. Trung tâm GDTX ( Khái niệm, vị trí, cơ cấu tổ chức)
* "Giáo dục thường xuyên" là một khái niệm rộng rãi bao gồm toàn thể các cơ
hội học tập mà mọi người đều mong muốn hoặc cần có sau xóa mù chữ cơ bản và
14
giáo dục tiểu học. GDTX cung cấp cơ hội để mọi người học tập suốt đời ở Việt
nam, GDTX thực hiện cả chương trình xóa mù chữ ( XMC) và giáo dục tiếp tục sau
khi biết chữ (GDTTSKBC).
Qua đó, chúng ta thấy quan niệm cho rằng các hoạt động giáo dục chỉ diễn ra
trong nhà trường (GDCQ) là phiến diện và lạc hậu, thay vào đó là quan niệm rộng
về giáo dục. Đó là, các hoạt động giáo dục diễn ra cả trong nhà trường và ngoài nhà
trường (Chính quy, không chính quy, phi chính quy), diễn ra trong suốt cuộc đời
của mỗi con người (học suốt đời), việc đi học trong nhà trường chỉ chiếm một phần
nhỏ của cuộc đời, còn phần lớn là học theo các chương trình GDTX. GTDX cung
ứng cơ hội học tập suốt đời, nhằm bù đắp, cập nhập những kiến thức, kĩ năng còn
thiếu trong giáo dục chính quy, đồng thời bảo đảm một sự phát triển và nâng cấp
không ngừng về tài nguyên con người trong suốt cuộc đời của toàn thể công dân.
trong hệ thống GDTX của nước ta có các trung tâm GDTX cấp tỉnh và trung tâm
GDTX cấp huyện. Trung tâm GDTX cấp tỉnh khác trung tâm cấp huyện về cấp
quản lí và một số chức năng, nhiệm vụ. Trong quan hệ giữa Trung tâm GDTX cấp
tỉnh và Trung tâm cấp huyện không phải là quan hệ “trên, dưới” trong quản lí.
* Về cơ cấu tổ chức của trung tâm GDTX, Điều 12 (Quy chế tổ chức và
hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên) đã ghi:
“1. Đối với trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện:
a) Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó
giám đốc;
b) Cơ cấu tổ chức của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện gồm các
tổ: tổ hành chính – tổng hợp, tổ giáo vụ, tổ dạy văn hoá, tổ dạy nghề, ngoại ngữ và
tin học, tổ chuyên đề và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ
phó do giám đốc trung tâm bổ nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của
các tổ này do giám đốc trung tâm quy định.
2. Đối với trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh:
a) Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó
giám đốc;
16
b) Cơ cấu tổ chức của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh gồm có:
phòng tổ chức hành chính, phòng quản lí đào tạo, phòng bồi dưỡng nâng cao trình
độ, phòng dạy văn hóa và các phòng, tổ chuyên môn khác; mỗi phòng có 1 trưởng
phòng, 1 hoặc 2 phó trưởng phòng; mỗi tổ có 1 tổ trưởng, 1 hoặc 2 tổ phó do giám
đốc trung tâm bổ nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các phòng, tổ
này do giám đốc trung tâm quy định”.
1.2.2.2. Dạy học
Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng
giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích
chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà
nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán
thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
nhất, cùng hướng đến mục tiêu chung, đó là sự biến đổi của người học về nhận
thức, kỹ năng và thái độ. Kết quả học tập của HS được đánh giá không chỉ là kết
quả của hoạt động học mà còn là kết quả của hoạt động dạy.
Tóm lại, DH là quá trình hoạt động cộng đồng hợp tác giữa thầy với HS, giữa
HS với HS. Dạy tốt, học tốt là đảm bảo sự thống nhất của điều khiển, bị điều khiển,
tự điều khiển và mối liên hệ ngược thường xuyên, bền vững [45].
1.2.2.4. Quản lí hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX
Hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm trong các trung tâm GDTX, vì vậy quản lí
hoạt động giảng dạy và học tập là trọng tâm của hoạt động quản lí của Trung tâm.
Quản lí dạy học là quản lí một hoạt động với tư cách là một hệ thống toàn vẹn
bao gồm các yếu tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt
động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và các phương tiện dạy học, các
hình thức tổ chức dạy học, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Theo tác giả Đỗ Bích Ngọc “Quản lí quá trình dạy học là một bộ phận cấu
thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lí quá trình giáo dục và đào tạo trong
trường học. Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhân cách, nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [32].
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học
được thể hiện bằng sự hợp tác giữa dạy và học theo logic khách quan của nội dung.
18
Như vậy quản lí hoạt động dạy học là hoạt động sư phạm của người thầy và
hoạt động học tập rèn luyện của trò, đề hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
Quản lí các hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX là những tác động có mục
đích, có kế hoạch của Giám đốc đến tập thể giáo viên, học viên và những lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp
trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối
ưu tới các mục tiêu dự kiến.
Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách khoa, 2000), “Dạy – học là
quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độ : quản lí và thực hiện. Ở cấp độ
quản lí có mối quan hệ điều khiển dọc giữa cấp trên (cơ quan quản lí) và cấp dưới
Kế hoạch phải mang tính cụ thể, tức là xác định được mục tiêu cần đạt, dự
kiến được nguồn lực(nhân lực, tài lực, vật lực) để thực hiện, phân bố thời gian hợp
lý và quyết định những biện pháp có tính khả thi để thực hiện.
Kế hoạch quản lí hoạt động dạy học bổ túc THPT có thể tách riêng hoặc nằm
trong kế hoạch tổng thể của trung tâm GDTX, được xây dựng theo từng năm học,
mang tính pháp quy, tức là được Hội nghị cán bộ, viên chức, người lao động trung
tâm GDTX thông qua và bổ sung, hoàn chỉnh ở đầu năm học.
Công tác xây dựng kế hoạch dạy học ở trung tâm GDTX bao gồm:
- Công tác xây dựng kế hoạch chuyên môn của Ban giám đốc: Kế hoạch chỉ
đạo chuyên môn; kế hoạch bồi dưỡng học viên giỏi; kế hoạch phụ đạo học viên yếu
kém; kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên; kế hoạch kiểm tra
toàn diện - chuyên đề giáo viên.
- Công tác xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và của giáo viên: Căn cứ
nhiệm vụ năm học của các cấp quản lí và tình hình cụ thể của đơn vị, của tổ chuyên
môn, của cá nhân đề ra kế hoạch phù hợp. Giám đốc là người hướng dẫn giáo viên
xây dựng kế hoạch, trên cơ sở mục tiêu đề ra và tìm ra các biện pháp thực hiện các
mục tiêu đó,
+ Kế hoạch cá nhân:
20
Cơ sở xây dựng kế hoạch: đó là nhiệm vụ năm học, quy định về bộ môn,
định mức chỉ tiêu được giao, chất lượng học viên, các điều kiện đảm bảo cho việc
dạy học.
Xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu các mặt hoạt động
Các biện pháp: Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn; cách thức thực hiện đổi
mới phương pháp; tự học, tự nâng cao trình độ tay nghề; liên hệ thực tế, học hỏi và
rút kinh nghiệm,….
Điều kiện đảm bảo thực hiện kế hoạch: sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,
trang thiết bị, kinh phí phục vụ,….
Đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
+ Kế hoạch các tổ: