CẢI THIỆN SINH KẾ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC

CẢI THIỆN SINH KẾ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
Mã số: ĐH 2014-TN03-02

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trần Lệ Thị Bích Hồng

Thái Nguyên, 2015


ii
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC

CẢI THIỆN SINH KẾ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
Mã số: ĐH 2014-TN03-02

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trần Lệ Thị Bích Hồng
Người tham gia: 1. ThS. Hồ Lương Xinh
2. TS. Bùi Đình Hòa

Các nguồn lực sinh kế của nhóm hộ điều tra:
- Nguồn lực tự nhiên của nhóm hộ điều tra cho thấy tổng diện tích quỹ đất
của các hộ tương đối lớn so với các vùng khác. Diện tích đất bình quân của các hộ
là 11.93 sào/hộ trong đó chủ yếu là đất lâm nghiệp trồng keo và các loại cây rừng.
Đất trồng lúa chiếm khoảng 34% tổng quỹ đất của các hộ.
- Nguồn lực con người: Số các hộ có số nhân khẩu từ 3 đến 6 nhân khẩu.
Đây cũng là đặc điểm chung của các hộ thuộc vùng nông thôn trong cả nước. Các
hộ có số lao động bình quân từ 2,95 đến 3,35 tại ba vùng nghiên cứu. Số nhân khẩu
bình quân của các hộ khoảng 4,5 người/hộ
- Nguồn lực vật chất chủ yếu của mỗi nông hộ trong 3 vùng trung bình chung
khoảng 30,51 triệu đồng, trong đó giá trị của chuồng trại lớn nhất chiếm (38,09%),


2
tiếp sau là giá trị cây lâu năm của các hộ gia đình có giá trị trung bình mỗi hộ
khoảng 8,92 triệu chiếm 29,23% trong cơ cấu tư liệu sản xuất của các hộ
- Nguồn lực tài chính là yếu tố trung gian cho sự trao đổi, có ý nghĩa quan
trọng đối với việc sử dụng thành công các loại nguồn lực khác.Tiền mặt đối với các
hộ gia đình là rất quan trọng nó là nguồn để hộ gia đình trang trải, đầu tư cho sản
xuất và phát triển. Tuy nhiên nguồn này luôn bị hạn chế đặc biệt là đối với những
gia đình nghèo ở các xã nghiên cứu.
- Nguồn lực xã hội của các hộ nghiên cứu cho thấy các hộ được tham gia họp
bàn/trao đổi ý kiến tại địa phương song mức độ tham gia của các nhóm hộ lại không
giống nhau. Có những hộ rất tích cực đi họp bàn, nhưng cũng có những hộ không
tham gia các cuộc họp ở địa phương, đó là những hộ trẻ do bận đi làm nên ít tham
gia.
Thực trạng các hoạt động sinh kế của huyện Võ Nhai:
- Các loại cây trồng chính có diện tích giảm dần xã La Hiên giảm 0,25ha, xã
Bình Long giảm 0,18 ha, xã Sản mộc giảm 0,14ha.
- Trong những năm gần đây các hộ đã đầu tư nhất định vào chăn nuôi: trâu,

4.3. Sản phẩm ứng dụng
Đưa ra được một số giải pháp chủ yếu cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc
thiểu số trên địa bàn huyện Võ Nhai
5. Hiệu quả
Giúp người dân tộc thiểu số tại huyện Võ Nhai có cải nhìn tổng thể về thực
trạng sinh kế của mình từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể để phát triển sản xuất
nâng cao thu nhập cho người dân.
6. Khả năng áp dụng và phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động sinh kế được áp dụng trên
địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
Cơ quan chủ trì

Ngày 21tháng 12 năm 2015
Chủ nhiệm đề tài

ThS. Trần Lệ Thị Bích Hồng


4

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1. General information
- Project title: Improving the livelihoods of ethnic minorities in the district
Vo Nhai, Thai Nguyen
- Code number: ĐH2014-TN03-02
- Coordinator: Tran Le Thi Bich Hong
Tel: 02803852925; 0982640119
E mail:
- Implementing institution: Thai Nguyen University of Agriculture and
Foresrty – Thai Nguyen University

5
- Social resources of the study showed that households were participating in
households meeting / exchange of ideas locally, but the level of participation of
these groups are not identical. Some participation war very positive in meeting, but
also some not participating in local meetings, such as those young so busy at work.
Status of livelihood activities of the district Vo Nhai
Status of livelihood activities of the district Vo Nhai
- The main crops have decreased acreage, La Hien commune 0,25ha decrease, down
0.18ha in Binh Long commune, commune San Moc reduce 0,14ha.
- In recent years, the household has certain investments in livestock: cattle, pigs,
poultry, livestock ... but still small-scale no camp, large farms.
- The area of forest land of the huge proportion of the total land area (occupying
72.82% of the total land area). Sang Moc commune has an area of protective forest
plantations accounted for the highest percentage 92.7%, whereas 13.3% in La Hien
commune and Binh Long commune 3%.
Cost for agricultural and non-agricultural shows La Hien commune; where large
planting area should cost a maximum cultivation 31572.80; Binh Long commune
livestock development should cost more investment for communal livestock highest
34170.83. Sang Moc is socially remote areas, so the cost of agricultural production
as compared to the second most losses remaining communes.
Revenue of the surveyed households mainly from farming activities and animal
husbandry bring, although forest land in three communes is quite large but newly
planted mostly untapped so revenues from forest trees hardly any industry. Binh
Long commune has a total turnover being the largest reaching 112,901.60; La Hien
commune achieve 107,916.45; Sang Moc commune reaching 49912.63.
4. Products
4.1. Scientific products
02 papers published in the Journal of Science and Technology Thai Nguyen
University. 01 Posts 12.2015, episode 145, No. 15, pages 151 - 156. Title of the
article: "Some solutions for sustainable poverty reduction for ethnic minority


6

1.2. Cơ sở thực tiễn của luận văn

10

1.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay

10

1.2.2. Thực trạng nghèo tại Việt Nam

12

1.2.3. Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và

13

những bài học kinh nghiệm
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU

15

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

15

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu


22

3.1.3. Tình hình dân số và lao động

24

3.1.4.. Thực trạng cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục

27

3.1.5. Tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn huyện

28

3.1.6. Diện tích một số cây trồng chính qua 3 năm tại vùng nghiên cứu

34

3.1.7. Tình hình chăn nuôi một số vật nuôi chính qua 3 năm tại vùng nghiên

36

cứu
3.2. Các nguồn lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai

38

3.2.1. Nguồn lực tự nhiên của nhóm hộ điều tra trên địa bàn

38


9
3.3.3. Kết quả sinh kế của người dân

48

3.4. Đánh giá thực trạng sinh kế để rút ra những ưu, nhược điểm

53

3.5. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sinh kế bền vững

54

3.5.1. Quan điểm, phương hướng

54

3.5.2. Giải pháp

54

Kết luận

59

Đề nghị

60


34

Bảng 3.7. Tình hình chăn nuôi một số vật nuôi chính qua 3 năm tại vùng
nghiên cứu

36

Bảng 3.8. Diện tích - cơ cấu sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra năm 2014

38

Bảng 3.9. Lao động và nhân khẩu của nhóm hộ điều tra năm 2014

40

Bảng 3.10. TLSX chủ yếu bình quân của nông hộ năm 2014

41

Bảng 3.11: Diện tích cây trồng của hộ điều tra huyện Võ Nhai năm 2014

44

Bảng 3.12: Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm của các hộ điều tra

45

Bảng 3.13: Tình hình nguồn lực rừng của các hộ điều tra năm 2014

46

và sinh kế ổn định đóng vai trò quan trọng trong công tác giảm nghèo và sự phát
triển của đất nước. Để giảm số lượng người nghèo, chính phủ và các cơ quan phát
triển ở Việt Nam đã có nhiều nỗ lực phát triển sinh kế cho người nghèo trong thập
kỷ vừa qua và đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
rằng vẫn còn rất nhiều những khó khăn, trở ngại không ngừng tác động đến đời
sống thường ngày của đồng bào dân tộc thiểu số như: Thiếu vốn sản xuất, trình độ
kỹ thuật chưa cao, chi phí sinh hoạt cao, chi phí đầu vào lớn,… Hơn thế nữa là hàng
loạt những hệ lụy của những phương thức canh tác không bền vững, sự suy thoái tài
nguyên đất, nước ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, sự gia tăng các hiện tượng
thiên tai dưới tác động của biến đổi khí hậu. Sự cộng hưởng của những yếu tố này
tiếp tục đẩy người dân đến tình trạng đói nghèo.
Đứng trước thực trạng đó hàng loạt những chương trình dự án về sinh kế bền
vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con người. Nó là
điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người nhưng
vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên. Trên thực tế đã có
nhiều chương trình, tổ chức, dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng đến mục tiêu
phát triển ổn định và bền vững. Thực tế cho thấy việc lựa chọn những hoạt động
sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên,
xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng,… Việc điều tra, đánh giá hiệu quả
các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ được những phương thức sinh kế của
người dân có phù hợp với các điều kiện của địa phương hay không, các hoạt động
sinh kế đó có bền vững, phát triển lâu dài và ổn định không.
Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi còn gặp rất nhiều
khó khăn, cơ sở hạ tầng yếu kém, thu nhập thấp chưa đáp ứng đươc các nhu cầu về


12
đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Việc tìm hiểu, phân tích các hoạt động
sinh kế của hộ nông dân trên địa bàn, là cơ sở thiết lập các can thiệp của các dự án
xóa đói giảm nghèo sẽ góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập và phát triển

trong tương lai.
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của luận văn

1.1.1. Một số quan niệm về nghèo và hộ nghèo

1.1.1.1. Một số quan niệm về nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với
các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân
dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức y tế thế
giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng
năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita
Incomme, PCI) của quốc gia [2].
Theo quan điểm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì nghèo là không có thức
ăn bổ dưỡng, phải tiết kiệm tiền cho bữa ăn hôm sau, chẳng có phương tiện đi lại,
cuộc sống không ổn định, buôn bán nhỏ lẻ, trẻ con chỉ đi học khi nào có tiền, chẳng có ai
giúp đỡ, không được chơi tennis, chẳng có gì giải trí ngoài đánh bạc và mua vé số. [5]
* Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert
McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt
đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là
sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người
phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất
phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’.
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới
nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2


đến 520.000 đồng/người/tháng.


15
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng
đến 650.000 đồng/người/tháng.
Chuẩn mực xác định nghèo ở Việt Nam qua các giai đoạn như sau:


16
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ
Giai đoạn

Đơn vị tính

Hộ đói

Hộ nghèo

Dưới mức Dưới mức

1. Giai đoạn 1993 - 1994

Gạo

Khu vực nông thôn

Kg/người/tháng

8


Kg/người/tháng

13

25

3. Giai đoạn 1997 - 2000

Tiền

Vùng nông thôn miền núi, hải đảo

Đồng/người/tháng

45

55

Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng

45

70

Vùng thành thị

Đồng/người/tháng

45


Tiền

Khu vực nông thôn

Đồng/người/tháng

-

200

Khu vực thành thị

Đồng/người/tháng

-

260

6. Giai đoạn 2010-2015

Tiền

Khu vực nông thôn

Đồng/người/tháng

400

Khu vực thành thị

1.1.2.2. Khái niệm hoạt động sinh kế
Hoạt động sinh kế là các hoạt động cụ thể do con người làm chủ thể. Và hoạt
động đó được tiến hành trong cuộc sống hằng ngày để tạo thu nhập nhằm thỏa mãn
nhu cầu sống của họ. [1]
Thông thường, đối với một cộng đồng thì luôn luôn tồn tại hai hoạt động
sinh kế sau:
- Hoạt động nông nghiệp gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản...
- Hoạt động phi nông nghiệp gồm: Buôn bán, dịch vụ, làm thuê, xay xát,...


18
Hoạt động sinh kế của nông hộ gồm có: Trồng trọt (lúa, ngô, sắn, khoai,...)
và chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà,...).
1.1.2.3. Các khái niệm liên quan
Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng con
người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế có quan niệm cho rằng sinh kế
không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở. Mà nó còn đề
cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan
hệ,…(Wallmann, 1984). Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực
và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà
họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của
họ”(DFID). Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự
quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các
thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết
lập trong cộng đồng.
* Khái niệm chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và
quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và tài
sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục
tiêu nguyện vọng của họ.

Cơ cấu và tiến trình
thực hiện

Ảnh
hưởng
và khả
năng
tiếp cận

Cơ cấu
+ Các cấp
chính
quyền
+ Đơn vị
tổ chức

P

Quá trình
tiến hành
+ Luật lệ
+ Chính
sách
+
Văn
hóa
+ thể chế
chính
sách


hơn
các
nguồn lực tự
nhiên


20
* Khái niệm các nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan
tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng. Trong
phạm vi đề tài này, các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các
thể chế chính sách mà xã hội quy định. Các nguồn vốn đó được hiểu như sau:
+ Nguồn vốn con người: Con người là cơ sở nguồn vốn này. Vốn con người bao
gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các
thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc được kế
thừa trong gia đình ), những kỹ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả năng lãnh đạo,
sức khỏe, tâm sinh lí của các thành viên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân
công lao động. Đây là một yếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả
năng một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lí các nguồn vốn khác.
+ Nguồn vốn xã hội: Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ
hàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn
hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con
người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau,… Việc con người
tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không
nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ. Vốn xã hội được duy trì, phát triển và
tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy
động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị
chuẩn mực. Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa
của họ thông qua sự tương tác giữa cá các cá nhân.
+ Nguồn vốn tài chính: Tài chính là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với

chọi với những cú sốc, tổn thương do con người và tự nhiên gây ra. [7]
Nói tóm lại quan niệm về sinh kế bền vững đều hướng đến một thế đứng
kiềng 3 chân: “Kinh tế - môi trường - xã hội”. Đây cũng được xem là mục tiêu
mà con người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm
phát triển sai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con
người. Lý thuyết này được áp dụng trong đề tài để phân tích hoạt động sinh kế
của người dân và xây dựng một mô hình phát triển tiến bộ hơn so với mô hình
sinh kế hiện tại - mô hình sinh kế bấp bênh và thiếu tính bền vững.


22
1.2. Cơ sở thực tiễn của luận văn

1.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay
Đầu năm 2011 Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) ước tính, trên thế giới
có khoảng một tỷ người lâm vào tình trạng thiếu lương thực. Đến cuối tháng 10
năm 2011, dân số thế giới đạt 7 tỷ người. Điều đó có nghĩa, mỗi ngày trên hành tinh
cứ 7 người sẽ có 1 người bị đói, nghèo mặc dù thế giới sản xuất đủ lương thực cho
tất cả mọi người. [2]
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối diện với những căng thẳng và nguy cơ tụt
giảm ngày càng lớn, khủng hoảng việc làm, giá lương thực tăng cao, bất công xã
hội, biến đổi khí hậu, khiến cho số người lâm vào cảnh cùng cực gia tăng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đã được chỉ ra, trong đó phải kể đến
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến nay vẫn đeo đuổi nhiều nước, đặc biệt các
nước phát triển trong đó có Mỹ. Khu vực đồng Euro đang phải đối mặt với khủng
hoảng nợ công nên buộc phải áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng làm ảnh
hưởng đến an sinh xã hội, trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp, ảnh hưởng không
nhỏ đến phần còn lại của thế giới.
Nguyên nhân quan trọng nữa phải kể đến là giá lương thực trên thế giới tăng
cao. Dân số thế giới gia tăng trong khi sản xuất lương thực chỉ đủ cho 7 tỉ miệng ăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status