PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ
TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
I . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ hiện nay thì
vai trò của nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng. Nó quyết định sự thành bại của
sự nghiệp đổi mới. Đảng và nhà nước ta xác định: “Giáo dục đào tạo có sứ mệnh
nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan
trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển
giáo dục đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu,
đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho phát triển” (Nghị quyết đại hội XI). Mục
tiêu của giáo dục đào tạo NQTW4 khóa VII cũng đã chỉ rõ: “Đào tạo những con
người lao động tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề do
thực tiễn đặt ra, tự lo được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống, qua
đó góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là giáo dục nước ta còn nhiều bất cập về nội dung,
chương trình dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức cho đến đánh giá
và quản lý giáo dục. Thực tiễn cho thấy phương pháp dạy học lịch sử của nhiều
giáo viên hiện nay nặng về hình thức truyền đạt nên chưa phát huy được tính tích
cực, tự giác, chủ động sáng tạo cho học sinh. Học sinh thì còn học tập một cách thụ
động chưa chú ý rèn luyện năng lực tự học, tư duy sáng tạo, năng lực thực hành và
giải quyết vấn đề. Do đó đổi mới phương pháp dạy học cho học sinh theo hướng
bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh là rất quan trọng và cần thiết vì nhiệm vụ
của người giáo viên không chỉ cung cấp kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp
cho học sinh phát triển khả năng tư duy, giúp học sinh tự giác, tích cực và chủ
động trong học tập.
Trong các môn học ở trường phổ thông, môn lịch sử có một vị trí rất quan
trọng. Thông qua dạy học lịch sử giáo viên có thể giúp học sinh có được những
kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình
Đavưđov) (tr.25). Qua phân tích một số quan điểm về tư duy ta có thể hiểu sâu
thêm về khái niệm tư duy “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách
quan một cách gián tiếp là khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và
bản chất tìm ra những mối liên hệ quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng
mà ta chưa từng biết” Trong học tập bộ môn lịch sử có các loại hình tư duy như:
Tư duy logic, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, tư duy trừu tượng.
a. Các giai đoạn của quá trình tư duy
Các giai đoạn của một quá trình tư duy bao gồm:
Xác định vấn đề và biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy. Nói cách khác là câu
hỏi tìm lời giải đáp.
Huy động các tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tưởng hình thành giả thuyết về
cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi.
Xác minh giả thuyết trong thực tiễn nếu đúng thì tiếp bước sau, nếu sai thì
phủ định nó và hình thành giả thuyết mới.
Quyết định đánh giá kết quả, đưa ra sử dụng.
b. Đặc điểm của tư duy .Tư duy có những đặc điểm cơ bản sau
-Tính có vấn đề của tư duy.
- Tính gián tiếp của tư duy.
- Tính trừu tượng và khái quát của tư duy.
- Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
2
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
- Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính.
Như vậy, để công tác giảng dạy được hiệu quả giáo viên phải coi trọng phát
triển tư duy cho học sinh. Nếu không có khả năng tư duy học sinh không học tập
và rèn luyện được. Muốn kích thích học sinh tư duy thì phải tạo cho các em các
“tình huống có vấn đề” và tổ chức cho học sinh độc lập, sáng tạo giải quyết các
nhiệm vụ đặt ra. Phát triển tư duy cho học sinh phải được tiến hành song song và
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
3
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
dễ dàng làm thay đổi các trật tự của hệ thống tri thức, có khả năng bao quát sự vật
hiện tượng theo nhiều khía cạch khác nhau, có thể định nghĩa lại sự vật hiện tượng,
xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong các mối quan hệ
mới.Tính nhuần nhuyễn: Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện năng lực tạo ra
một cách nhanh chóng sự kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh
đưa ra giả thuyết mới và ý tưởng mới. Tính độc đáo: Tính độc đáo là khả năng tìm
và quyết định phương thức mới. Tính hoàn thiện: Tính hoàn thiện là khả năng lập
kế hoạch, phối hợp các ý nghĩ và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và chứng
minh ý tưởng.
Để phát triển năng lực tư duy, sáng tạo của học sinh bằng phương pháp dạy
học tích hợp liên môn ở môn lịch sử ta cần chú ý đến một số yêu cầu sau:
- Sử dụng kiến thức liên môn phải đáp ứng được mục tiêu môn học.
- Sử dụng kiến thức liên môn phải giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức cơ
bản của bài học.
- Sử dụng kiến thức liên môn phải góp phần phát triển năng lực tư duy, sáng
tạo cho học sinh.
- Sử dụng kiến thức liên môn phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh.
- Sử dụng kiến thức liên môn giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo và tùy thuộc.
vào bài học.
2. Cơ sở thực tiễn
Trường THPT Sông Ray là một trong những trường thuộc địa bàn vùng sâu
của Tỉnh Đồng Nai. Chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 của trường chưa đồng đều,
điều kiện nhà trường còn nhiều khó khăn. Giáo viên trong tổ phần đông còn trẻ,
kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, nên còn chậm trong việc bắt kịp với xu thế đổi
mới phương pháp dạy học. Điều kiện kinh tế và mức sống của nhân dân trong khu
vực còn khó khăn nên sự quan tâm đến việc học của con em còn hạn chế.
hoàn toàn như cũ. Như vậy, xét trên phương diện những nguyên tắc của phương
pháp luận sử học, lịch sử được “lặp lại trên cơ sở không lặp lại”. Chính vì vậy,
trong học tập lịch sử, do học sinh không thể trực tiếp quan sát, tri giác các sự kiện,
hiện tượng đã xảy ra nên việc lĩnh hội tri thức gặp nhiều khó khăn, nhất là với
những tri thức lịch sử cách xa với đời sống hiện nay(“Chế độ chiếm hữu nô
lệ”,”Chế độ chuyên chế”,v.v ).Vì lẽ đó, việc hình thành tri thức lịch sử cho học
sinh cần chú ý phương pháp thông tin- tái hiện nhằm khôi phục bức tranh lịch sử
một cách sâu sắc.
Để tạo ra những biểu tượng lịch sử sinh động, chân xác, trong dạy học lịch
sử cần sử dụng nhiều loại tài liệu khác nhau trong đó tài liệu văn học (TLVH) là
một trong những nguồn tài liệu phong phú, có nhiều lợi thế.
Với chức năng phản ánh cuộc sống, TLVH đã góp phần dựng lại bức tranh
quá khứ lịch sử, trình bày các đặc trưng của các hiện tượng kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, những quy luật của đời sống ở từng thời đại một cách sinh động, hấp
dẫn bằng ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật.
Giữa văn học và sử học có mối quan hệ khăng khít. Khoa học lịch sử dựa
vào những nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử có thật trong một giai đoạn nhất
định để khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách chân xác, khách quan, còn văn
học dựa trên chất liệu cuộc sống để xây dựng hình tượng, cốt truyện, mỗi tác phẩm
văn học đều mang trong mình dấu ấn của thời đại.
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
5
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử sẽ giúp học sinh tránh
được tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử , phân biệt rõ nhân vật lịch sử .
Ngoài ra, việc sử dụng TLVH còn giúp học sinh củng cố và phát triển kiến
thức lịch sử, phát huy tính tích cực, năng động của học sinh và gây hứng thú học
tập. Do đó, chất lượng dạy học lịch sử được nâng lên.
a Ý nghĩa giáo dưỡng
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
6
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
Trong lịch sử dân tộc, nhiều tác phẩm nổi tiếng mà ở đó những kiến thức
lịch sử có giá trị văn học đã kết chặt trong nội dung, bố cục và phương pháp thể
hiện khiến cho nó trở thành những tác phẩm “văn sử bất phân”. Có thể dẫn ra áng
thơ thần của Lý Thường kiệt-“Nam quốc sơn hà” như một bản tuyên ngôn bất hủ
về độc lập, chủ quyền giang sơn gấm vóc và ý chí của một dân tộc quyết bảo vệ
cho được nền độc lập từng phải đấu tranh suốt ngàn năm Bắc thuộc thảm khốc và
đau thương. “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn đâu chỉ thức tỉnh ba quân đang
ham thích những vui thú thời bình mà còn đúc kết những kinh nghiệm của cha ông
trong lịch sử đấu tranh bảo vệ chủ quyền của một quốc gia dân tộc thống nhất.
“Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi vang vọng muôn đời cũng chính bởi những
chiến công vang dội của cuộc kháng chiến chống quân Minh, đã gắn kết với truyền
thống ngàn năm văn hiến của quốc gia Đại Việt. Cũng từ đó những bài học lịch sử
được rút ra như” dùng đoản chế trường, lấy yếu đánh mạnh”, “dùng quân mai
phục, lấy ít địch
“ Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
Tiếp nối truyền thống quật cường đó, phong trào đấu tranh cách mạng của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ 1930-1945 được phản ánh
trong nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng với nhiều thể loại phong phú: hồi kí cách
mạng (Những chặng đường lịch sử của Võ Nguyên Giáp, Chặng đường nóng bỏng
của Hoàng Quốc Việt, Từ núi rừng Batơ của Phạm Kiệt. ), thơ với các tác giả nổi
tiếng như: Tố Hữu, Sóng Hồng, Hồ Chí Minh, văn học truyền miệng, báo chí v.v
Đặc biệt bản “ Tuyên ngôn độc lập ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem như là
sử.
c Ý nghĩa phát triển
Học lịch sử nhằm “ôn cố tri tân” để khai thức những giá trị tốt đẹp của truyền
thống dân tộc, đem những kinh nghiệm, những bài học lịch sử của cha ông vận
dụng vào việc thực hiện những nhiệm vụ trong hiện tại và hướng tới tương lai, có
như vậy mới thực hiện “học đi đôi với hành, lí luận đi đôi với thực tiễn, nhà
trường gắn liền với xã hội”.
Việc sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử cũng là nhằm làm cho các
kiến thức lịch sử ấy dễ tiếp nhận đối với học sinh, các em dường như được tham
dự, chứng kiến lịch sử quá khứ. Đây là việc phát huy trí tưởng tượng tái tạo cho
học sinh, rất cần cho việc học tập lịch sử bởi nếu không hình dung quá khứ khách
quan thì không thể hiểu bản chất lịch sử, dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hóa” lịch
sử. Do đó việc sử dụng TLVH trong bài giảng của giáo viên là một việc làm thiết
thực, một yêu cầu bức thiết nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ
thông hiện nay.
2 . Phương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử
a. Một số yêu cầu khi sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử
Việc sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử giúp học sinh nắm kiến thức lịch
sử sâu sắc, toàn diện hơn, đặc biệt các em có sự liên hệ, tích hợp kiến thức giữa
các môn học, tránh được tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh,
tính hệ thống của các tri thức đó sẽ giúp học sinh hiểu sự kiện, có khả năng phân
tích sự kiện, tìm ra bản chất, qui luật phát triển của lịch sử. Tuy nhiên không phải
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
8
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
cứ đưa TLVH vào bài giảng lịch sử là giáo viên đã đạt hiệu quả dạy học như trên
mà việc sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử phải tuân thủ theo những nguyên tắc
dạy học nói chung và yêu cầu cụ thể sau đây.
TLVH phải phù hợp với nội dung bài giảng và trình độ nhận thức của học
tối tăm, cực khổ của nhân dân ta, nhất là nông dân. Các hồi kí cáh mạng như
“Những năm tháng không thể nào quên” (Võ Nguyên Giáp), “Những chặng đường
nóng bỏng” (Hoàng Quốc Việt), “Đại thắng mùa xuân”.
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
9
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
Dạy bài, Phong trào cách mạng 1930-1931, khí thế đấu tranh sôi sục ở
Nghệ Tĩnh được cụ thể hóa qua tài liệu văn thơ Xô viết Nghệ Tĩnh
“Trên gió cả cờ đào phất thẳng
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra
Giữa thành một trận xông pha
Bên kia đạn sắt bên ta gan vàng
Hơi nghĩa khí dồn vang bốn mặt
Dải đồng tâm thắt chặt muôn người
Lợi quyền ta cố ta đòi
Dần xương đế quốc, xẻo môi quan trường”.
Chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” và đạo luật 10/59 của chính quyền Mĩ
Diệm được sinh động hóa trong bài “Lá thư Bến tre” của nhà thơ Tố Hữu:
“Biết không anh, Giồng Keo, Giồng Trôm
Thảm lắm anh à lũ ác ôn
Giết cả trăm người trong một sáng
Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn.
Anh biết không, Long Mĩ, Hiệp Hưng
Nó giết thanh niên ác quá chừng
Hăm sáu đầu trai bêu cọc sắt
Ba hôm mắt vẫn mở trừng trừng
Có những ông già nó khảo tra
Không khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục
chiu? Hãy nghe tâm sự của Hoàng hậu nước Pháp- con người nổi tiếng về phản
trắc và điêu ngoa sẽ rõ: "Tôi thương mỗi người lính như con trai tôi đẻ ra
nhưng tôi thích chiến tranh bởi vì sự thể đã như thế này chiến tranh là tốt"
Cuộc chiến tranh bùng nổ, Pháp hết sức chủ quan, lời tuyên bố ngạo mạn
của người chỉ huy quân đội là "đã chuẩn bị đến chiếc cúc cuối cùng trên chiếc gệt
của người lính cuối cùng" đã đưa quan đội Pháp lâm vào thảm họa, thất bại nhục
nhã ở chân thành Xơđăng, 10 vạn quân cùng Napôlêông III bị bắt sống.Liền sau
đó, ngày 4/9/1870 quần chúng Pari đã khởi nghĩa lật đổ đế chế,chính quyền lọt vào
tay giai cấp tư sản. Nước Đức đã tấn công nước Pháp, tấn công Pari chứ không
phải "chỉ đánh Napôlêông" như chúng từng rêu rao trước đó để loè bịp. Do áp lực
của quần chúng Chính phủ vệ quốc phải lập 200 tiểu đoàn mới để chống lại quân
xâm lược Đức. Vậy, nhưng những kẻ nắm quyền chẳng hề mảy may quan tâm đến
kháng chiến, chỉ lo ăn chơi xa đọa, sẵn sàng bán lợi ích của dân tộc mình vì quyền
lợi ích kỉ cá nhân:
"Mặc đứa ngu nào yêu nước, cứ yêu đi,
Dưới đạn quân thù tha hồ chết,
Còn tớ đây sốt tỏi tớ đánh tì tì,
Các ngài ơi đổi Pari lấy bít tết"
Cả một đám vô lại tập hợp nhau lại thành một Quốc hội mới (2/1871) để toan
lo việc đầu hàng Đức, hãy xem những gương mặt tiêu biểu của chính phủ mới này;
Chie - kẻ đứng đầu chính phủ: Mác gọi hắn là "con quỷ lùn quái dị" khét
tiếng trong các vụ đàn áp đẫm máu phong trào công nhân từ những năm 30 của thế
kỉ XIX: "Chie, con người bé nhỏ quái dị đó đã làm cho giai cáp tư sản Pháp say
mê từ non nửa thế kỉ nay. Bởi vì hắn đại diện cho cái tư tưởng hoàn mĩ nhất chính
ngay sự hư bại giai cấp của bọn tư sản đó với cánh tay bé nhỏ của một thằng
lùn hắn ta thường thích giơ lên trước Châu Au thanh gươm của Napôlêông đệ
nhất”
(2))
Bên cạnh Chie là Tơrôsuy lịch sử xác minh là kẻ thù truyền kiếp của dân
nghèo khó, là một kẻ bảo thủ tới đường gân thớ thịt, một kẻ ham danh vọng đến
thành bản quốc tế ca hoành tráng của vô sản thế giới :
"Vùng lên, hỡi các nô lệ của thế gian
Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn"
Những sai lầm của công xã Pari thật đáng tiếc đã dẫn tới sự thất bại đau
lòng. Công xã Paris thất bại từ chính lòng nhân đạo của họ như Mác đã chỉ ra và
ngày ấy Ơgien Pôchie cũng từng nhìn thấy:
"Người không chiếm ngân hàng, ôi lầm lỗi,
Lẽ ra, Người phải đổi thay thế giới,
Người biết không muốn kẻ địch đầu hàng,
Phải tước vũ khí của quân địch”(2)
Sự ấu trĩ trong nhận thức cảu vô sản Paris biểu hiện qua bức tranh chiến sĩ
công xã khiến họ không phân biệt âm mưu chia rẽ của kẻ thù, hiểu lầm người bạn
đồng minh đáng tin cậy của mình là giai cấp nông nhân, khi dã hiểu ra tìm cách
liên hệ thì đã muộn. Những chú chim bồ câu đưa thư vốn yêu hòa bình nay hoảng
sợ tan tác vì súng đạn, những quả khinh khí cầu liên lạc hầu hết bị bắn rơi khi
chưa ra khỏi ngoại ô Paris. Những sai lầm đó đã để lại bài học quý báu cho giai
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
12
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
cấp vô sản sau này Lênin đã chỉ rõ "Giành chính quyền đã khó nhưng giữ chính
quyền càng khó hơn" Đảng ta cũng nhấn mạnh "Chính quyền cách mạng không
trấn áp kẻ thù là tự sát" vấn đề liên minh công nông, vấn đề lãnh đạo của đảng tiên
phong đều được nhắc nhở bằng máu xương của các chiến sĩ công xã.
Công xã thất bại nhưng hình ảnh của một nhà nước kiểu mới sẽ
trường tồn. Ngay sau khi thất bại Ăng ghen đã từng cảnh báo các chính khách tư
sản “Này các ngài, nếu các ngài muốn biết chuyên chính vô sản là gì? Xin hãy
nhìn vào công xã Pari chuyên chính vô sản là thế đấy”
(1
. Đúng như lời kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Khi chưa có Đảng tình hình đen tối như không có đường
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
13
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
ra” đặc biệt cố nhà thơ Chế Lan Viên đã khái quát sâu sắc thời kì khủng hoảng về
đường lối lãnh đạo cách mạng trước khi có Đảng:
“Ông cha xưa đấm nát tay trước cửa cuộc đời Cửa vẫn đóng và đời im ỉm
khóa
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
Văn Chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi ” (2).
Trong hoàn cảnh đó, đầu năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Sự
kiện ra đời của Đảng là một bước ngoặt lịch sử, chấm dứt thời kì khủng hoảng kéo
dài về đường lối lãnh đạo cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố đầu tiên
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam:
“Lần đêm bước đến khi hửng sáng
Mặt trời kia cờ Đảng dâng cao
Đảng ta con của phong trào
Mẹ nghèo mang nặng khổ đau khôn cầm
Như đứa trẻ sinh nằm trên cỏ
Không quê hương, sương gió tơi bời”(1)
* Tài liệu văn học kết hợp với tài liệu khác
TLVH chỉ là một trong nhiều nguồn tài liệu sử dụng trong dạy học lịch sử
( DHLS). Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả DHLS, cần phải kết hợp TLVH với
nhiều loại tài liệu khác một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn. TLVH có thể kết hợp
với một số tài liệu sau:
Thứ nhất, TLVH kết hợp với tài liệu của Hồ Chí Minh.
Tài liệu Hồ Chí Minh là nguồn tài liệu rất phong phú, góp phần làm sáng tỏ
nhiều vấn đề lịch sử. Tài liệu Hồ Chí Minh kết hợp với TLVH sẽ làm cho bài học
Việc sử dụng TLVH kết hợp với tài liệu trực quan giúp cho học sinh củng
cố khắc sâu kiến thức, hiểu bản chất sự kiện lịch sử. Ví dụ khi dạy nội dung “Mặt
trận Việt Minh ra đời và lãnh đạo đấu tranh”, giáo viên cho học sinh quan sát bức
ảnh “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” và hướng dẫn các em tìm hiểu
hoàn cảnh ra đời cũng như vì sao lại có tên “Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân” qua đoạn trích:
“Bây giờ thời kì cách mạng phát triển hòa bình đã qua, nhưng thời kì khởi
nghĩa toàn dân chưa tới! Nếu bây giờ vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị
thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động phong trào vũ trang
khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ
hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp
thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”.
Sau khi phân tích tình hình lúc bấy giờ, giáo viên nhấn mạnh: “Theo chỉ thị
của Hồ Chí Minh, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” đã ra đời. Hôm đó
là ngày 22-12-1944, lúc 5 giờ chiều, “lễ thành lập được cử hành trong một khu
rừng nằm giữa tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám. Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân đã ra đời dưới sự che chở của anh linh hai đấng anh hùng
dân tộc”. Giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh 34 chiến sĩ dưới sự chỉ huy của
Võ Nguyên Giáp đang trang nghiêm đọc 10 lời thề danh dự dưới lá cờ Tổ quốc
thiêng liêng và gợi ý về lực lượng vũ trang cách mạng của ta trong buổi đầu thành
lập?
+ Về lực lượng cách mạng: còn non mỏng, thiếu thốn (quần áo nhiều kiểu
khác nhau, vũ khí thô sơ).
+ Về ý chí: đầy quyết tâm tin tưởng (nét mặt trang nghiêm)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp hồi tưởng lại những giờ phút thiêng liêng đó:
“Chúng tôi quên đi chúng tôi là ba mươi tư con người với những súng ống thô sơ
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
15
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
sử xảy ra bắt nguồn từ đặc điểm địa lí hoặc do điều kiện địa lí tác động, chi phối.
Do vậy, kiến thức địa lí có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong dạy học lịch sử. Bài
học lịch sử gắn với bản đồ và kiến thức địa lí luôn tạo ra sự hấp dẫn, giúp học sinh
nắm chắc sự kiện, biết lí giải bản chất sự kiện qua sự chi phối của yếu tố địa lí.
1. Sử dụng bản đồ tích hợp kiến thức địa lí để luận giải nội dung lịch sử
Việc so sánh, phân tích để rút ra những kết luận khái quát, giải đáp những
vấn đề phức tạp của lịch sử phải dựa trên cơ sở nền tảng của hệ thống tư liệu
phong phú, logic đủ sức thuyết phục. Điều này rèn cho học sinh có phong cách tư
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
16
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
duy mạnh dạn táo bạo nhưng cẩn trọng, không vội vã hồ đồ. Ví dụ, trình bày "Sự
khủng hoảng chế độ phong kiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX và cuộc xâm lược
Việt Nam của thực dân Pháp". Đây là chương trình đồng tâm với cấp phổ thông cơ
sở nên yêu cầu về trình độ lý luận phải cao hơn. Sách giáo khoa trình bày sự
khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam (từ nửa sau thế kỷ XVIII đến giữa
thế kỷ XIX) biểu hiện trên các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, cùng với những thách
thức của Lịch sử và thái độ thủ cựu của nhà Nguyễn đương thời. Vấn đề đặt ra là
Việt Nam rơi vào tay Pháp là tất yếu hay không? Trách nhiệm của nhà Nguyễn
trước hiện trạng đó thế nào? Có ý kiến cho rằng nếu thái độ ngoại giao khôn khéo
Việt Nam vẫn có thể tránh được cuộc xâm lăng của thực dân Pháp (như Xiêm La)?
Để hiểu được điều đó, các em cần được biết, kết quả của hoạt động ngoại giao khi
chưa có chiến sự phụ thuộc vào thiện chí của cả hai bên, còn khi nổ ra chiến tranh
thì thắng lợi trên mặt trận quân sự luôn đóng vai trò quyết định. Hoạt động ngoại
giao của triều Nguyễn đối với thực dân Pháp lúc bấy giờ hoàn toàn khác nhau về
lập trường quan điểm. Nhà Nguyễn cố tìm cách giữ độc lập, chủ quyền nhưng "lực
bất tòng tâm" còn thực dân Pháp hoạt động ngoại giao cũng chỉ nhằm xâm chiếm
Việt Nam cho kỳ được. Điều này được bộc lộ từ rất sớm trong lịch sử. Không phải
đến những năm 40 của thế kỷ XIX thực dân Pháp mới dòm ngó và khiêu khích
thủ, trì trệ khước từ mọi yêu cầu canh tân đất nước đang đặt ra lúc bấy giờ. Nhiều
quan lại cấp tiến như Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế,.v v đã
nhiều lần dâng sớ đề nghị cải cách, thông thương, nhưng Triều đình vẫn" bế quan
tỏa cảng". Tệ hại hơn, những nho sĩ nhất mực "ái quốc, trung quân" dâng tờ trần
đề nghị cải tiến chế độ khoa cử lạc hậu thì bị đánh đòn như Ninh Kế (1825); hiến
kế ngăn bão lũ, thiên tai thì bị kết tội "lạm ngôn yêu quái" tống ngục chờ trảm như
Nguyễn Tiến Chương (1927); can ngăn Vua không nên tiêu xài hoang phí thì bị
giáng chức, đẩy lên biên giới xứ Lạng như Thám hoa Mai Anh Tuấn (1851).v v
Tiếp đó hàng loạt đề nghị mở cửa, giao lưu kinh tế, buôn bán với Tây phương, cải
cách quân đội, học tập Nhật Bản canh tân đất nước đều bị coi là "quá cao" hay là
"mọi rợ". Đặc biệt, Nguyễn Trường Tộ - một sĩ phu tài năng, tâm huyết, ròng rã 10
năm (1863-1871) dâng hơn 40 bản điều trần, trình bày hệ thống việc cải cách đất
nước, tận tụy tới mức ngã bệnh rồi qua đời mà triều đình vẫn bặt lặng tăm hơi.
Chính những sai lầm đó "nhà Nguyễn biến việc nước ta bị mất vào tay Pháp từ chỗ
không tất yếu trở thành tất yếu".
2. Sử dụng kiến thức địa lí giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học lịch sử
Kiến thức Địa lí nói chung, bản đồ Địa lí nói riêng có ưu thế trong việc khắc
sâu kiến thức lịch sử cho học sinh. Chẳng hạn, khi trình bày Nghị quyết của Hội
nghị Trung ương VIII (5/1941), giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức
về vị trí chiến lược của Cao Bằng, từng được Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: "Cao
Bằng là một trong những vị trí quan trọng về chiến lược của ta từ năm 1924 -
1925 đến sau này" Đến năm 1941 Người lại khẳng định:
"Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta.
Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lực
quốc tế thuận lợi. Nhưng Cao Bằng cỏn phải phát triển về Thái Nguyên và thông
xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với
Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có
thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ” .
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
18
sức quan trọng bởi lẽ, lực lượng địch ở đây chỉ có 2 sư đoàn vừa phải chiếm giữ
Tây Nguyên vừa phải bảo vệ vùng đồng bằng duyên hải miền Trung nên lực lượng
bị dàn mỏng. Mặt khác, địa hình Tây Nguyên có độ cao không đáng kể, thuân lợi
cho ta cơ động lực lượng , vận chuyển lương thực vũ khí , khí tài
Mặc dù vậy, Bộ Chính trị nhận thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung
đầy đủ thông tin trước khi đi tới kết luận chính thức. Từ đầu năm 1974, Bộ chính
trị đã trực tiếp nghe báo cáo cáo của các đồng chí chỉ huy các chiến trường đặc
biệt là chiến trường Nam bộ và Liên khu V.Trên cơ sở đó, Hội nghị Bộ Chính trị
mở rộng (họp từ ngày 18-12-1974 đến 8-1-1975) đã thảo luận chi tiết kế hoạchgiải
phóng miền Nam. Trong lúc hội nghị đang diễn ra, ta nhận được tin chiến dịch
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
19
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
đường số 14 gìanh thắng lợi, giải phóng thị xã Phước Long, toàn tỉnh Phước Long
với hơn 50 ngàn dân. Chiến thắng Phước Long chứng tỏ sự trưởng thành vượt bậc
của chủ lực ta, khả năng mới của quân, dân ta, đồng thời khẳng định lực lượng
địch bị suy yếu rõ rệt. Những phản ứng yếu ớt của Mĩ cho thấy chúng không có
khả năng can thiệp trở lại cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Những nhận định đó
càng củng cố quyết tâm để Bộ Chính trị hoàn chỉnh kế hoạch giải phóng miền
Nam trong vòng 2 năm. Cụ thể, năm 1975 tranh thủ thời cơ tấn công rộng khắp,
tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành “tổng công kích - tổng khởi nghĩa”, giải
phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị còn dự kiến phương án quan trọng:
"Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam
trong năm 1975”. Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng thể hiện sự chủ động, sáng suốt
của Bộ Chính trị trong phân tích, đánh gía đúng đắn tình hình tương quan lực
lượng giữa ta và địch; nắm vững quy luật phát triển của chiến tranh; xác định đúng
thời cơ chiến lược để hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong vòng 2 năm.
4. Sử dụng bản đồ giúp học sinh hiểu diễn biến sự kiện lịch sử
Bản đồ lịch sử được tích hợp kiến thức địa lí giúp học sinh hiểu rừ sự kiện
chúng tìm đường rút chạy. Khoét sâu những sai lầm chiến lược của địch, lực lượng
chủ lực mặt trận Tây Nguyên đã thần tốc, nắm vững thế chủ động tiến công,truy
kích, giáng đòn quyết định, làm tan rã lực lượng quân đoàn II ngụy, giải phóng
Tây Nguyên với 60 vạn dân. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra bước
ngoặt từ thế tiến công chiến lược sang tổng tiến công chiến lược trên toàn miền
Nam. Dựa vào bản đồ,giáo viên cần chỉ cho học sinh nhận thức rõ rằng, thuật ngữ
“Chiến dịch Huế - Đà Nẵng” trình bày trong sách giáo khoa là cách nói tắt, giản
đơn về 3 chiến dịch trong thế trận đồng thời và liên hoàn là: Chiến dịch Trị -Thiên;
chiến dịch Nam - Ngãi; Chiến dịch Đà Nẵng. Nhận thức mới này được xuất phát
từ thực tiễn chỉ đạo của cơ quan chỉ huy tối cao là Bộ Chính trị, Trung ương Đảng,
Quân ủy Trung ương và thực tiễn diễn ra trên chiến trường. Ngay trong khi chiến
chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã kịp
thời chỉ đạo mở chiến dịch Trị - Thiên. Tại cuộc họp ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị
nhận định rằng:" Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm
quyết tâm giải phóng miền Nam”. Vì vậy, cần tập trung nhanh nhất mọi điều kiện
vật chất, khí tài, lực lượng, hành động nhanh chóng táo bạo bất ngờ, đánh cho
địch không kịp trở tay giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.”
(1
song trước mắt phải
tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở Huế và Đà Nẵng .
Sau những thắng lợi liên tiếp của quân dân ta ở Quảng Trị (19-3), Tam Kỳ
(24-3), Huế, Quảng Ngãi (25-3), Chu Lai(26-3) địch dồn về co cụm ở Đà Nằng
trong thế bị bao vây tuyệt vọng . Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho
tướng Ngô Quang Trưởng cố thủ Đà Nằng bằng mọi giá, nhưng hơn 10 vạn sĩ
quan, binh lính ngụy ở đây đang hoang mang cực độ khiến cho mệnh lệnh "tử thủ"
trở nên vô hiệu. Bộ Chính trị nhận định, địch cố muốn giữ Đà Nằng cũng không
thể được, do vậy cần mở cuộc tấn công Đà Nằng với tư tưởng chỉ đạo “táo bạo
,bất ngờ, kịp thời, chắc thắng”. Ngày 25- 3 – 1975, Bộ tư lệnh mặt trận Quảng -
Đà được thành lập. Sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương đã làm cho sức mạnh tấn
công của lực lượng chủ lực mặt trận Quảng- Đà được phát huy triệt để. Ngày 29-3
đấu, tạo thế hợp đồng binh chủng chặt chẽ, đưa cuộc tiến công thần tốc giải phóng
thành phố Sài Gòn đúng 11h30' ngày 30 -4- 1975.
5. Sử dụng kiến thức địa lí trong dạy học lịch sử ở thực địa
Việc sử dụng kiến thức địa lí với nhiều nguồn tài liệu khác có thể được tiến
hành trong bài học lịch sử ở thực địa. Bài học lịch sử tiến thành ở thực địa, nơi
xảy ra sự kiện và lưu giữ những hiện vật, di tích lịch sử liên quan tới sự kiện đó,
luôn hấp dẫn với học sinh. Bài lịch sử tiến hành ở thực địa là bài lịch sử nội khoá,
song không bị bó hẹp, khống chế về thời gian (như bài nội khóa trên lớp), nên có
thể kết hợp với hoạt động ngoại khoá sinh động cuốn hút học sinh Cũng như các
hình thức hoạt động ngoại khoá, việc tiến hành dạy bài lịch sử ở thực địa phải
được chuẩn bị công phu, từ lựa chọn địa điểm đến công việc tiến hành. Không
phải bài lịch sử nào cũng có thể tiến hành được ở thực địa, vì nó phụ thuộc vào
Giáo viên : Dương Thị Thanh Hà
22
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở MÔN LỊCH SỬ TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
nhiều yếu tố: Thời gian, nội dung bài học, điều kiện học tập, vị trí không gian,
phương tiện đi lại Vì vậy, nơi nào có điều kiện cần cố gắng thực hiện, bởi vì, nó
là một hình thức tổ chức dạy học có tác dụng tốt trong giáo dưỡng và giáo dục học
sinh.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Để đạt kết quả cao, khẳng định thực chất, trung thực, tính khả thi của đề tài,
tôi tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Sông Ray qua bài 16 “Phong trào giải
phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945). Nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ra đời” (tiết 1).
Tôi chuẩn bị 2 giáo án bài 16 - lớp 12 THPT: “Phong trào giải phóng dân
tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời” (tiết 1), theo hai kiểu:
+ Kiểu 1: Giáo án thực nghiệm như dự kiến của đề tài, sử dụng kiến thức
liên môn như văn học, địa lí vào dạy học lịch sử.
12 A
11
45 7 16 23 51 14 31 1 2
12 A
8
45 2 4 11 25 26 58 6 13
Kết quả thực nghiệm cho thấy sự chênh lệch giữa lớp đối chứng và lớp thực
nghiệm như sau:
Điểm khá giỏi ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng là 38%.
Điểm trung bình ở lớp thực nghiệm thấp hơn lớp đối chứng là 27%.
Điểm yếu kém ở lớp thực nghiệm thấp hơn lớp đối chứng là 11%.
Bảng 2.4. Độ chênh lệch giữa kết quả kiểm tra của hai lớp
Lớp Tổng số điểm Tổng số HS Điểm TB (X) Độ chênh lệch
12 A11 318 45 7,1
1,6
12 A
8
246 45 5,5
Điểm trung bình của lớp thực nghiệm là 7,1 điểm/học sinh, còn lớp đối
chứng là 5,5 điểm/học sinh. Điểm trung bình của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối
chứng là 1,6 điểm/học sinh, điều này một lần nữa khẳng định giả thuyết chúng tôi
đưa ra là đúng.
Như vậy, chất lượng dạy học ở lớp thực nghiệm luôn cao hơn lớp đối
chứng, học sinh ở lớp thực nghiệm nắm vững kiến thức hơn lớp đối chứng.
Ở lớp thực nghiệm không khí học tập rất sôi nổi, các em tích cực sử dụng
kiến thức của các môn đã học để giải thích, chứng minh các sự kiện lịch sử. Các
em ở lớp thực nghiệm hăng hái phát biểu, xây dựng bài, tiếp thu bài nhanh và
hiểu bài sâu sắc. Ngược lại với lớp thực nghiệm, ở lớp đối chứng, các em chăm
chú nghe giảng và ghi chép. Các em tham gia xây dựng bài một cách chiếu lệ,
không khí lớp học buồn tẻ, nặng nề dẫn tới hiệu quả giờ học không cao.