1 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở thực vật ngoài protein, saccarit, lipit, vitamin, còn có những chất
khác có vai trò quan trọng trong trao đổi chất của cây được gọi là các chất thứ
sinh (plant secondary metabolites). Căn cứ vào tính chất hóa học, các hợp
chất thực vật thứ sinh được chia thành một số nhóm chính như: nhóm
phenolic, nhóm terpen, và nhóm alkaloid.
Các chất này rất đa dạng về cấu trúc và kích thước, và được tìm thấy
trong rất nhiều loài thực vật khác nhau, mỗi loài có một dẫn xuất khác nhau.
Lượng chất thứ cấp được tạo ra thường rất nhỏ, nhưng chúng có khả năng
tiềm ẩn hoạt tính sinh học rất mạnh ngay cả khi chúng thấp hơn 1% trọng
lượng mô thực vật. Các hợp chất thứ cấp có thể được sản xuất trong các loại
tế bào đặc biệt như tế bào tuyến tiết, lông tơ, biểu bì… nơi mà chúng được tiết
ra có chức năng như các chất xua đuổi, tự vệ hay dẫn dụ. Một trong những
chức năng dễ nhận thấy nhất ở các chất thứ cấp đó là có vai trò sinh hóa trong
cơ chế bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh và xâm hại [30], [32].
Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã cho thấy các hợp chất
polyphenol (thuộc nhóm hợp chất phenolic) ngày càng ứng dụng rộng rãi
trong điều trị một số bệnh nan y như: nhiễm trùng, ung thư, béo phì, tiểu
đường …[1].
Hiện nay trên thế giới với những thống kê mới nhất về bệnh tiểu
đường, nhất là loại 2, hết sức đáng lo ngại. Tại Mỹ hiện nay có ít nhất 25 triệu
người mắc và sẽ tăng lên tới 60 triệu trong 10 năm tới nếu không có gì thay
đổi trong nếp sống của người dân khi những người ở trong tình trạng tiền tiểu
đường (pre diabetic) trở thành bị tiểu đường thực sự. Tuy vậy không chỉ riêng
nước Mỹ phải đối diện với bệnh tiểu đường với tỷ lệ mắc bệnh trung bình 8 %
dân chúng. Tại các nước Châu Á cũng đang có một làn sóng bệnh tiểu đường
lan tràn hết sức mau lẹ. Tại Ấn độ tỷ lệ bệnh tiều đường hiện nay đã lên tới
có hiệu quả nhất chưa được quan tâm nhiều.
3 Cây đương quy, là cây thảo sống nhiều năm, cao 40-60cm. Rễ rất phát
triển. Thân hình trụ, có rãnh dọc màu tím. Rễ dài 10 - 20 cm, gồm nhiều
nhánh. Mặt ngoài màu nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc. Mặt cắt ngang màu
vàng ngà, có vân tròn và nhiều điểm tinh dầu. Mùi thơm đặc biệt. Vị ngọt, cay
và hơi đắng. Theo y học cổ truyền, đương quy có tác dụng điều trị: Huyết hư,
chóng mặt, tim đập mạnh, điều hoà kinh nguyệt, kinh nguyệt bế tắc, hành
kinh đau bụng, đau bụng do hư hàn, táo bón. Chữa các chứng đau đầu, đau
lưng do thiếu máu, phong thấp tê đau, sưng đau do sang chấn. Tuy nhiên việc
nghiên cứu đặc tính hóa sinh, y dược của các hoạt chất thiên nhiên từ đối
tượng này với việc điều trị bệnh tiểu đường chưa được nghiên cứu. Chính vì
vậy chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu đặc tính sinh dƣợc của dịch
chiết từ cây Đƣơng quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels) ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hoạt tính sinh dược của một số phân đoạn dịch chiết từ cây
Đương quy (Angelica sinensis (Oliv) Diels).
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tách chiết, định tính, định lượng một số phân đoạn dịch chiết chứa hoạt
chất thiên nhiên từ cây Đương quy.
3.2 Nghiên cứu đặc tính hóa sinh của các phân đoạn dịch chiết.
3.3 Nghiên cứu tác động hạ đường huyết và chống rối loạn trao đổi lipid trên
mô hình chuột BP và ĐTĐ của các phân đoạn dịch chiết từ cây Đương quy.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Mẫu thực vật
+ Cây Đương quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels).
+ Bộ phận sử dụng: lá, thân và rễ (củ).
+ Địa điểm thu mẫu: Sìn Hồ - Lai Châu.
5 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về một số hợp chất tự nhiên ở thực vật
1.1.1. Hợp chất phenolic
1.1.1.1. Phân loại
Hợp chất phenolic là nhóm các chất khác nhau rất phổ biến trong thực
vật. Đặc điểm chung của chúng là trong phân tử có vòng thơm (benzen) mang
một, hai hay ba nhóm hydroxyl (OH) gắn trực tiếp vào vòng benzen. Dựa vào
thành phần và cấu trúc, người ta chia hợp chất phenolic thành 3 nhóm [32]:
- Nhóm hợp chất phenolic đơn giản: trong phân tử chỉ có một vòng
benzen và một vài nhóm hydroxyl. Tuỳ thuộc vào số lượng nhóm hydroxyl
mà chúng được gọi là các monophenol (phenol), diphenol (pyrocatechin,
hydroquinon, ), triphenol (pyrogalol, oxyhydroquinol, ).
- Nhóm hợp chất phenolic phức tạp: trong thành phần cấu trúc phân tử
của chúng ngoài vòng thơm benzen (C
6
) chúng còn có dị vòng, mạch nhánh.
Đại diện nhóm này có acid cynamic, acid cumaric.
- Nhóm hợp chất phenolic đa vòng: là nhóm đa dạng nhất trong các hợp
chất phenol, có cấu trúc phức tạp do sự liên kết hoặc trùng hợp của các đơn
phân. Ngoài gốc phenol còn có các nhóm phụ dị vòng mạch nhánh hoặc đa
vòng. Nhóm này có flavonoid, tannin và coumarin.
1.1.1.2. Vai trò của hợp chất phenolic trong thực vật
Hợp chất phenolic được hình thành từ những sản phẩm của quá trình
đường phân và con đường pentose qua acid cynamic hay theo con đường
acetate malonate qua Acetyl- CoA. Nhóm hợp chất này có một số chức năng
O
1
4
1'
5'6'
4'
3'
2'
A
C
B
Flavan (2-phenyl chroman)
Tùy theo mức độ oxy hoá của vòng pyran, sự có mặt hay không có mặt
của nối đôi giữa C
2
và C
3
và nhóm cacbonyl ở C
4
mà có thể phân biệt
flavonoid thành các nhóm phụ sau: flavon, flavonol, flavanon, chalcon và
auron, antoxyanidin, leucoantoxyanidin, catechin, isoflavonoid, rotenoid,
neoflavonoid.
Flavonoid tồn tại ở hai dạng: dạng tự do gọi là aglycon và dạng liên kết
với đường gọi là glycoside. Các glycoside khi bị thuỷ phân bằng acid hoặc
enzyme sẽ giải phóng ra đường và aglycon tương ứng. Có 2 dạng glycoside là
7
H
2
O
2
+ Flavonoid (dạng khử )
(dạng Hydroquinon)
Flavonoid (dạng oxi hoá)
(Semiquinon hoặc Quinon) + H
2
O
Semiquinon hoặc quinon là những gốc tự do bền vững, chúng có thể
nhận điện tử và hydro từ chất cho khác nhau để trở lại dạng hydroquinon. Các
chất này có khả năng phản ứng với các gốc tự do hoạt động sinh ra trong quá
trình sinh lý và bệnh lý để tiêu diệt chúng.
- Flavonoid có khả năng điều hòa hoạt độ enzyme do khả năng liên kết
với nhóm amin trong phân tử protein, làm thay đổi cấu hình không gian của
enzyme do đó tạo hiệu ứng điều hòa dị lập thể.
8 - Flavonoid có tính kháng khuẩn, kháng virus, tăng khả năng đề kháng
của cơ thể do kích thích lympho bào, tăng sản xuất interferon, ức chế hiện
tượng thoát bọng (digramilation).
- Flavonoid có hoạt tính của vitamin PP, làm tăng tính bền và đàn hồi
của thành mạch, giảm sức thấm của mao mạch.
- Flavonoid có tác dụng chống ung thư do kìm hãm các enzyme oxy
hoá khử, quá trình đường phân và hô hấp, kìm hãm phân bào, phá vỡ cân
bằng trong các quá trình trao đổi chất của tế bào ung thư [6].
- Tác dụng giảm béo phì và lipid máu
O
OH
OH
OH
CH
3
O
O
O
OH
OH
H
3
OC
O
O
OH
OH
OH
O
OH
OH
OH
OH
OH
Quercetin
Hesperidin
Tannin được cấu tạo dựa trên acid gallic và acid tanic. Tannin có 2
nhóm chính: tannin thuỷ phân và tannin ngưng tụ.
- Tannin thuỷ phân: gồm có các tannin mà thành phần chính để tạo
polymer thường là ester của acid gallic với gốc đường, các ester không mang
đường của acid phenolcacbonic và ester của acid ellagovic với đường.
- Tannin ngưng tụ: là các oligomer hay polymer của các đơn vị
flavonoid (flavan 3- ol) nối với các dây nối C - C không bị cắt khi thuỷ phân
như catechin, epicatechin hoặc các chất tương tự. Tannin ngưng tụ có thể có
từ 2 tới 50 hay hơn các đơn vị flavonoid.
10 Tannin thường là hợp chất vô định hình hoặc tinh thể, không màu, có
tính quang học, vị chát. Tannin tan trong nước tạo dung dịch keo và độ hoà
tan thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ polymer hoá. Chúng tan tốt trong ethanol,
acetone.
1.1.3.2. Tác dụng sinh học
- Tannin là chất cầm rửa do có tác dụng giảm sự bài tiết trong ống tiêu
hóa, kết tủa protein tạo thành một màng che niêm mạc.
- Tannin có tác dụng chống ung thư do có khả năng kết hợp với các
chất gây ung thư.
- Tannin ở nồng độ cao ức chế hoạt động của các enzyme nhưng ở
nồng độ thấp chúng thường kích hoạt enzyme.
- Tannin có tác dụng ức chế và diệt khuẩn, tác dụng cầm máu do làm se
hệ mao mạch hay tác dụng làm giảm đau tại chỗ do làm giảm tác dụng ở đầu
dây thần kinh trung ương. Tannin còn chữa ngộ độc kim loại nặng và alkaloid
do tạo tủa với chúng.
1.1.4. Alkaloid
1.1.4.1. Khái quát về Alkaloid
Alkaloid là hợp chất chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng và có tính kiềm,
Nicotin
11 Alkaloid có tính kiềm yếu, do các mạch cacbon chứa nitơ quyết định.
Chúng có thể liên kết với kim loại nặng tạo phức và phản ứng với một số
thuốc thử đặc trưng như: Bouchardat (kết tủa màu nâu sẫm), Vans-Mayer (kết
tủa trắng ánh vàng) hay Dragendroff (màu da cam, nâu đỏ).
1.1.4.2. Tác dụng sinh học
Alkaloid được hình thành từ các sản phẩm của quá trình trao đổi chất
như trao đổi protein. Ở trong cây, alkaloid được coi như là chất dự trữ cho
tổng hợp protein, các chất bảo vệ cây, tham gia vào sự chuyển hoá hydro ở
các mức độ khác nhau, [27].
Alkaloid được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược, có rất nhiều
thuốc chữa bệnh được sử dụng trong y học là các alkaloid tự nhiên hoặc nhân
tạo, ví dụ như: atrophin, morphin, cocain,
1.2. Bệnh béo phì (Obesity)
1.2.1. Khái niệm và phân loại béo phì
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa béo phì (Obesity) là tình trạng
tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng hay toàn bộ cơ thể
gây ảnh hưởng tới sức khỏe. Tổ chức này dùng chỉ số khối cơ thể BMI (Body
Mass Index) để đánh giá tình trạng dư thừa hay thiếu hụt mỡ của mỗi người.
Chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức như sau: Trong đó: W: Khối lượng (kg)
H: Chiều cao (m)
12
giới, khoảng 60 triệu người (chiếm 30% dân số), tăng gấp 3 lần so với điều tra
năm 1991. Ở châu Âu, Anh là quốc gia đứng đầu bảng với 23% dân số. Tại
châu Á tỉ lệ thừa cân béo phì ở một số nước như sau: Thái Lan 3,5%, Philipin
4,27%, Malaysia 3,01%, Nhật 3%, Trung Quốc 2%, Hồng Kông 3%.
Tại Việt Nam, theo tiêu chuẩn cho người châu Á, số người thừa cân
béo phì cũng tăng theo thời gian. Năm 1991 thì tỉ lệ thừa cân mắc bệnh béo
phì nói chung tại Hà Nội là 1,1%. Đến năm 2000 con số này đã là 2,62% tăng
gần 2,5 lần trong vòng 10 năm. Năm 2007, Viện dinh dưỡng Quốc gia điều
tra trên đối tượng người trưởng thành 25 - 64 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân béo
phì là 16,8% và còn có xu hướng tăng lên. Theo Viện trưởng TS. Nguyễn
Công Khẩn thì tỉ lệ này ở thành thị lớn hơn nông thôn, ở nữ giới cao hơn nam
giới. Trẻ em Việt Nam cũng có 16,3% mắc thừa cân béo phì [13]. Hà Nội có
4,9% trẻ 4 - 6 tuổi mắc bệnh, Thành phố Hồ Chí Minh 6% trẻ dưới 5 tuổi và
13 22,7% học sinh tiểu học cũng rơi vào tình trạng này [13]. Với những hiểu biết
hiện nay, thừa cân, béo phì được coi là những đối tượng “nghiễm nhiên” tiến
tới ĐTĐ typ 2, đặc biệt với những người có chỉ số BMI cao lại có vòng eo lớn
– béo trung tâm [2]. Trước tình hình đó Bộ y tế đã kí quyết định thành lập
“Trung tâm phục hồi dinh dưỡng và kiểm soát béo phì” trực thuộc Viện dinh
dưỡng, chính thức tuyên chiến với bệnh béo phì.
1.2.3. Nguyên nhân gây ra béo phì
Nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân béo phì là do khẩu phần và thói
quen dinh dưỡng không hợp lý, hoạt động thể lực kém dẫn đến năng lượng
hấp thụ vào cơ thể vượt quá mức cần thiết và tích lũy dưới dạng mỡ.
Ngoài ra một số bệnh lý nội tiết như: hội chứng Cushing (do hormone
cortisosteroid trong cơ thể tăng quá cao), bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh
trứng đa nang hoặc có chứa gen béo phì di truyền.
1.2.4. Các tác hại và nguy cơ cụ thể của béo phì
Để đánh giá lượng mỡ trong máu người ta làm xét nghiệm với các chỉ số:
* Cholesterol toàn phần (2,9 – 5,2 mmol/l);
* Triglycerid (0,8 – 2,3 mmol/l);
* HDL-C (0,90 – 1,50 mmol/l);
* LDL-C (0,5 – 3,4 mmol/l).
Tình trạng rối loạn và hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid trong
máu, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch làm tăng nguy cơ
biến chứng tim mạch và đột qụy, tăng các biến chứng mạch máu khác, hậu
quả nặng nề nhất là dẫn đến tử vong hoặc tàn phế gọi là rối loạn chuyển hóa
[2]. Ngày nay người ta đã xem là có rối loạn lipid máu ngay từ khi tỉ lệ thành
phần của lipid máu có sự thay đổi. Khái niệm này chỉ rõ rối loạn lipid máu có
thể xảy ra từ rất sớm, ngay cả khi chưa có tăng các giá trị tuyệt đối nồng độ
của các thành phần trong máu [2]. Rối loạn này có thể tiên phát do di truyền
15 hoặc thứ phát sau các bệnh khác như: béo phì, ĐTĐ, nghiện rượu, suy giáp
trạng. Fredrickson căn cứ vào kĩ thuật điện di và siêu ly tâm với các thành
phần huyết thanh đã phân loại chứng tăng lipid máu thành 5 type dựa trên
những thay đổi thành phần lipoprotein. Cách phân loại này đã được WHO
chính thức sử dụng vào năm 1970 [23]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh
người mắc bệnh béo phì có nguy cơ cao mắc các bệnh rối loạn lipid máu dẫn
đến xơ vữa động mạch (liên quan chủ yếu đến các lipoprotein) hoặc hiện
tượng “nhiễm độc mỡ tế bào” [18], [23].
1.2.6. Giải pháp phòng và điều trị
Để phòng bệnh béo phì có hiệu quả, mỗi cá nhân cần nâng cao nhận
thức về dinh dưỡng và hoạt động thể lực. Trên phạm vi xã hội, việc phòng
bệnh cần tập trung vào nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh này.
Điều trị thừa cân béo phì dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa chế độ ăn
uống, luyện tập và dùng thuốc. Trong đó thuốc và phẫu thuật chỉ dùng trong
(10,3%). Hiện nay, có khoảng hai triệu người mắc bệnh ĐTĐ nhưng có tới
65% số đó không biết mình đã mắc bệnh. Theo PGS. TS Tạ Văn Bình: ĐTĐ
type 2 ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày một tăng nhanh, đây là một vấn đề rất
đáng lưu tâm [2].
1.3.2. Phân loại bệnh ĐTĐ
Bệnh ĐTĐ được xác định dựa vào những tiêu chí trong bảng 1.2 [4].
Bảng 1.2. Các tiêu chí để chuẩn đoán ĐTĐ theo WHO.
Kết luận
Đường huyết
lúc đói
(mmol/l)
Đường huyết 2 giờ
sau khi làm nghiệm
pháp tăng đường
huyết (mmol/l)
Đường huyết tại
thời điểm bất kì
(mmol/l)
Đái tháo đường
> 7
> 11.1
>11.1
kèm triệu chứng
uống nhiều, đái
nhiều và gầy sút.
Rối loạn dung
nạp đường huyết
5.6 - 7
7.8 - 11.1
Bình thường
trong máu.
18 - Giai đoạn 2: Tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần do có
hiện tượng tăng glucose huyết sau ăn.
- Giai đoạn 3: Kháng insulin không đổi nhưng bài tiết insulin suy giảm
gây tăng glucose huyết lúc đói, bệnh ĐTĐ biểu hiện ra bên ngoài.
Ngoài ra còn có ĐTĐ thai nghén và một số type ĐTĐ đặc biệt khác
như thiếu hụt chức năng tế bào β, thiếu hụt di truyền về tác động của insulin,
bệnh tụy ngoại tiết,
1.3.3. Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ
Trừ những nguyên nhân di truyền thì ăn uống sinh hoạt hợp lý điều độ
và khám sức khỏe định kỳ là phương thức chung để phòng bệnh nói chung và
bệnh ĐTĐ nói riêng. Tùy theo loại ĐTĐ mà việc điều trị bằng thuốc là khác
nhau:
+ Insulin và các thuốc kích thích bài tiết insulin như Sulfonflurea,
Nateglinid (Starlix) …
+ Thuốc làm tăng tính nhạy cảm của thụ thể với insulin như: Biguanid,
nhóm thiazolidinedion…
+ Các thuốc chống tăng glucose huyết sau bữa ăn: thuốc ức chế enzyme
α- glucosidase…
1.4. Mối quan hệ giữa béo phì và đái tháo đƣờng
Béo phì và ĐTĐ là hai bệnh không truyền nhiễm nhưng nguy hiểm
nhất của thế kỉ 21. Hai căn bệnh này có mối liên quan chặt chẽ với nhau thể
hiện ở chỗ tỉ lệ người béo phì luôn tăng tương đương với số bệnh nhân bị
ĐTĐ. Một cuộc khảo sát của Mỹ gần đây đã chỉ ra rằng có tới 58% số người
bị ĐTĐ type 2 được quy cho là do béo phì. Béo phì liên quan tới ĐTĐ type 2
thông qua sự đề kháng insulin. Nồng độ acid béo tự do cứ tăng 100µM thì
mức đề kháng insulin tăng khoảng 5-10% [2]. Thiếu insulin dẫn đến sự tăng
năm 1996 thì người có BMI > 25 có nguy cơ mắc ĐTD týp 2 cao gấp 3,74 lần
so với người bình thường [28]. Nghiên cứu của Thái Hồng Quang, tỷ lệ ĐTD
20 ở người có béo phì độ 1 cao hơn 4 lần và béo phì độ 2 là 30 lần so với người
bình thường [17], [21], [22].
ĐTĐ đặc trưng bởi sự rối loạn chuyển hóa glucid, sự rối loạn này ảnh
hưởng đến môi trường nội môi do đó kéo theo hoặc làm cho quá trình rối loạn
chuyển hóa lipid ở mỗi loại ĐTĐ mang những đặc trưng riêng. Đặc trưng
chung của rối loạn chuyển hóa lipid trong ĐTĐ là sự tăng triglycerid, giảm
HDL-C và LDL-C vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Tuy nhiên ở ĐTĐ
type 1 rối loạn tăng triglycerid sẽ mất đi khi kiểm soát được glucose máu
khác với type 2, rối loạn này có thể vẫn kéo dài mặc dù có sự điều trị
giảm glucose máu thích hợp. LDL-C của type 2 cũng có thể tăng nhẹ và
xuất hiện nhiều LDL-C với kích thước nhỏ và nặng hơn khi việc kiểm
soát glucose kém. Đây chính là yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh xơ vữa
động mạch [21].
1.5. Phƣơng pháp gây đái tháo đƣờng thực nghiệm STZ
Streptozotocin (STZ: 2 – deoxy – 2 - (3 – metyl – 3 - nitrosoureido) –
D - glucopyranose) là chất có hoạt tính chống ung thư được chiết xuất từ nấm
Streptomyces achromogens. Khả năng gây ĐTĐ của STZ đã được phát hiện
vào năm 1963. Kể từ đó STZ được sử dụng rộng rãi trong mô hình động vật
ĐTĐ type 1 và type 2 phục vụ trong các nghiên cứu về thuốc [11], [38], [48].
Tùy vào liều lượng STZ và cách thức tiến hành người ta có thể gây
ĐTĐ type1 hay type 2.
21
đổi bất lợi cho tế bào. NO và các dạng oxy hoạt động còn có thể tạo thành
peroxynitrate (ONOO) có độc tính cao. Tổn thương ADN gây ra bởi STZ làm
tăng cường quá trình trùng hợp ADP (Poly ADP - ribosylation) dẫn đến làm
mất NAD
+
, xa hơn nó phá hủy ATP dự trữ và sau đó ức chế sự tổng hợp và
tiết insulin của tế bào β, [38].
22
Hình 1.1. Cơ chế gây độc của STZ lên tế bào β của tụy đảo chuột
(MIT – Ty thể, XOD – xanthine oxidase) [38].
1.6. Vài nét chung về cây đƣơng quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels)
1.6.1. Thực vật học
Cây đương quy còn được gọi là Tần Quy, Can Quy. Tên khoa học là:
Anglelica sinensis (Oliv) Diels. Nó thuộc họ hoa tán: Apiacaeae (Umbellierae)
Rễ rất phát triển. Thân hình trụ, có rãnh dọc màu tím. Rễ dài 10 - 20
cm, gồm nhiều nhánh. Mặt ngoài màu nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc. Mặt
cắt ngang màu vàng ngà, có vân tròn và nhiều điểm tinh dầu. Mùi thơm đặc
biệt. Vị ngọt, cay và hơi đắng.
Thân: thân thảo sống lâu năm, cây cao khoảng 40 – 60cm, khi ra hoa
thân cây cao 1m, thân có màu tím.
23 Lá: lá thuộc loại lá kép, có răng cưa không có lông. Cuống lá phát triển
thành bẹ bao bọc lấy thân.
Hoa: hoa thuộc loại hoa tán, tán kép gồm từ 12 – 40 hoa, hoa có màu
• N. butyliden phtalit C
12
H
12
O
2
.
• N. valerophenon O – cacboxyaxit C
12
H
14
O
3
.
24 • N. butylphtalit C
12
H
14
O
2
.
• Bergapten C
12
H
8
O
4
+ Cây Đương quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels).
+ Bộ phận sử dụng: Lá, thân, rễ.
+ Địa điểm thu mẫu: Sìn Hồ - Lai Châu.
+ Mẫu thực vật do Bộ môn Thực vật học - Trường ĐH Sư phạm Hà
Nội 2 giám định.
Hình 2.1: Hình thái cây Đƣơng quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels)