So sánh truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H'Mông (Trên cứ liệu hai tác phẩm Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm dâu - Pdf 29


Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
Tr-êng ®¹i häc s- ph¹m hµ néi 2

BÙI QUANG VINH

SO SÁNH TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THÁI
VÀ TRUYỆN THƠ DÂN TỘC H’MÔNG
(TRÊN CỨ LIỆU HAI TÁC PHẨM TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU
VÀ TIẾNG HÁT LÀM DÂU)

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THANH TÚ


này là kết quả nghiên cứu trung thực của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của Phó
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Tú. Luận văn không sao chép kết quả của bất kỳ
công trình khoa học nào dưới bất kỳ hình thức nào. Mọi trích dẫn làm căn cứ khoa
học đều đã được ghi chú đầy đủ, trung thực. Hà Nội, tháng 7 năm 2013
Tác giả luận văn Bùi Quang Vinh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học: Luận văn
này là kết quả nghiên cứu trung thực của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của Phó
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Tú. Luận văn không sao chép kết quả của bất kỳ
công trình khoa học nào dưới bất kỳ hình thức nào. Mọi trích dẫn làm căn cứ khoa
học đều đã được ghi chú đầy đủ, trung thực. Hà Nội, tháng 7 năm 2013
Tác giả luận văn Bùi Quang Vinh MỤC LỤC


1.1. Dân tộc Thái
10
1.1.1. Môi trường tự nhiên
10
1.1.2. Cơ sở xã hội
10
1.1.3. Về văn nghệ dân gian
15
1.2. Dân tộc H’Mông
18
1.2.1. Môi trường tự nhiên
18
1.2.2. Cơ sở xã hội
18
1.2.3. Về văn nghệ dân gian
24
Chương 2: Những điểm tương đồng giữa Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát
làm dâu

26
2.1. Về nội dung
26
2.1.1. Tình yêu dung dị thiết tha
26
2.1.2. Cuộc đấu tranh quyết liệt để bảo vệ tình yêu
28
2.1.3. Tình yêu thủy chung trong những hoàn cảnh mang tính bi kịch
33
2.2. Về nhân vật
37

2.4.1. Nguyên nhân về thể loại
66
2.4.2. Nguyên nhân lịch sử văn hóa
67
Chương 3: Những điểm khác biệt giữa Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát
làm dâu

69
3.1. Về nội dung
69
3.1.1. Cốt truyện
69
3.1.2. Mức độ trong đấu tranh để bảo vệ tình yêu
71
3.2. Về nhân vật
72
3.2.1. Mức độ hấp thu dân ca
72
3.2.2. Tính chất tự sự của nhân vật
74
3.2.3. Số phận nhân vật
78
3.3. Về nghệ thuật
80
3.3.1. Không gian mang tính biểu tượng (Tiễn dặn người yêu)
80
3.3.2. Miêu tả nhân vật
83
3.4. Nguyên nhân sự khác biệt
87

và dân tộc H’Mông, theo chúng tôi là một việc làm cần thiết. Nó cho chúng ta nhận
thức rõ hơn nhiều vấn đề xoay quanh những nét tương đồng - thống nhất của văn
học đa dân tộc Việt Nam vừa cho ta thấy cụ thể hơn những gì là nét độc đáo của văn
học dân tộc Thái và dân tộc H’Mông. Qua đó sẽ hiểu thấu đáo hơn thế nào là tính
dân tộc của một nền văn hoá – văn học đa dân tộc - một khía cạnh hết sức lý thú của
vấn đề mới chỉ được lưu ý đến gần đây.
1.3. Bản thân là người sinh ra và lớn lên, làm việc ở vùng đồng bào Thái và
đồng bào H’Mông sinh sống nên công việc tìm hiểu về truyện thơ dân tộc Thái và
truyện thơ dân tộc H’Mông đã giúp tôi hiểu thêm về văn hóa, văn học dân tộc Thái
và dân tộc H’Mông nói chung và thể loại truyện thơ của hai dân tộc này nói riêng.
Điều đó có ý nghĩa thiết thực cho công tác của tôi khi sinh sống và làm việc cùng

2
với đồng bào, và cũng hy vọng qua luận văn, chúng tôi làm sáng tỏ một vấn đề lý
luận văn học hiện đại là lý thuyết văn học so sánh. Đồng thời cũng góp phần làm rõ
hơn những bản sắc độc đáo của hai dân tộc Thái và H’Mông từ góc nhìn văn học.
2. Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái và dân tộc H’Mông xưa nay đã
được nhiều nhà nghiên cứu văn học sưu tầm, tìm hiểu. Chúng tôi xin điểm lại một
số công trình cơ bản sau đây:
2.1. Về truyện thơ Thái
Năm 1957, nhà nghiên cứu văn học Điêu Chính Ngâu – Dịch và giới thiệu
truyện thơ Tiễn dặn người yêu lần đầu tiên ra tiếng Việt từ nguyên bản chữ Thái.
Trong lời giới thiệu, Điêu Chính Ngâu đã nhận định sơ lược về giá trị phản ánh xã
hội của tác phẩm. Ông có đề cập tới giá trị nghệ thuật của tác phẩm nhưng không đi
sâu mà chủ yếu bàn về ảnh hưởng của ca dao dân ca Thái trong tác phẩm.
Năm 1958, Điêu Chính Ngâu, Hà Lem, Cầm Biêu - Dịch và giới thiệu truyện
thơ Tiễn dặn người yêu lần thứ 2.
Năm 1977, nhà nghiên cứu, nhà văn Mạc Phi đã chỉnh lí nội dung và dịch
một cách đầy đủ tác phẩm Tiễn dặn người yêu sang tiếng Việt. Trong lời giới thiệu,

bất cứ đoạn thơ nào người ta cũng liên tưởng đến những điệu Xòe Thái quen
thuộc”[44: 241].
Tác giả Vũ Anh Tuấn trong Giảng văn chọn lọc văn học Việt Nam [44: 59]
tuy chỉ phân tích đoạn trích Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa được trích giảng
trong chương trình lớp 10 cũng đã chỉ ra giá trị nội dung mang tính tiêu biểu cho cả
tác phẩm là tình cảm phũ phàng và những tiếng yêu thương. Về phương diện giá trị
hình thức, tác giả lại chú ý đến tính kịch trong kết cấu và thủ pháp miêu tả, trong
tâm trạng nhân vật và trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ truyện thơ.
Công phu và sâu sắc nhất phải kể đến luận án Phó tiến sỹ của tác giả Lê
Trường Phát: Đặc điểm kết cấu truyện thơ các dân tộc ít người Việt Nam [29]. Công
trình khoa học này đã bàn tới thi pháp của tác phẩm, nhưng do mục đích nghiên cứu
nên chỉ đi sâu vào vấn đề kết cấu. Trang 95 của luận án, tác giả tóm tắt khái quát
nội dung tác phẩm (11 dòng) và lập sơ đồ gồm 6 biến cố - sự kiện: Anh chị quen

4
nhau, lớn lên, yêu nhau; Bị cha mẹ Chị từ chối, Anh bỏ đi buôn để khi về có tiền sẽ
cưới Chị; Ở nhà, Chị bị ép gả, Chị cố trì hoãn nhưng đám cưới vẫn diễn ra; Anh trở
về đúng lễ cưới, Anh tiễn Chị cách để được đoàn tụ; Chị bị gả bán nhiều lần; Cuối
cùng họ được gặp lại nhau và sống hạnh phúc. Ở phần so sánh cốt truyện, tác giả
nhận định: “Tiễn dặn người yêu đã hút vào lòng mình cả dân ca Tản chụ xống
xương, cả dân ca Xắng chụ. Nhưng không sử dụng nguyên xi mà có cải tiến cho
phù hợp với chủ đề của cốt truyện mới”[29: 99]. Tiếp đó, tác giả so sánh cốt truyện
Tiễn dặn người yêu với cốt truyện và Tản chụ xống xương để thấy sự kế thừa và
phát triển của Tiễn dặn người yêu. Tác giả cũng tìm hiểu dấu vết của dân ca trong
Tiễn dặn người yêu ở các phương diện: nhân vật không có tên, sự vay mượn chi tiết
tiết từ dân ca. Về ngôn ngữ thơ, Lê Trường Phát đã chỉ ra sự sai lệch của việc dịch
thơ đồng thời chỉ ra sự thay đổi phong cách học giữa lời dịch thơ của Mạc Phi và
nguyên tác. Cũng về vấn đề ngôn ngữ truyện thơ, tác giả tìm hiểu cách mở đầu làm
cho người kể chuyện chính là một nhân vật của truyện. Về vấn đề truyện thơ và việc
sử dụng dân ca, tác giả tìm hiểu trước hết là vấn đề môi trường diễn xướng và chỉ

số khu vực miền núi phía Bắc được quan tâm đẩy mạnh. Cùng với văn học dân gian
các dân tộc khác, văn học dân gian H’Mông được nhiều người chú tâm sưu tầm và
nghiên cứu.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, nhà sưu tầm Doãn Thanh (một cán bộ sở
Giáo dục Lào Cai) đã tiến hành sưu tầm dân ca H’Mông, năm 1967 ra mắt bạn đọc
cuốn “Dân ca H’Mông”, đây là cuốn sách giới thiệu khá đầy đủ diện mạo dân ca
H’Mông với năm loại chính: Tiếng hát tình yêu, Tiếng hát mồ côi, Tiếng hát làm
dâu, Tiếng hát cúng ma và Tiếng hát cưới xin”.
Cùng thời gian này hai tác giả Bùi Lạc và Mạc Phi cũng công bố truyện thơ
“Tiếng hát làm dâu Tây Bắc” (in trên tạp chí văn học 3/1964) và một số bài dân ca
H’Mông ở vùng Sơn La, Lai Châu.
Ngay sau khi có những tác phẩm dân ca H’Mông đầu tiên được công bố, tác
giả Tô Hoài đã có bài “Tiếng hát làm dâu, tiếng hát đau thương, tiếng hát căm hờn
ngàn đời của người phụ nữ H’Mông” in trên tạp chí văn học số 2/1965. Ngoài việc

6
phân tích nội dung, tác giả lưu ý một số vấn đề về dịch thuật sao cho đúng với bản
chất của dân ca H’Mông đầu tiên và truyền thống văn hóa, tâm lý người H’Mông.
Năm 1974, Doãn Thanh tiếp tục cho ra đời cuốn Dân ca H’Mông Lào Cai.
Gồm 45 bài, in song ngữ Việt – H’Mông.
Năm 1984, các tác giả Doãn Thanh, Hoàng Thao tiến hành tuyển chọn, chỉnh
lý và bổ sung một số bài dân ca H’Mông đã công bố trên các sách báo, tạp chí và
cho ra mắt bạn đọc cuốn Dân ca H’Mông với lời giới thiệu của Chế Lan Viên do
nhà xuất bản văn học phát hành. Cuốn sách tuyển đủ năm loại hát của dân ca
H’Mông với lời dịch chau chuốt hơn. “Trong đó Tiếng hát làm dâu (Gầu ua nhéng)
chiếm một số lượng khá lớn. “Loại này gồm nhiều bài lẻ, nhưng có những bài “hát
kể chuyện” dài tới vài ba trăm câu – rất gần với truyện thơ vì đã thành truyện với
một vài nhân vật, mà nhân vật chính là người phụ nữ bị ép duyên, bị gia đình nhà
chồng đày đọa” [37: 10]. Đây chính là gợi ý thú vị để người viết thực hiện đề tài
nghiên cứu.

việc so sánh truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H’Mông một cách toàn
diện là hết sức cần thiết. Lần đầu tiên chúng tôi mạnh dạn vận dụng lý thuyết văn
học so sánh vào nghiên cứu truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H’Mông
trên cứ liệu hai tác phẩm Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm dâu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Triển khai đề tài này, chúng tôi cố gắng vận dụng lí thuyết văn học so sánh
(trường phái Pháp) để chỉ ra được những điểm tương đồng và những điểm khác biệt
giữa thể loại truyện thơ của hai dân tộc mà tiêu biểu là hai tác phẩm Tiễn dặn người
yêu và Tiếng hát làm dâu. Tìm ra nguyên nhân và lý giải vì sao có sự tương đồng,
ảnh hưởng, đặc sắc riêng của truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H’Mông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Tìm hiểu môi trường tự nhiên và cơ sở xã hội của dân tộc Thái và dân tộc
H’Mông.

8
- So sánh để chỉ ra sự tương đồng của truyện thơ dân tộc Thái và dân tộc
H’Mông trên cứ liệu hai tác phẩm tiêu biểu Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm
dâu. Lý giải nguyên nhân.
- So sánh để chỉ ra sự khác biệt của truyện thơ dân tộc Thái và dân tộc
H’Mông trên cứ liệu hai tác phẩm tiêu biểu Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm
dâu. Lý giải nguyên nhân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H’Mông với hai tác phẩm tiêu
biểu Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm dâu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Kho tàng truyện thơ dân tộc Thái và dân tộc H’Mông còn đang trên con

10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA
1.1. Dân tộc Thái
1. 1.1. Môi trường tự nhiên
Người Thái ở Việt Nam là một dân tộc khá đông và sống chủ yếu tập trung ở
khu vực Tây Bắc – Bắc Bộ. Đây là địa bàn khá rộng khoảng 30.000 km
2
và vô cùng
hiểm trở [45: 87]. Dưới chân những đỉnh núi cao, những dãy núi hùng vĩ là hàng
chục con sông lớn chia cắt địa bàn như sông Đà, sông Mã, sông Nậm Na… Trước
đây, cứ vào mùa mưa là Tây Bắc bị cắt vụn do nước ở những con khe, con suối
dâng rất cao. Vì vậy mà cuộc sống hầu như trở về chế độ tự cấp, tự túc. Núi rừng
hiểm trở là lí do chính tạo nên sự đi lại khó khăn nên việc giao lưu rất hạn chế, dẫn
tới nhu cầu giao lưu luôn luôn chất chứa trong mỗi con người.
Người Thái là dân tộc sớm sống theo nghề trồng lúa nước nên họ chọn các
thung lũng làm địa bàn cư trú. Nguồn lương thực chủ yếu là từ ruộng vì họ có làm
nương nhưng ít hơn các dân tộc khác, vì vậy họ rất ít phải lưu lại lâu ngày trên lán
nương. Chính điều này tạo ra đặc điểm nền văn hóa thung lũng. Đó là điểm đặc
trưng của nền văn hóa người Thái cổ. Một mặt do giao thông khó khăn, mặt khác do
điều kiện địa lý và đất đai phì nhiêu nên nguồn lương thực rất dồi dào, thực phẩm
thì tự chăn nuôi săn bắn mà có, vì thế họ rất ít rời khu vực sinh sống. Cuộc sống bó
hẹp trong thung lũng làm cho con người càng có khát vọng giao lưu hơn, vì thế
người Thái có rất nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian cộng đồng như ca –
múa, trò chơi dân gian,…
1.1.2. Cơ sở xã hội

Một bộ phận người Thái cổ khác do Nhọt Cằm lãnh đạo cũng bắt đầu cuộc
thiên di sang phía Nam của Tây Bắc Việt Nam. Đó là tộc người Thái thuộc dòng
Thái trắng. Bắt đầu từ giai đoạn này người Thái gần như đã làm chủ khu vực Tây
Bắc. Lịch sử hình thành tộc người Thái đã trải qua những cuộc thiên di khá vất vả
qua nhiều vùng đất, những cuộc hành trình ấy đã tạo cho người Thái ở Tây Bắc một

12
sự hỗn nhập văn hóa. Họ vừa để lại những nét văn hóa của họ trên đường đi, vừa
tiếp nhận những nét văn hóa khác. Do đó, nền văn hóa của người Thái cổ ở Tây Bắc
khá phong phú nhưng vẫn mang những nét thống nhất chung rất đặc trưng của dân
tộc Thái.
Tuy nhiên, những kiểu thiên di ấy vẫn chưa đủ để phủ kín dân cư trên khắp
một vùng lãnh thổ rộng lớn và vô cùng hiểm trở của vùng đất Tây Bắc, mà nó phụ
thuộc rất lớn vào tốc độ của kiểu thiên di thứ hai. Nếu coi những cuộc thiên di thứ
nhất là những cuộc di dân theo “chiều thẳng” thì hình thức di dân thứ hai phổ biến
nhất ở thời kì sau này là những cuộc di dân theo “tuyến sóng”[46: 87]: đầu tiên, một
bộ phận thế hệ thứ nhất của người Thái đến sinh sống ở thung lũng nào đó theo
phương thức di dân chiều thẳng. Một thời ông các thế hệ tiếp theo phát triển thành
nhiều bản mới bên cạnh bản cũ lập thành các mường. Nhưng một mặt, các thung
lũng có địa bàn không rộng nên nhanh chóng trở nên chật chội, mặt khác là do
truyền thống canh tác thô sơ nên đất đai không còn mầu mỡ nữa, một bộ phận các
gia đình tự giác di cư đến một thung lũng khác để canh tác và sinh sống, lập nên thế
hệ đầu tiên của mường mới. Họ sinh sống ở đó đến khi hội đủ các điều kiện thì con
cháu họ tiếp tục di cư đến các thung lũng lân cận. Cứ thế hết đời này sang đời khác,
người Thái mở rộng dần dần địa bàn sinh sống để gần như phủ kín địa bàn Tây Bắc.
Trong quá trình di dịch, người Thái đã có một quá trình tiếp nhận các nét văn
hóa khác, nhưng những sự tiếp nhận ấy không làm mất đi bản sắc dân tộc. “Khi đi
xa họ mang theo mình ngoài đồ dùng sinh hoạt là phong tục, tập quán. Họ cũng
không quên mang theo hai vật quý giá là “quyển sách và khẩu súng” [44: 288]”.
Điều này đã lý giải vì sao những tác phẩm văn học đồ sộ như Tản chụ xiết xương,

Về thế giới của Phi, người Thái cho rằng cao nhất và có quyền lực tối cao là
Phi Then (ma ở trên trời) tập trung ở Mường Then (mường của người trời) và đứng
đầu Then (ông trời). Dưới ông Trời là các Phi Then chịu trách nhiệm cai quản tất cả
mọi lĩnh vực khác trong xã hội, đời sống, và với mọi sự vật cỏ cây, sông, núi…
Điều này được phản ánh trong nhiều truyện thơ đặc biệt là Tiễn dặn người yêu với
sự xuất hiện của ông Trời, các biến thể của ông Trời và các quan niệm có liên quan
tới ông Trời như mệnh, số, bói…

14
Dưới lực lượng Phi Then là lực lượng phi nói chung. Theo quan niệm của
người Thái, có thể chia lực lượng này thành hai loại: một loại là khi người chết thì
linh hồn biến thành phi (ma) tiếp tục sống ở thế giới thứ hai, vì vậy người Thái cho
rằng chết là sự thay đổi thế giới cuộc sống mà thôi. Quan niệm này thể hiện khá rõ
trong một số tác phẩm văn học dân gian Thái như Hiền Hom – Cầm Đôi, Khun Lú –
Nàng Ủa Loại thứ hai là các phi tự nhiên, đó là các phi do ông Trời sinh ra và
giao cho từng nhiệm vụ riêng. Mỗi sự vật, hiện tượng, thậm chí một bộ phận của sự
vật có một phi quản lí, nếu con người làm phật lòng các phi này thì phi sẽ nổi giận
và mang lại những điều không may. Từ quan niệm này mà người Thái có những tục
kiêng vì nếu không kiêng sẽ làm phật ý các phi. Quan điểm này được biểu hiện khá
rõ trong một số truyện thơ Thái. Trong Tiễn dặn người yêu là việc chàng trai lên
đường đi buôn xa phải chọn ngày vì không chọn ngày sẽ đi vào ngày phi không
đồng ý. Khi đun bếp phải lấy củi tốt, củi sạch còn nếu nhặt rác đun thì làm Phi Bếp
phật ý. Nếu đun bếp mà lấy chân đẩy củi thì cũng không được vì dùng chân là tỏ ý
coi thường phi…
Dưới lực lượng phi và gắn bó với con người và vạn vật là khuôn tức là hồn
vía. Quan niệm cho rằng mỗi sự việc nói chung đều có hồn vía nhưng riêng con
người có nhiều hơn, phức tạp hơn. Hồn vía vừa tạo ra yếu tố thể chất của con người
lại vừa tạo ra tình nết, tư thế, hành vi… Hồn vía có thể đi theo con người hoặc bỏ đi
rong chơi chỗ khác, tối mới nhập vào người. Vì thế người Thái hay phải gọi vía khi
đi xa hoặc đi xa về, cô gái trong tiễn dặn người yêu cũng gọi “vía Anh yêu” và vía

phổ quát.
Bước phát triển cao hơn là sự xuất hiện Thơ ca dân gian Thái. Tuy số lượng
tác phẩm không nhiều nhưng thể loại này rất phong phú. Họ có cả tục ngữ, ca dao,
dân ca, và đỉnh cao là truyện thơ dân gian. Nhìn chung, truyện thơ có nội dung
thiên về miêu tả những cuộc tình ngang trái do bị gia đình và xã hội can thiệp một
cách thô bạo (Xống chụ xon xao, Tản chụ xiết xương, Khôn Lúa – Nàng Ủa…) hoặc
những khúc hát yêu thương, lời dặn dò tình nghĩa, lời hứa hẹn sắt son (Tản chụ
xống xương, Tản chụ xiết xương…)

16
Kết cấu truyện thơ nói chung thường diễn ra theo ba bước: gặp gỡ, yêu
thương tha thiết – tình yêu tạm thời bị chia cắt hoặc tan vỡ - đôi bạn tình tìm cách
thoát khỏi trói buộc và để đoàn tụ. Tuy rằng ở mỗi truyện thơ có một cách đoàn tụ
khác nhau nhưng nhìn chung, truyện thơ thể hiện khát vọng dân chủ mãnh liệt của
nhân dân, thể hiện ở cuộc đấu tranh cho cuộc sống hạnh phúc, chống lại những tập
tục lề thói khắc nghiệt bóp nghẹt quyền tự do yêu đương.
Về vấn đề sinh hoạt văn nghệ dân gian, ở phần này, chúng tôi chủ trương nêu
khái quát những đặc sắc nhất trong truyền thống sinh hoạt văn hóa dân gian có liên
quan đến thể loại truyện thơ mà không đi sâu tìm hiểu những loại hình sinh hoạt đa
dạng của dân tộc Thái.
Người Thái sử dụng các loại thể văn học trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống,
trong lao động sản xuất thì họ có kho tàng tục ngữ trong sinh hoạt giao tiếp có ca
dao, dân ca, trong các nghi lễ trang trọng thì có mo (Bài hát cúng tế), trong các lễ
hội như xên bản, xên mường (hội bản, hội mường) thì kết hợp ca – múa – nhạc,
trong đám cưới, đám hỏi, rước dâu thì hát đối… Nói chung, những lời ca tiếng hát
đó thường tập trung phô diễn tình cảm, ca ngợi lao động, ca ngợi tình yêu, đề cao tự
do. Do mỗi mảng sinh hoạt đời sống lại có một loại đề tài cho ca hát nên vô hình
chung đã tạo cho văn nghệ dân gian Thái những mảng đề tài có đường biên khá rõ
nét như các bài hát về lao động sản xuất, hát mừng cưới, hát mừng nhà mới, hát
mừng hội bản mường, hát mừng sinh con cháu, hát trong nghi lễ thờ cúng, hát đưa

mà sáng tạo lời kể bằng thơ để hát. Từ việc phân tích này, chúng tôi đặt vấn đề
truyện thơ Thái có thể ra đời từ phong tục hạn khuống(?). Nhưng dù sao cũng vẫn
có thể khẳng định truyện thơ dân tộc Thái có quan hệ mật thiết tới hình thức sinh
hoạt hạn khuống và hạn khuống là một trong những môi trường diễn xướng quan
trọng nhất của truyện thơ.
Tóm lại, dân tộc Thái là một dân tộc có cuộc sống và sinh hoạt trên một vị trí
đại lý khá rộng lớn ở khu vực Tây Bắc Việt Nam. Đó là cơ sở tự nhiên của sự ra đời
truyện thơ Thái mà tiêu biểu là Tiễn dặn người yêu. Do đặc điểm địa lí khá hiểm trở
mà dân tộc Thái có đặc điểm văn hóa khá độc đáo: nền văn hóa nông nghiệp –
thung lũng. Kết hợp miêu tả cuộc sống sinh hoạt của nhân dân với miêu tả thế giới
nội tâm của con người, tác giả dân gian đã xây dựng thành công truyện thơ Tiễn dặn
người yêu. Đó chính là cơ sở xã hội của sự xuất hiện thể loại truyện thơ Thái và tác

18
phẩm. Với quan niệm này, chúng tôi xem xét thể loại truyện thơ và Tiễn dặn người
yêu trong mối quan hệ với hoàn cảnh xã hội – văn hóa đã sản sinh ra nó, mặt khác là
cơ sở để đối chiếu với hoàn cảnh ra đời của truyện thơ dân tộc H’Mông.
1.2. Dân tộc H’Mông
1.2.1. Môi trường tự nhiên
Dân tộc H’Mông ở Việt nam có khoảng trên sáu vạn người, sống rải rác
trong các tỉnh dọc biên giới Việt - Trung, Việt - Lào (Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà
Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Nghệ An ). Người H’Mông sinh sống ở núi
cao, độ cao trung bình 800 – 1500m so với mặt nước biển. Đó là những nơi cao nhất
hiểm trở nhất, những vùng trước đây là rừng già không thích hợp với các dân tộc
khác. Do vậy đặc điểm cư trú của người H’Mông là cư trú biệt lập ít có quan hệ với
cư dân các dân tộc khác.
Người H’Mông xa xưa vốn là cư dân của nước Tam Miêu được người Trung
Quốc gọi là Miêu Tử hoặc Miêu dân, sống ở khu vực giữa hồ Động Đình và Bành
Lãi (thuộc tỉnh Hồ Nam Quý Châu và Tứ Xuyên -Trung Quốc). Người H’Mông
xưa, có thể vốn là cư dân nông nghiệp làm ruộng nước, sau do biến động lịch sử mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status