BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
LA THỊ PHƯƠNG THÚY
GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH KINH TẾ CHO HỘ ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC H’MÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THAN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
LA THỊ PHƯƠNG THÚY
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành Luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện
Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế
đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS. Phạm Thị Minh Nguyệt,
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện Than Uyên, chi
cục Thống kê, phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Tài nguyên môi trường,
phòng Dân tộc huyện Than Uyên, Ủy ban nhân dân các xã Mường Than, Ta Gia,
Tà Mung huyện Than Uyên và các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện đã
tạo điều kiện và giúp đỡ vô tư, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan để giúp tôi
hoàn thành Luận văn.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 30 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
La Thị Phương Thúy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
3
1.2.1 Mục tiêu chung
3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
3
1.3
Câu hỏi nghiên cứu
3
1.4
Đối tượng nghiên cứu
3
2.1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về ổn định kinh tế cho hộ đồng bào dân tộc H’mông 9
2.1.3 Sự cần thiết của việc ổn định kinh tế cho hộ đồng bào dân tộc H’mông 10
2.1.4 Hoạt động kinh tế chủ yếu của hộ đồng bào dân tộc H’mông
11
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ đồng bào dân tộc H’mông
15
2.2
18
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm ổn định kinh tế của dân tộc thiểu số ở một số nước
18
2.2.2 Kinh nghiệm ổn định đời sống kinh tế của dân tộc thiểu số ở Việt Nam
20
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
25
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu
43
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích tích số liệu
44
3.3
45
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
3.3.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ ở các nhóm hộ
45
3.3.2 Chỉ tiêu sử dụng nguồn lực của hộ ở các nhóm hộ
45
3.3.3 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ
45
3.3.4 Chỉ tiêu đánh giá thực trạng các nguồn thu của hộ ở các nhóm hộ
46
tộc H’mông
78
4.3.1 Nhóm yếu tố bên trong
78
4.3.2 Nhóm yếu tố bên ngoài
89
4.4
Đánh giá thực trạng kinh tế của đồng bào dân tộc H’mông ở huyện Than
Uyên
92
4.4.1 Thành tựu
92
4.4.2 Những nguyên nhân, tồn tại và hạn chế
96
4.5
Giải pháp ổn định kinh tế cho đồng bào dân tộc H’mông ở huyện Than Uyên 97
PHỤ LỤC
110
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
ANTQ
: An ninh tổ quốc
BQ
: Bình quân
CC
: Cơ cấu
CNH
: Công nghiệp hóa
DTTS
: Dân tộc thiểu số
: Ủy ban nhân dân
VSATTP
: Vệ sinh an toàn thực phầm
XĐGN
: Xóa đói giảm nghèo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình đất đai của huyện qua 3 năm 2012 -2014
30
3.2
Phân loại hộ trên địa bàn huyện qua 3 năm 2012 – 2014
49
4.2
Một số thông tin cơ bản về chủ hộ đồng bào dân tộc H'mông
51
4.3
Một số thông tin cơ bản về hộ đồng bào dân tộc Kinh
52
4.4
Doanh thu năm 2014 của hộ đồng bào dân tộc H’mông
55
4.5
Kết quả sản xuất trồng trọt bình quân của hộ dân tộc H’mông qua
3 năm 2012 – 2014
56
63
4.11
Kết quả sản xuất lâm nghiệp bình quân theo nhóm hộnăm 2014
65
4.12
Số hộ có người tham gia hoạt động kinh doanh, dịch vụ và hoạt động
ngành nghề ở hộ đồng bào dân tộc H’mông qua 3 năm 2012 – 2014
67
4.13
Chi phí sản xuất của hộ dân tộc H’mông năm 2014
69
4.14
Xu hướng sản xuất kinh tế của hộ đồng bào dân tộc H’mông qua 3
năm 2012 – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
71
Tỉ lệ hộ đã từng vay vốn và lượng vay bình quân
79
4.19
Mục đích vay vốn của nhóm hộ dân tộc H'mông và dân tộc Kinh
80
4.20
Tình hình đất đai và sử dụng đất đai bình quân hộ năm 2014
81
4.21
Tình hình nhân khẩu, lao động của hộ dân tộc H'mông năm 2015
84
4.22
Trình độ lao động trong các hộ đồng bào dân tộc H'mông năm 2014
86
4.23
dịch, suy dinh dưỡng với tỷ lệ cao là những vấn đề xã hội cấp bách cần phải giải
quyết trong quá trình phát triển miền núi hiện nay.
Với mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại thì vấn đề phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi cho
đồng bào dân tộc thiểu số càng trở nên cấp bách. Ngoài việc giảm sự phân hóa
giàu nghèo với dân tộc đa số thì ổn định kinh tế cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số
còn góp phần ổn định kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng của địa phương, từng
bước đưa đồng bào dân tộc vùng cao sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, có
cuộc sống văn hoá lành mạnh, xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng, đoàn kết
tương trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển.
Tuy nhiên, mỗi dân tộc thiểu số vùng cao lại có trình độ phát triển kinh tế
- xã hội khác nhau, có sự đa dạng về ngôn ngữ, tâm lý xã hội, phong tục tập
quán, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá, nghệ thuật. Cùng với sự thay đổi nhanh
chóng của ngoại cảnh, các chính sách cần có sự thay đổi và điều chỉnh cho phù
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
hợp nhằm tạo ra động lực mới cho phát triển sản xuất của đồng bào các dân tộc
thiểu số. Bởi vậy nghiên cứu về ổn định kinh tế cho hộ đồng bào các dân tộc
thiểu số càng trở nên cần thiết hơn trong việc góp phần giúp các cơ quan chức
năng tham khảo, vận dụng vào điều kiện của từng vùng, từng dân tộc, để có
những chính sách, phương pháp đúng đắn và phù hợp hơn trong việc phát triển
bền vững kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước như hiện nay.
H’mông là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
thường cư trú ở khu vực núi cao phía Bắc với độ cao trên 800 mét so với mực
nước biển, giáp biên giới Việt – Trung. Với không gian tách biệt với các vùng cư
trú thấp và nền kinh tế phụ thuộc vào trồng lúa, ngô, sắn và nhất là cây thuốc
Châu; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm ổn định kinh tế cho hộ đồng bào dân tộc
H’mông, góp phần xóa đói giảm nghèo cho địa phương trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ổn định kinh tế
cho hộ đồng bào dân tộc H’mông;
(2) Đánh giá thực trạng kinh tế của hộ đồng bào dân tộc H’mông trên địa
bàn huyện Than Uyên trong thời gian qua;
(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ đồng bào dân tộc
H’mông trên địa bàn huyện Than Uyên;
(4) Đề xuất giải pháp ổn định kinh tế của hộ đồng bào dân tộc H’mông
trên địa bàn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu trong thời gian tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Lý thuyết về hộ và hộ đồng bào dân tộc H’mông là gì?
(2) Ổn định kinh tế là gì? Tại sao phải ổn định kinh tế cho hộ đồng bào
dân tộc H’mông?
(3) Thực trạng kinh tế của hộ đồng bào dân tộc H’mông trên địa bàn
huyện Than Uyên trong thời gian qua như thế nào?
(4) Yếu tố nào ảnh hưởng đến kinh tế của hộ đồng bào dân tộc H’mông?
Yếu tố nào thúc đẩy? Yếu tố nào kìm hãm? Yếu tố nào quyết định?
(5) Làm thế nào để ổn đinh kinh tế của hộ đồng bào dân tộc H’mông
trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp ổn định kinh tế cho hộ đồng bào
a. Khái niệm về hộ và hộ nông dân
(1) Hộ
Trong Từ điển Tiếng anh (English Dictionary, 1964) định nghĩa “Hộ là tất
cả những người sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những
người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung”.
Trong Tạp chí Khoa học Quốc tế (1987), Gee Me (1988) khi viết về những
thay đổi đặc điểm kinh tế các hộ vùng Đông Nam Á và sau đó một vài nhà kinh tế
Việt Nam đã đưa ra một số khái niệm tương đối hoàn chỉnh về hộ “Hộ là một
nhóm người có cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung trong
một mái nhà, cùng ăn chung một mâm cơm, cùng tiến hành sản xuất chung và có
cùng chung một ngân quỹ”.
Theo Kinh tế hộ nông dân của Đào Thế Tuấn (1995) thì “Hộ là một nhóm
người có cùng chung huyết tộc, sống chung hay không sống chung với những
người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà, ăn chung và có cùng chung một
ngân quỹ và có phân phối chung nguồn thu nhập mà các thành viên sáng tạo ra”.
Như vậy, cả cá nhân và tổ chức khi nhìn nhận về hộ và quan niệm về hộ
không giống nhau. Tuy nhiên trong đó có nét chung để phân biệt về hộ, đó là:
- Hộ là những người có chung hay không chung huyết tộc và có quan hệ
hôn nhân.
- Hộ là nhóm người cùng chung sống dưới một mái nhà.
- Hộ là nhóm người cùng có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Hộ là những đơn vị kinh tế nhỏ nằm trong nền kinh tế. Một gia đình có
thể bao gồm nhiều hộ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
(2) Hộ nông dân
Theo Ellis (1998) định nghĩa: “Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm
(2) Hộ đồng bào dân tộc H’mông
Đồng bào là một cách gọi giữa những người Việt Nam, có ý coi nhau như
con cháu của cùng tổ tiên sinh ra. Hiện nay trong văn nói cũng như văn viết tại
Việt Nam, từ “đồng bào” được sử dụng rất rộng rãi và bao phủ hầu hết các đối
tượng, có thể nói trong nhiều hoàn cảnh nó được dùng để thay thế từ nhân
dân hay người dân Việt Nam.
Dân tộc H’mông là một trong số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có khoảng
80 vạn người thuộc nhóm ngôn ngữ: H’mông – Dao (Nguyễn Đăng Văn, 2011).
Từ những khái niệm về hộ, hộ nông dân, đồng bào, dân tộc thiểu số trên
đây, ta có thể có một số cách nhìn nhận về hộ đồng bào dân tộc H’mông:
Hộ đồng bào dân tộc H’mông là hộ đồng bào dân tộc thiểu số, dùng để chỉ
một nhóm người trong đó chủ hộ là người dân tộc H’mông và chiếm đa phần
trong hộ, nhóm người này có cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng
sống chung trong một mái nhà, cùng ăn chung một mâm cơm, cùng tiến hành sản
xuất chung và có cùng chung một ngân quỹ.
Hộ đồng bào dân tộc H’mông là hộ nông dân, họ sống ở khu vực núi cao,
có hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ đồng bào dân tộc H’mông còn tham gia
hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau, hộ là một đơn vị kinh tế cơ
sở, vừa là một đơn vị sản xuất và là một đơn vị tiêu dùng.
2.1.1.2 Kinh tế hộ đồng bào dân tộc H’mông
a. Kinh tế hộ nông dân
Theo quan niệm của Ellis (1998): “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của
những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu
sức lao động gia đình, sản xuất của hộ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn
hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường”.
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã
hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất
được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một
để họ tiến hành sản xuất. Cũng có chung nguồn ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn
chung và mọi quyền quyết định trong sản xuất, kinh doanh và đời sống là tùy
thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, đặc biệt hỗ trợ và tạo điều kiện để
phát triển.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
2.1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về ổn định kinh tế cho hộ đồng bào dân tộc H’mông
Theo tư duy triết học và tổng kết từ thực tiễn thì ổn định là trạng thái tồn
tại hài hòa các yếu tố phát triển; nó mang tính tương đối và tính động. Ổn định là
phạm trù phản ánh sự ổn định về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, quốc phòng,
an ninh của đất nước. Ổn định là điều kiện để sự phát triển diễn ra tốt. Không có
sự ổn định cần thiết thì sự phát triển không diễn ra theo ý muốn. Sự ổn định gắn
liền với con người và xã hội. Thiếu vắng con người trong mối quan hệ xã hội thì
không có sự hiện diện của ổn định. Ổn định không thể tồn tại dựa vào ý chí chủ
quan mà nó tồn tại trên cơ sở vững chắc các mối quan hệ xã hội, sự đảm bảo
vững chắc công bằng, bình đẳng, kỷ cương, kỷ luật và tâm lý xã hội cùng phát
triển theo luật pháp. Mọi thành viên trong xã hội không thể mong chờ ổn định mà
không đóng góp công sức của mình để tạo dựng sự ổn định cần thiết nhằm phát
triển đất nước (Nguyễn Phú Trọng, 2011).
Ổn định kinh tế là trạng thái tồn tại hài hòa các yếu tố phát triển kinh tế. Ở
mỗi khu vưc, sự ổn định kinh tế được nhìn theo nhiều khía cạnh và mức độ khác
nhau, nhưng vẫn tập trung vào các tiêu chí nhất định nhằm đảm bảo kết hợp hài
hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với nâng cao đời sống xã hội, cân bằng tốc
độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên
nhiên và khoa học công nghệ. Ở khu vực thành thị, các yếu tố trên luôn đạt ở
mức cao nên cần rất nhiều sự cố gắng cũng như đầu tư của xã hội để duy trì sự ổn
định đó. Còn ở khu vực nông thôn hoặc miền núi, mục tiêu ổn định kinh tế trước
nhiều vùng miền khác nhau. Ổn định kinh tế hộ không những phát huy được khả
năng tự lực của hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong việc tạo ra của cải vật chất xã
hội, đồng thời quá trình phát triển kinh tế hộ này còn giúp cho quá trình khai thác
tài nguyên thiên nhiên được hiệu quả và tối ưu.
Ổn định kinh tế hộ đồng bào dân tộc thiểu số là động lực quan trọng góp
phần thúc đẩy kinh tế vùng khó khăn, miền núi, vùng xa từ đó đảm bảo cho cơ
cấu kinh tế quốc dân ở mức hài hòa, không chênh lệch giữa các vùng miền. Từ
đó tạo tính bền vững trong phát triển kinh tế đất nước.
2.1.3.2 Đối với các vấn đề chính trị, văn hóa.
Sự hài hòa giữa các dân tộc trên lãnh thổ quốc gia là nhân tố đảm bảo cho
các vấn đề chính trị. Sự ổn định về chính trị phụ thuộc rất lớn vào các dân tộc.
Nhiều quốc gia đa dân tộc trên thế giới đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề về
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
chính trị do xung khắc về lợi ích kinh tế giữa các dân tộc. Mà nguyên nhân sâu
xa của vấn đề là sự phát triển không hài hòa về kinh tế các dân tộc, kinh tế hộ các
dân tộc thiểu số không được trú trọng thì tất yếu dẫn đến xung đột nảy sinh trong
quá trình phát triển. Bởi vậy có thể thấy, ổn định và phát triển kinh tế hộ có vai
trò quan trọng trong việc giữa vững tình hình ổn định chính trị quốc gia.
Ổn định và phát triển kinh tế hộ đồng bào các dân tộc thiểu số là nhân tố
quan trọng nhằm giữ gìn những văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.
Quá trình phát triển kinh tế gắn liền với việc phát huy và giữa gìn những giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc. Điều kiện kinh tế tốt hơn, sẽ giúp hộ đồng
bào dân tộc thiểu số có điều kiện phát huy những giá trị tốt đẹp từ xa xưa của dân
tộc mình. Bên cạnh đó, nó còn là nhân tố thúc đẩy cho sự hình thành và phát triển
những nền văn hóa mới ở những khu vực đặc thù.
2.1.3.3 Đối với an ninh quốc phòng.
không còn phổ biến nữa.
Đồng bào H’mông chỉ làm ngô một vụ, gieo trồng vào tháng 2 âm lịch và
thu hoạch vào cuối tháng 5, ngày nay một số nơi đã trồng thêm vụ ngô hè để bảo
đảm nhu cầu lương thực. Do năng suất không cao nên bình quân đầu người phải
trồng khoảng 6 - 7 ống ngô (mỗi ống tương đương 0,8 - 1,0 kg ngô hạt) trên diện
tích gieo trồng khoảng 400m2, thu hoạch được khoảng 50kg ngô hạt mới đảm
bảo được nhu cầu lương thực.
Đồng bào H’mông trồng ngô là chính, còn trồng lúa nương, nhưng chỉ chủ
yếu làm xôi và bánh vào các dịp lễ tết. Lúa nương thường được đồng bào trồng
vào tháng 4, tháng 5 để đón mưa và thu hoạch vào các tháng 9, tháng 10. Mỗi
đám nương rẫy canh tác theo lối quảng canh thì chỉ giữ được độ màu mỡ trong
vòng 2 - 3 năm, sau đó nương bị bạc màu, đất thoái hoá, phải bỏ nương đi nơi
khác. Vì vậy năm nào đồng bào cũng phải tiến hành phát nương làm rẫy để vừa
có nương mới, vừa làm nương cũ, phát hết rừng gần thì chuyển sang làm nương
trên rừng xa, phát dưới thấp hết rồi thì phát đến nương cao, có nương lan tới đỉnh
núi làm ảnh hưởng nhiều đến quỹ rừng của địa phương.
Cây sắn cũng được đồng bào vùng cao trồng nhiều để làm thức ăn cho
lợn. Ngoài ra họ còn trồng một số cây khác như trồng đỗ tương và trồng bông.
Rẫy trồng bông và đỗ tương được chọn rất kỹ và phải là mảnh đất tốt nhiều màu
mỡ, có nhiều ánh nắng. Nhiều nơi, đỗ tương đã trở thành cây trồng kinh tế, tăng
thu nhập cho các hộ gia đình.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
Cây ăn quả như mận, đào, cam, quýt, mía, chuối, bưởi... được trồng khá nhiều
quanh nhà, trên nương ở vùng cao Lai Châu, song rất phân tán theo các hộ gia đình
nên không đủ lượng để có thể kích thích thương lái đến thu mua, chỉ phục vụ cho nhu
cầu đời sống mà không trở thành hàng hoá được (Trần Bình và cs., 2007).
lại với thế giới quen thuộc của mình.
Một trong những hoạt động kinh tế lâm nghiệp phát triển trong các cộng
đồng đồng bào vùng cao là săn bắt thú rừng. Ngày nay săn bắt không thành hoạt
động chính nữa vì đồng bào đã định cư. Việc săn bắn, hái lượm tuy không còn
đóng vai trò quyết định trong cuộc sống đồng bào vùng cao, nhưng sản phẩm
rừng vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Những thúc ép về nhu cầu thực
phẩm trong cuộc sống hàng ngày làm cho cuộc sống vẫn còn lệ thuộc rất nhiều
vào nguồn tài nguyên rừng (Trần Bình và cs., 2007).
2.1.4.3 Sản xuất ngành nghề thủ công truyền thống
Đồng bào dân tộc H’mông vùng cao thường phát triển các nghề phụ như
dệt vải: rèn đồ dùng, dụng cụ; đan lát, làm ra các sản phẩm phục vụ trực tiếp cho
hoạt động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày.
Đồng bào H’mông dệt vải để thoả mãn nhu cầu may mặc, nên nghề dệt phát
triển từ xa xưa. Mỗi gia đình đều có một khung cửi để dệt vải dùng trong gia đình.
Dệt vải lanh tốn rất nhiều thời gian và công sức, nhưng bên cạnh ý nghĩa kinh tế
còn ý nghĩa xã hội, bởi sự khéo léo và chăm chỉ trong dệt vải là một trong những
tiêu chí để đánh giá tài năng, đạo đức của chị em. Chính vì thế chị em đang ở độ
tuổi xây dựng gia đình thường rất bận rộn với việc dệt vải.
Một số người trong các cộng đồng người H’mông biết rèn nông cụ và
súng kíp. Súng hoả mai của người H’mông là mặt hàng được ưa dùng, còn nghề
rèn của đồng bào H’mông nổi tiếng với kỹ thuật tôi, khoan đạt đỉnh cao.
Dân tộc H’mông đã sáng tạo ra chiếc cày, chiếc cuốc mang nét đặc trưng
riêng, ở khắp vùng cao các dân tộc đều dùng loại nông cụ này mang tên chiếc cày
Mông, chiếc cuốc bướm.
Nghề mộc để sản xuất các đồ bằng gỗ trong gia đình như thùng, chậu, bát,
thìa gỗ. Nghề làm cối giã bằng gỗ và bằng đá cũng phát triển vì đây là những công
cụ không thể thiếu được trong mỗi gia đình người H'mông.
Đan lát là nghề truyền thống của các dân tộc vùng cao để phục vụ nhu cầu sinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
xuất chuyển dần sang sản xuất hàng hóa, có vốn thì có thể mua sắm trang thiết bị
hiện đại phục vụ cho sản xuất, làm giảm chi phí, góp phần nâng cao thu nhập cho hộ
nông dân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
b. Nguồn lực về đất đai
Đối với sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể
thay thế được, bởi đất không chỉ là nơi cư trú, trao đổi chất dinh dưỡng của cây
trồng, mà tính chất nông hoá của đất có liên quan mật thiết đến từng loại nông sản
phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
c. Nguồn lực về lao động
Nguồn lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến
bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất phải có
chuyên môn mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
d. Công cụ sản xuất
Công cụ sản xuất có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó
quyết định đến năng suất lao động và thể hiện trình độ áp dụng công nghệ vào sản
xuất nông nghiệp của hộ nông dân. Muốn sản xuất có hiệu quả thì phải sử dụng
công cụ phù hợp.
e. Phong tục tập quán sản xuất
Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác nhau, đặc biệt yêu cầu
thích nghi của các giống cây trồng, vật nuôi cũng khác nhau ở mỗi vùng sinh thái,
đòi hỏi phải có những kỹ thuật canh tác và nuôi trồng phù hợp với điều kiện từng
vùng. Ngoài ra mỗi vùng, mỗi địa phương còn có những ngành nghề truyền thống
khác nhau, quan niệm về kinh doanh thương mại dịch vụ cũng khác nhau. Chính vì
những đặc điểm đó mà tập quán sản xuất ăn sâu vào ý thức của nông dân. Ngày