SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRONG CHƯƠNG ĐỊA LÍ DÂN CƯ KHỐI 10 - Pdf 29

Sáng kiến kinh nghiệm:
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TRONG CHƯƠNG ĐỊA LÍ DÂN CƯ- KHỐI 10
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học và có vai trò hết
sức quan trọng, bởi nó không chỉ phản ánh kết quả dạy học của cả giáo viên, học sinh
phương pháp dạy học tích cực
Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá là hai hoạt động
có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
là một trong những khâu then chốt của quá trình đổi mới giáo dục phổ thông. Đổi mới
kiểm tra, đánh giá tạo động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần
nâng cao chất lượng, đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động,
sáng tạo, có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng
thì việc đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng
đã học mà phải khuyến khích trí thông minh sáng tạo, khả năng tư duy, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn của học sinh.
Đồng thời, nội dung kiểm tra đánh giá ở chương trình Địa Lí 12 và tốt
nghiệp trung học phổ thông có nội dung về kĩ năng, vận dụng chiếm phần lớn số
điểm (khoảng 70-75%). Trong khi đó, từ trước đến nay, học sinh lớp 10 và 11 lại
thường được đánh giá về nội dung kiến thức là chủ yếu (khoảng 70%)(Theo thực tế
tại đơn vị).
Tôi thiết nghĩ, chúng ta cần đổi mới cách kiểm tra, đánh giá ở 2 khối 10 và
11 theo hướng thích ứng với yêu cầu của xã hội và rèn luyện để các em có thể làm bài
thi tốt nghiệp thật tốt trong những năm sau. Trong năm học 2013-2014 tôi đã thực
hiện đề tài “Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong chương
trình địa lý tự nhiên khối 10” , năm nay, tôi cố gắng phát triển đề tài của mình và để
thích ứng với yêu cầu của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Sở Giáo Dục & Đào Tạo Đồng
Nai về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh.
Chính vì những lí do trên, tôi đã thực hiện chuyên đề mang tên: “KIỂM

- Tình huống 2: Đánh giá có đo lường
- Tình huống 3: Kiểm tra- đánh giá
Đánh giá năng lực: là đánh giá khả năng thực hiện một công việc cụ thể
dựa trên việc kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với yêu cầu sản
phẩm đầu ra của quá trình giáo dục.
MỘT SỐ ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA ĐÁNH GIÁ TIẾP CẬN NỘI
DUNG VÀ ĐÁNH GIÁ TIẾP CẬN NĂNG LỰC
STT Đánh giá theo hướng tiếp
cận nội dung
Đánh giá theo hướng tiếp
cận năng lực
1 Các bài thi trên giấy được thực Nhiều bài kiểm tra đa dạng
Trang 2
hiện vào cuối một chủ đề, một
chương, một học kì
trong suốt quá trình học tập
2 Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác
3 Quan tâm đến mục tiêu cuối
cùng của việc dạy học
Quan tâm đến phương pháp
học tập, phương pháp rèn
luyện của học sinh
4 Chú trọng vào điểm số Chú trọng vào quá trình tạo ra
sản phẩm, chú ý đến ý tưởng
sáng tạo, đến các chi tiết của
sản phẩm để nhận xét.
5 Tập trung vào kiến thức hàn
lâm
Tập trung vào năng lực thực tế
và sáng tạo.

của đánh giá
Đánh giá diễn ra vào cuối kì hay
cuối năm
Đánh giá diễn ra trong suốt quá trình
học tập
Đánh giá theo chuẩn tương đối để so
sánh kết quả đầu ra của người học
về thứ hạng hoặc vị trí
Đánh giá theo chuẩn tuyệt đối sử
dụng để so sánh kết quả đầu ra của
người học với mục đích nhằm đưa ra
phản hồi và điều chỉnh
Kiến thức và sự tái hiện kiến thức là
nội dung đánh giá chủ yếu
Sự cố gắng là thành phần được ghi
nhận nhận trong quá trình đánh giá
1.1.4. Các phương pháp đánh giá hiện đại
• Quan sát
• Trao đổi
• Trình diễn
• Hồ sơ đánh giá
• Đánh giá sản phẩm dự án
• Đánh giá qua các tình huống thực tế
Đối tượng sử dụng các phương pháp đánh giá này có thể là giáo viên và học sinh,
điều đó đồng nghĩa với việc học sinh có thể được tham gia vào quá trình đánh giá.
Nguồn: Tài liệu tập huấn DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH-
Môn Địa Lý THPT năm 2014
1.1.5. Vai trò của kiểm tra đánh giá học sinh trong quá trình dạy và học
Muốn đổi mới căn bản toàn diện chương trình, SGK phổ thông từ năm 2015

quả kiểm tra đó để làm gì? Làm thế nào để GV cải tiến nâng cao chất lượng quá trình
dạy và học nếu không có đánh giá phản hồi từ học sinh.
(Theo Nguồn: ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ HỌC SINH PHỔ THÔNG THEO
CÁCH TIẾP CẬN NĂNG LỰC của PGS.TS. Nguyễn Công Khanh tại website:
<>)

1.2. THỰC TRẠNG TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
HIỆN NAY Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.2.1. Về người dạy:
Về kiểm tra, đánh giá trước đây chỉ ra đề theo kiểu tự luận, nội dung kiến
thức tuỳ thuộc vào người dạy nên chất lượng không đánh giá chính xác. Từ khi có sự
đổi mới về chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học cùng với việc
đổi mới kiểm tra, đánh giá thì chất lượng dần dần được nâng lên.
Tuy nhiên, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ
thông hiện nay còn phiến diện, chưa bám sát mục tiêu giáo dục, chưa đáp ứng yêu cầu
của đổi mới giáo dục phổ thông, cần được cải tiến và hoàn thiện.
Cụ thể có các vấn đề về kiểm tra, đánh giá của giáo viên còn có những hạn
chế sau:
- Sách giáo khoa viết theo lối mở, yêu cầu giáo viên phải cập nhật thông tin
và am hiểu về các quy luật địa lí, song nhiều giáo viên khi dạy thì rập khuôn máy
móc, giáo điều, chỉ liệt kê những kiến thức ở sách giáo khoa, không giải thích, mở
rộng, các kĩ năng về lược đồ, bản đồ, bảng số liệu, vẽ và phân tích biểu đồ thì làm qua
Trang 5
loa. Khi kiểm tra, đánh giá chỉ cho học sinh học thuộc những gì được ghi trong vở,
còn các kĩ năng, vận dụng thì không thực hiện được dẫn đến học sinh chỉ nắm kiến
thức một cách thụ động rập khuôn, máy móc mà không yêu cầu HS phát huy tính sáng
tạo. Vì vậy, khi học xong chương trình của bộ môn học sinh có kiến thức một cách
mù mờ.
- Nhiều GV đã mạnh dạn áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực chủ động của HS (như ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, chú ý,

nhận thức của phụ huynh) coi đây chỉ là những môn phụ, không chịu học nên kĩ năng
nhận biết, thông hiểu, vận dụng còn rất hạn chế.
Trang 6
1.2.3. Đối với các cấp quản lí:
Nhiều cán bộ QLGD vẫn còn xem nhẹ môn này, môn khác nên công tác
quản lí chỉ đạo còn lỏng lẻo. Trường nào mà hoạt động của tổ chuyên môn, giáo viên
tâm huyết, có trình độ và năng lực chuyên môn, dạy đúng bộ môn, ban giám hiệu có
năng lực chuyên môn tốt, nhận thức đúng, thường xuyên thanh tra, kiểm tra thì việc
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS càng có độ tin cậy cao, có tác dụng tốt, kích
thích được ý thức, thái độ học tập của HS và ngược lại
- Cho đến nay, giáo viên đã được tập huấn về kiểm tra, đánh giá theo năng
lực học sinh, bản thân tôi cũng đã làm một Sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới kiểm
tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong chương trình Địa lý tự nhiên khối 10
nên đề tài này là đề tài dựa trên đề tài cũ và phát triển thêm ở những nội dung sau:
+ Đề tài cũ làm trong phần Địa lý tự nhiên, đề tài này phát triển thêm ở phần Địa lý
dân cư.
+ Tập huấn “Kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh” của Sở
Giáo Dục& Đào Tạo Đồng Nai mới chỉ đưa ra vấn đề và là thử 1 số ví dụ minh họa.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi nghiên cứu đi sâu vào nội dung Địa lý dân cư
lớp 10.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Giải pháp 1: Tăng cường đánh giá trong quá trình giảng dạy trên lớp
1. Cách thức tổ chức thực hiện
 Phạm vi: Để việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được hiệu
quả, kích thích khả năng sáng tạo, chủ động học tập của học sinh, giáo viên nên tăng
cường kiểm tra trong quá trình giảng dạy trên lớp
 Đối tượng: học sinh lớp 10
 Công việc cụ thể:
o Nghiên cứu tài liệu
o Xác định những nội dung, phương pháp đánh giá trong quá trình giảng dạy trên lớp.

trọng tăng do hết hiện tượng buôn bán nô lệ.
- Tỉ trọng dân cư châu Âu giảm do di cư, tỉ suất gia tăng tự nhiên thấp.
- Tỉ trọng dân cư châu Mỹ và châu đại Dương tăng chủ yếu do nhập cư.
 Như vậy, qua phần này giáo viên hỏi lại các kiến thức về gia tăng tự nhiên, gia
tăng cơ học; đặc điểm của các nhóm nước về gia tăng tự nhiên…
Khi đơn vị kiến thức mới không hoặc ít liên quan đến kiến thức cũ nhưng khó
hoặc liên quan đến các vấn đề thực tiễn, giáo viên cũng có thể đặt vấn đề và yêu cầu
học sinh giải quyết. Với các câu hỏi khó, giáo viên có thể “treo điểm thưởng” cho học
sinh. Với hình thức này, học sinh sẽ rất chú ý đến vấn đề giáo viên đưa ra và tìm cách
giải quyết, qua đó sẽ chủ động trong việc học tập và tiếp thu kiến thức hiệu quả. Lâu
dần, sẽ tập cho học sinh thói quen chú ý trong bài học, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề
trong thực tiễn.
Ví dụ 1: Sau khi học về tỉ suất sinh thô, giáo viên có thể đặt vấn để cho học
sinh giải quyết: “Tại sao tỉ suất sinh thô của nhóm nước phát triển thấp, các nước
đang phát triển lại cao?”
Trang 8
Để giải quyết được câu này, học sinh cần suy nghĩ và tìm ra được sự khác biệt
về đặc điểm của 2 nhóm nước để rút ra được sự khác biệt dẫn đến sự khác nhau về tỉ
suất sinh thô của 2 nhóm nước khác nhau
Nhóm nước phát triển Nhóm nước đang phát triển
Trình
độ phát
triển
kinh tế-
xã hội
- Trình độ cao, phụ nữ đi
làm kinh tế nhiều  tác
động đến suy nghĩ của phụ
nữ: sinh ít con - Trình độ
y học tốt, trình độ người

Ví dụ 3: Sau khi học về cơ cấu dân số theo giới, giáo viên có thể đặt vấn để cho
học sinh giải quyết: “Hiện nay, Việt Nam đang bị mất cân bằng giới tính, em hãy cho
biết nguyên nhân, hậu quả, giải pháp.”
Đây là đơn vị kiến thức liên quan đến thực tiễn và xung quanh học sinh có thể
thấy rất nhiều. Qua việc phân tích vấn đề này, góp phần thay đổi suy nghĩ của các
em, thông qua đó các em sẽ có cái nhìn đúng đắn sau này với bản thân, gia đình hoặc
với cộng đồng.
Nguyên nhân làm Việt Nam đang bị mất cân bằng giới tính là do: tư tưởng
“trọng nam khinh nữ”; do trình độ của dân cư đang được nâng cao nên họ đang áp
dụng khoa học vào việc lựa chọn giới tính; do chính sách của nhà nước chưa triệt để
Trang 9
(chủ yếu công nhân viên chức mới bị quy định chính sách sinh 2 con, siêu âm giới
tính thai nhi bị cấm nhưng không hiệu quả).
Hậu quả: Nhiều vấn đề nan giải trong thời gian tới: nam khó lấy vợ, cưỡng
hiếp, buôn bán- bắt cóc phụ nữ
Giải pháp: Tuyên truyền cho người dân hiểu rõ; thực hiện triệt để các chính
sách của nhà nước
3. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp của tác giả đã thực hiện so với
giải pháp đã có.
Trước đây, giáo viên thường kiểm tra bài cũ vào đầu mỗi tiết dạy, sau khi áp
dụng phương pháp này tôi thấy có nhiều ưu điểm như sau:
- Tránh gây áp lực cho học sinh trong đầu tiết, tạo không khí học tập sôi nổi,
hứng thú hơn.
- Học sinh chú ý nghe giảng bài và hợp tác với giáo viên hơn trong việc tiếp thu
bài mới.
- Có sự hợp tác với bạn bè, giáo viên trong khi giải quyết tình huống có vấn đề
- Kiến thức sâu hơn và nhớ lâu hơn.
Giải pháp 2: Đổi mới hình thức, phương pháp trong kiểm tra đánh giá
1. Cách thức tổ chức thực hiện
 Phạm vi: Sử dụng đa dạng các phương pháp trong kiểm tra, đánh giá.

2. Nhận xét tỉ suất sinh thô của
thế giới, các nước phát triển và đang
phát triển thời kì 1950-2005?
3. Giải thích tại sao tỉ suất sinh thô
của thế giới và 2 nhóm nước đều giảm
4. Giải thích tại sao tỉ suất sinh thô
của nhóm nước phát triển thấp hơn
nhóm nước đang phát triển
Ví dụ 2: Để kiểm tra phần tỉ suất tử thô,
giáo viên cho học sinh xem hình 2 và
đưa ra hệ thống câu hỏi:
1.
Thế nào
là tỉ suất
tử thô.
Viết công
thức tình
tỉ suất tử
thô. Các
nhân tố
ảnh
hưởng
tới tỉ suất
tử thô.
2. Nhận xét tỉ suất tử thô của thế giới, các nước phát triển và đang phát triển
thời kì 1950-2005?
Trang 11
Hình 4: Các kiểu tháp dân số
Hình 5: Tỉ lệ dân thành thị trên thế giới, thời kì 2000-2005
Hình 6: Phân bố dân cư thế giới, năm 2000

1. Hình dạng của tháp (ở đáy,
đỉnh và các cạnh)

rút ra tỉ suất
sinh, tuổi thọ trung bình
2. Tỉ lệ nam và nữ ở từng tháp
tuổi
3. Việt Nam có dạng tháp dân
số nào?
Trang 12
4. Thuận lợi và khó khăn của từng loại dân cơ cấu dân số
Ví dụ 4: Để kiểm tra phần đô thị hóa, giáo viên cho học sinh xem hình 5 và đưa ra hệ
thống câu hỏi
1. Quan sát bản đồ, xác định các quốc gia (vùng lãnh thổ) có tỉ lệ dân thành thị
cao >= 3%, <=0
2. Việt Nam có tỉ lệ dân thành thị là bao nhiêu?
3. Theo em, tại sao các nước Bắc Mĩ, Tây Âu, Ôxtrâylia có tỉ lệ dân thành thị
cao?
Ví dụ 4: Để kiểm tra phần phân bố dân cư thế giới, giáo viên cho học sinh xem hình 6
và đưa ra hệ thống câu hỏi:
1. Quan sát bản đồ, xác định các quốc gia (vùng lãnh thổ) có mật độ dân số cao
>= 200người/Km
2
, <= 10 người/Km
2
. Tại sao có sự phân bố không đồng đều như
vậy?
2. Việt Nam có mật độ dân số là bao nhiêu?
3. Theo em, tại sao các nước Bắc Mĩ, Tây Âu, Ôxtrâylia có tỉ lệ dân thành thị
cao?

Ngoài ra, giáo viên cũng có thể cung cấp sơ đồ 1 để kiểm tra phần ảnh hưởng
của dân số đến môi trường thiên nhiên
Trang 14
Hình 11: Tư tưởng trọng nam khinh nữ
Nguồn:<hIp://www.songtre.tv/news
Hình 9: Mất cân bằng giới Znh ở Việt Nam
Nguồn:hIp://www.t4ghcm.org.vn
Hình 10: Poster tuyên truyền
Nguồn: hIp://baoquangninh.com.vn
Ví dụ 2: Để kiểm tra phần “cơ cấu dân số theo giới” trong bài 23- Cơ cấu dân
số, giáo viên cho học sinh xem hình 9 hoặc hình 10 và yêu cầu học sinh quan sát, rút
ra nội dung của 2 hình ảnh, từ đó rút ra nguyên nhân, hậu quả, giải pháp.
Ví dụ 3: Để kiểm tra phần “Các nhân tố
ảnh hưởng tới tỉ suất sinh thô” trong bài 22- Dân số và sự gia tăng dân số, giáo viên
cho học sinh xem hình 11 và yêu cầu học
sinh quan sát, sau đó đưa ra hệ thống cau
hỏi:
1. Quan sát hình ảnh, em hãy cho biết nội
dung hình ảnh phản ánh điều gì?
 Khi được quan sát hình ảnh này, học
sinh phải thấy được trong 2 em bé,
bé trai được cha quan tâm nhiều hơn.
2. Hiện tượng này thường xảy ra ở nhóm
nước nào?
 Hiện tượng này thường xảy ra ở
nhóm nước đang phát triển và theo
chế độ phong kiến- chịu ảnh hưởng
của tư tưởng nho giáo
3. Vậy em hãy cho biết nhóm nước nào có
tỉ suất sinh thô thấp, nhóm nước nào

giữa nông thôn và thành thị là 8,4 điểm phần trăm, đến năm 1999, sự khác biệt này
được giảm xuống 6,1 điểm phần trăm. Từ năm 1999 đến nay, mặc dù tỷ lệ biết đọc
biết viết của cả nông thôn và thành thị đều tăng lên đáng kể, tuy nhiên khoảng cách
giữa nông thôn và thành thị không giảm mạnh như giai đoạn từ năm 1989 đến năm
1999.
2.2. Sử dụng bài tập tính toán để kiểm tra
Bài tập 1: (bài tập 1 SGK trang 86)
Giả sử tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên của Ấn Độ là 2% và không thay đổi
trong thời kì 1995-2000
Hãy trình bày cách tính và điền kết quả vào bảng số liệu dân số của Ấn Độ theo
mẫu dưới đây:
Trang 16
Năm 1995 1997 1998 1999 2000
Dân số
(triệu
người)
? ? 975 ? ?
Giải
Công thức: P
t
=P
0
(1+a)
n
Trong đó: P
t
-Dân số năm sau
P
0
- Dân số năm trước

Ta có công thức tính tỉ suất tử thô:
t 499.800
T(%o) = x 1000 = x1000 = 6%o
Dtb 83.3x 1.000.000
Trong đó: T(%o) -Tỉ suất tử thô (đơn vị tính là phần ngàn)
S -Số người chết
Dtb - Số dân trung bình cùng thời điểm
Ta có công thức tính tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên:
S(%o) - T(%o) 19-6
GTTN(%) = = = 1.3 %
10 10
Trong đó: S(%o) -Tỉ suất sinh thô (đơn vị tính là phần ngàn)
T(%o) -Tỉ suất tử thô (đơn vị tính là phần ngàn)
GTTN (%) - Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên (đơn vị tính là phần
trăm)
Bài tập 3: (bài tập 3 sgk trang 97)
Cho BSL sau:
DIỆN TÍCH, DÂN SỐ THẾ GIỚI VÀ CÁC CHÂU LỤC NĂM 2005
Châu lục Diện tích (triệu
Km
2
)
Dân số (triệu
người)
Châu Phi 30.3 906
Châu Mĩ 42.0 888
Châu Á (trừ Liên Bang Nga) 31.8 3920
Châu Âu (kể cả Liên Bang Nga) 23 730
Châu Đại Dương 8.5 33
Toàn thế giới 135.6 6477

2
) của các vùng kinh tế trên?
b. Giải thích tại sao vùng Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao, vùng Tây
Nguyên có mật độ dân số thấp?
Giải
Vùng Mật độ dân số (người/Km
2
)
Đồng bằng Sông Hồng 1213
Trung du và miền núi Bắc Bộ 119
Tây Nguyên 90
b. Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao vì:
- Có vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thuận lợi
- Kinh tế xã hội phát triển
- Lịch sử định cư lâu đời
Còn vùng Tây Nguyên thì ngược lại:
- Có vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ít thuận lợi
- Kinh tế xã hội chậm phát triển
Trang 19
- Lịch sử định cư không lâu đời.
2.3. Sử dụng câu hỏi định hướng năng lực và gắn với thực tiễn
“Định hướng chung của việc đổi mới ra đề thi theo hướng các đề thi dần dần sẽ
dành một thời lượng đáng kể và dành một khối lượng đáng kể cho những câu hỏi
đánh giá năng lực của người học để tránh học sinh học tủ/luyện thi. Đặc biệt là đề thi
tuyển sinh ĐH, người ta có xu hướng bám các chương trình lớp 11, 12 chủ yếu là lớp
12 nhưng phải phổ được trên diện rộng để học sinh bớt học tủ. Đó là xu hướng thiết
kế các đề thi trắc nghiệm. Nhưng đồng thời người ta cũng phải dành một khối lượng
tri thức không liên quan trực tiếp đến một chương cụ thể nào trong sách giáo khoa, mà
liên quan đến trải nghiệm của người học dưới góc độ tư duy, để gia tăng mức độ phân
hóa trong quá trình đánh giá. Ví dụ đó là những năng lực suy luận, năng lực sáng tạo.

bé trai khi trưởng thành sẽ không lấy được vợ, giống như tình trạng của Trung Quốc.
Nguy cơ này có thể dẫn đến sự bất ổn xã hội như: ẩu đả, hiếp dâm, buôn bán phụ nữ
qua biên giới… tăng lên.
Nguồn: < />thuc.html>
1. Đoạn văn trên miêu tả về hiện tượng gì?
 Hiện tượng mất cân bằng giới tính
2. Hiện nay, trên thế giới có có nước nào có hiện tượng này không? ảnh hưởng đến
Việt Nam?
 Hiện nay, trên thế giới có các nước đang phát triển thuộc châu Á như: Trung
Quốc, Hàn Quốc…có hiện tượng này. Nhiều đàn ông ở những quốc gia trên
sang các quốc gia láng giềng kiếm vợ trong đó có Việt Nam.
3. Là con gái Việt Nam, em có muốn lấy chồng nước ngoài trong trường hợp này
không? Tại sao?
 Đây là một vấn đề giáo viên nhất thiết đề cập đến vì khu vực Bàu Hàm có tỉ
lệ con gái lấy chồng nước ngoài khá nhiều. Do đó, cần nói cho học sinh biết
nguyên nhân của thực trạng này để học sinh cân nhắc khi quyết định sau
này. Đôi khi, giáo viên cần đưa thêm thực trạng các cô dâu Việt ở nước
ngoài để học sinh thấy được mặt trái nêu được nguyên nhân của vấn đề qua
đoạn văn sau:
Vỡ mộng đổi đời nơi đất khách
“Đề cập thực trạng phụ nữ Cần Thơ lấy chồng Hàn Quốc, bà Huỳnh Thanh
Thảo cho biết, đa số các cuộc hôn nhân không xây dựng trên tình yêu chân chính mà
chủ yếu là qua mai mối. Thực tế, theo bà Thảo, đã có nhiều đám cưới tổ chức chớp
nhoáng để hợp thức hóa cuộc hôn nhân. Nhiều cô gái mù quáng, liều thân, mặc cho
đường dây môi giới run rủi thế nào vẫn cam chịu. Đến khi qua xứ người, nhiều cô
mới vỡ lẽ ra rằng chồng, gia đình chồng thực tế không như bức tranh tươi đẹp được
vẽ vời qua miệng lưỡi của các “bà mai”. Từ đây, họ lâm vào bi kịch vỡ mộng đổi đời
nơi đất khách.
Điển hình như chị T.N.H (29 tuổi, quê ở xã Trường Xuân, huyện Thới Lai).
Chị H lấy chồng ngoại từ năm 23 tuổi nhưng chỉ sống cùng gia đình chồng được 2

động, giáo viên cho học sinh đọc đoạn văn dưới và trả lời các câu hỏi sau đây:
“Dân số của một quốc gia đạt cơ cấu “dân số vàng” khi tỷ số phụ thuộc chung
nhỏ hơn 50%, hay nói cách khác có trên 2 người trong độ tuổi lao động trên 1 người
trong độ tuổi phụ thuộc.
Bắt đầu từ năm 2007, với tỷ số phụ thuộc chung (nhóm dân số 0-14 tuổi và
nhóm dân số trên 65 tuổi tính trên nhóm dân số 15-64) dưới 50%, Việt Nam chính
thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”. Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa
gia đình, giai đoạn này chỉ xuất hiện một lần và thời gian kéo dài hay ngắn phụ thuộc
vào việc điều chỉnh mức sinh. Hiện nay, mức sinh ở Việt Nam đã giảm nhanh. Năm
2006, Việt Nam đã đạt và duy trì mức sinh thay thế (tổng tỷ suất sinh 2,1 con) và từ
đó đến nay, mức sinh luôn dưới mức sinh thay thế.”
Nguồn:
1. Trên thế giới người ta thường chia dân số thành những nhóm tuổi nào?
Trang 22
2. Đọc đoạn văn ở trên, em hãy cho biết thế nào là “dân số vàng”. Theo em tại sao
giai đoạn “dân số vàng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn.
3. Cơ cấu dân số vàng có những thuận lợi và khó khăn gì, em hãy rút ra giải
pháp?
Thuận lợi:
- Lực lượng lao động trẻ, dồi dào và tiếp tục tăng sẽ là nguồn lực quan trọng cho việc
phát triển kinh tế
- Cơ hội để cải thiện sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản cho thanh niên, vị thành
niên, sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Cơ cấu “dân số vàng” tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh
xã hội, y tế, giáo dục, việc làm trong tương lai.
- Dân số dưới 15 tuổi giảm mạnh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thông qua
việc giảm tỷ số giữa học sinh và giáo viên, qua đó nâng cao chất lượng chăm sóc y tế
cho trẻ em, cải thiện chất lượng sức khỏe dân số tương lai.
- Cơ cấu “dân số vàng” tạo động lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần xóa đói giảm
nghèo nhanh và bền vững.

- Sinh con nhiều thì phụ nữ sẽ
xấu đi
- Sinh 2 con hay 3 con thì không xấu thêm nhiều
- Cô là công nhân viên chức, nhà
nước quy định chỉ được có 2 con
- Nếu cô vi phạm, chỉ bị chậm nâng lương, nhiều
nhất là thuyên chuyển công tác, cái này cô chấp
nhận được
- Không chắc chắn đứa con thứ
3 là con gái
- Thời nay, với trình độ y học tạo nhiều thuận lợi
cho việc lựa chọn giới tính, nếu vẫn là con gái thì
chấp nhận.
- Nếu cô sinh con trai, theo hiện
trạng của Việt Nam đang là mất
cân bằng giới tính nên sau này
con cô khó lấy vợ
- Cô chỉ có 1 con trai, cô nghĩ cô sẽ đầu tư và
giáo dục được con trai mình nên không sợ ế vợ,
con gái không nhất thiết phải đầu tư nhiều
Thông qua nội dung này, tôi đã đặt mình vào tư tưởng của phần lớn phụ nữ
Việt Nam, các em cũng thấy được nguyên nhân của vấn đề. Cuối cùng tôi đúc kết,
quan niệm sinh con nhiều hay ít, trai hay gái chịu ảnh hưởng của tư tưởng, quan niệm
rất nhiều. Muốn thực hiện tốt chính sách dân số cần làm cho người dân hiểu vấn đề
một cách sâu sắc, qua đó tự giác chấp nhận quy định của Nhà nước.
3. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp của tác giả đã thực hiện so với
giải pháp đã có.
Với sáng kiến kinh nghiệm “Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh trong chương trình địa lý tự nhiên khối 10” của bản thân trong năm học
2013-2014 và , thì sáng kiến này có phát triển thêm ở nhưng nội dung sau:

để đáp ứng các kỳ thi, điều này làm cho quá trình dạy học bị bóp méo chỉ để phục vụ
mục đích thi cử, nên mới xảy ra hiện tượng mọi học sinh “muốn thi đỗ phải đến lớp
luyện thi” nhưng thi xong chẳng còn nhớ gì hết."
(Theo Nguồn: ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ HỌC SINH PHỔ THÔNG THEO
CÁCH TIẾP CẬN NĂNG LỰC của PGS.TS. Nguyễn Công Khanh tại website
<>)
Do đó, giáo viên cần tăng cường sửa bài cho học sinh, quá trình này cần thực
hiện thường xuyên. Trong quá trình thực hiện tôi thường sửa bài cho học sinh trong
những trường hợp sau
- Khi học sinh làm bài thực hành, sau khi hướng dẫn học sinh làm bài, tôi sẽ đi vòng
quanh lớp để kiểm tra việc làm bài thực hành của các em. Như vậy, tôi sẽ phát
hiện những lỗi sai của học sinh và sửa bài trực tiếp cho các em.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status