Sáng kiến kinh nghiệm:
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TRONG CHƯƠNG ĐỊA LÍ DÂN CƯ- KHỐI 10
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học và có vai trò hết
sức quan trọng, bởi nó không chỉ phản ánh kết quả dạy học của cả giáo viên, học sinh
phương pháp dạy học tích cực
Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá là hai hoạt động
có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
là một trong những khâu then chốt của quá trình đổi mới giáo dục phổ thông. Đổi mới
kiểm tra, đánh giá tạo động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần
nâng cao chất lượng, đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động,
sáng tạo, có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng
thì việc đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng
đã học mà phải khuyến khích trí thông minh sáng tạo, khả năng tư duy, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn của học sinh.
Đồng thời, nội dung kiểm tra đánh giá ở chương trình Địa Lí 12 và tốt
nghiệp trung học phổ thông có nội dung về kĩ năng, vận dụng chiếm phần lớn số
điểm (khoảng 70-75%). Trong khi đó, từ trước đến nay, học sinh lớp 10 và 11 lại
thường được đánh giá về nội dung kiến thức là chủ yếu (khoảng 70%)(Theo thực tế
tại đơn vị).
Tôi thiết nghĩ, chúng ta cần đổi mới cách kiểm tra, đánh giá ở 2 khối 10 và
11 theo hướng thích ứng với yêu cầu của xã hội và rèn luyện để các em có thể làm bài
thi tốt nghiệp thật tốt trong những năm sau. Trong năm học 2013-2014 tôi đã thực
hiện đề tài “Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong chương
trình địa lý tự nhiên khối 10” , năm nay, tôi cố gắng phát triển đề tài của mình và để
thích ứng với yêu cầu của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Sở Giáo Dục & Đào Tạo Đồng
Nai về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh.
Chính vì những lí do trên, tôi đã thực hiện chuyên đề mang tên: “KIỂM
Quá trình đo lường
Quá trình đánh giá
Quá trình kiểm tra
Quá trình đo lường
Quá trình đánh giá
Quá trình kiểm tra
Trang 2
- Tình huống 1: Đánh giá không có đo lường và kiểm tra
- Tình huống 2: Đánh giá có đo lường
- Tình huống 3: Kiểm tra- đánh giá
Đánh giá năng lực: là đánh giá khả năng thực hiện một công việc cụ thể
dựa trên việc kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với yêu cầu sản
phẩm đầu ra của quá trình giáo dục.
MỘT SỐ ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA ĐÁNH GIÁ TIẾP CẬN NỘI
DUNG VÀ ĐÁNH GIÁ TIẾP CẬN NĂNG LỰC
STT
1
2
3
Đánh giá theo hướng tiếp
cận nội dung
Các bài thi trên giấy được thực
hiện vào cuối một chủ đề, một
chương, một học kì
Nhấn mạnh sự cạnh tranh
sản phẩm để nhận xét.
Tập trung vào năng lực thực tế
và sáng tạo.
Giáo viên và học sinh chủ
động trong đánh giá, khuyến
khích tự đánh giá và đánh giá
chéo của học sinh.
1.1.2. Mục tiêu của kiểm tra, đánh giá
Đối với học sinh:
- Cung cấp những thông tin phản hồi về quá trình học tập, từ đó điều chỉnh
hoạt động học tập của học sinh.
Trang 3
- Xác nhận kết quả của người học
- Phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động của người học.
Đối với giáo viên:
- Biết được trình độ chung của người học, những học sinh tiến bộ, những học
sinh sút kém để có thể động viên, giúp đỡ kịp thời.
- Kết quả giúp giáo viên xem xét và điều chỉnh lại phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học hiện hành
Đối với cán bộ quản lý nhà trường: Giúp nhà quản lí có động thái uốn
nắn, điều chỉnh, động viên, khuyến khích kịp thời đối với giáo viên và
học sinh.
1.1.3. So sánh quan điểm đánh giá cũ và mới
Quan điểm cũ về đánh giá
Đánh giá tổng kết thường được coi
là loại đánh giá chủ yếu và duy nhất
Trang 4
Nguồn: Tài liệu tập huấn DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINHMôn Địa Lý THPT năm 2014
1.1.5. Vai trò của kiểm tra đánh giá học sinh trong quá trình dạy và học
Muốn đổi mới căn bản toàn diện chương trình, SGK phổ thông từ năm 2015
theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, thì “mắt xích” cần phải tập trung, nỗ lực nhiều nhất,
đầu tư nhiều thời gian, trí tuệ, tiền bạc nhất chính là khâu đổi mới cách thức kiểm tra
đánh giá học sinh. Trước hết chúng ta phải hiểu kiểm tra đánh là bộ phận không thể
tách rời của quá trình dạy học bởi đối với người giáo viên, khi tiến hành quá trình dạy
học phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ
thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho hiệu quả. Muốn biết có hiệu quả hay không,
người giáo viên phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó
điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ thuật dạy của mình và giúp học sinh điều chỉnh các
phương pháp học. Như vậy, kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá
trình dạy học và có thể nói kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá
trình dạy và học.
Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi
mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới
quản lý…. Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình,
giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn
rất nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học
đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự
tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng sẽ làm được”… Điều này vô cùng
quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trong tương lai.
Tại sao người ta nói kiểm tra đánh giá rất quan trọng và kiểm tra đánh giá thế
nào thì việc dạy học sẽ bị lái theo cái đó. Nếu chúng ta chỉ tập trung đánh giá kết quả
như một sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy và học, thì học sinh chỉ tập trung vào
những gì giáo viên ôn và tập trung vào những trọng tâm GV nhấn mạnh, thậm chí
loa. Khi kiểm tra, đánh giá chỉ cho học sinh học thuộc những gì được ghi trong vở,
còn các kĩ năng, vận dụng thì không thực hiện được dẫn đến học sinh chỉ nắm kiến
thức một cách thụ động rập khuôn, máy móc mà không yêu cầu HS phát huy tính sáng
tạo. Vì vậy, khi học xong chương trình của bộ môn học sinh có kiến thức một cách mù
mờ.
- Nhiều GV đã mạnh dạn áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực chủ động của HS (như ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, chú ý,
chịu khó sử dụng thiết bị - đồ dùng dạy học để rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS song
khi kiểm tra, đánh giá lại yêu cầu HS học thuộc lòng và ghi nhớ máy móc...
- Việc ra đề kiểm tra từ kiểm tra miệng, 15 phút, 45 phút và học kì, nhiều
giáo viên chỉ đặt những câu hỏi mang tính chất nhận biết, hiểu, không có tính phân
loại HS, các kĩ năng phân tích, vận dụng thì ít được thực hiện, nên học sinh học một
cách máy móc. Do đó gặp những đề kiểm tra học kì (đề chung toàn tỉnh), có hướng
phân tích, suy luận logic, giáo viên được phân công coi thi chặt chẽ thì HS khá giỏi
làm khá tốt, còn HS yếu kém thì mang tính may rủi khi chọn câu đúng trong thi trắc
nghiệm khách quan, còn tự luận thì làm qua loa, đại khái. Vì vậy, dẫn đến không có
HS yêu thích bộ môn Địa lí.
- Đa phần giáo viên chưa đa dạng hóa các kiểu đánh giá, điều này sẽ làm
cho hoạt động học tập trở nên nhàm chán, sẽ khó phát triển các năng lực bậc cao ở
người học (như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo…). Trong khi đó,
yêu cầu của đổi mới kiểm tra đánh giá là phải áp dụng đa dạng các hình thức đánh
Trang 6
giá: đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận, vấn đáp… đánh giá
thông qua sản phẩm, qua hồ sơ học sinh, qua thuyết trình/trình bày, thông qua tương
tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các tình huống bài tập,
các hình thức tiểu luận, …, thì giáo viên chưa làm được hoặc có thì cũng rất hạn chế
- Bên cạnh những hạn chế trên, vẫn có nhiều giáo viên rất tâm huyết với bộ
môn, song kinh nghiệm còn ít, vốn kiến thức tích luỹ chưa nhiều nhưng đã cố gắng
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Giải pháp 1: Tăng cường đánh giá trong quá trình giảng dạy trên lớp
Trang 7
1. Cách thức tổ chức thực hiện
Phạm vi: Để việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được hiệu
quả, kích thích khả năng sáng tạo, chủ động học tập của học sinh, giáo viên nên tăng
cường kiểm tra trong quá trình giảng dạy trên lớp
Đối tượng: học sinh lớp 10
Công việc cụ thể:
o Nghiên cứu tài liệu
o Xác định những nội dung, phương pháp đánh giá trong quá trình giảng dạy trên lớp.
o Tiến hành thực hiện
o So sánh kết quả thực hiện
Thời gian thực hiện: Bắt đầu từ Học kì 1 năm học 2014-2015, sau đó theo dõi, so
sánh, hoàn tất đề tài vào tháng 5 năm 2015.
2. Dữ liệu minh chứng quá trình thực nghiệm, đối chứng giải pháp đã
thưc hiện
Trước đây, kiểm tra miệng thường được giáo viên thực hiện đầu tiết dạy, với
hình thức này, thông thường rất gây áp lực cho học sinh. Nếu phần kiểm tra miệng
thuận lợi (học sinh học bài, trả lời được các nội dung yêu cầu của giáo viên) thì nội
dung bài học sẽ ít ảnh hưởng. Tuy nhiên, có những trường hợp khi học sinh không
học bài sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lí của giáo viên và học sinh, gây không khí căng
thẳng cho tiết dạy. Kiểm tra miệng cũng được khuyến khích thực hiện trong nội dung
bài dạy nhưng trên thực tế ít khi được giáo viên áp dụng.
Với việc kiểm tra, đánh giá học sinh theo định hướng năng lực, giáo viên nên
tăng cường kiểm tra trong bài dạy của mình với mục đích:
- Khi kiến thức bài mới liên quan đến bài cũ, giáo viên khơi gợi và học sinh sẽ
đang phát triển lại cao?”
Để giải quyết được câu này, học sinh cần suy nghĩ và tìm ra được sự khác biệt
về đặc điểm của 2 nhóm nước để rút ra được sự khác biệt dẫn đến sự khác nhau về tỉ
suất sinh thô của 2 nhóm nước khác nhau
Nhóm nước phát triển
Trình độ - Trình độ cao, phụ nữ đi
phát
làm kinh tế nhiều tác
triển
động đến suy nghĩ của phụ
kinh tế- nữ: sinh ít con - Trình độ
xã hội
y học tốt, trình độ người
dân cao thực hiện các
biện pháp kế hoạch hóa
gia đình hiệu quả
Tư
tưởng
- Không mang nặng tư
tưởng nho giáo
Nhóm nước đang phát triển
- Trình độ chưa cao, phụ nữ ít đi làm kinh
tế nên ít ngại việc có con ảnh hưởng tới sự
nghiệp sinh con nhiều. - Trình độ y học
chưa tốt, trình độ người dân chưa cao
thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia
đình chưa thực sự hiệu quả. - Nền nông
nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế
(chủ yếu công nhân viên chức mới bị quy định chính sách sinh 2 con, siêu âm giới
tính thai nhi bị cấm nhưng không hiệu quả).
Hậu quả: Nhiều vấn đề nan giải trong thời gian tới: nam khó lấy vợ, cưỡng
hiếp, buôn bán- bắt cóc phụ nữ...
Giải pháp: Tuyên truyền cho người dân hiểu rõ; thực hiện triệt để các chính
sách của nhà nước...
3. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp của tác giả đã thực hiện so với
giải pháp đã có.
Trước đây, giáo viên thường kiểm tra bài cũ vào đầu mỗi tiết dạy, sau khi áp
dụng phương pháp này tôi thấy có nhiều ưu điểm như sau:
- Tránh gây áp lực cho học sinh trong đầu tiết, tạo không khí học tập sôi nổi,
hứng thú hơn.
- Học sinh chú ý nghe giảng bài và hợp tác với giáo viên hơn trong việc tiếp thu
bài mới.
- Có sự hợp tác với bạn bè, giáo viên trong khi giải quyết tình huống có vấn đề
- Kiến thức sâu hơn và nhớ lâu hơn.
Trang 10
Giải pháp 2: Đổi mới hình thức, phương pháp trong kiểm tra đánh giá
1. Cách thức tổ chức thực hiện
Phạm vi: Sử dụng đa dạng các phương pháp trong kiểm tra, đánh giá.
Đối tượng: học sinh lớp 10
Công việc cụ thể:
o Nghiên cứu tài liệu
o Xác định những nội dung, hình thức kiểm tra, đánh giá mới
o Tiến hành thực hiện
o So sánh kết quả thực hiện
Thời gian thực hiện: Bắt đầu từ Học kì 1 năm học 2014-2015, sau đó theo dõi, so
sánh, hoàn tất đề tài vào tháng 5 năm 2015.
4.
Giải thích tại sao tỉ suất sinh thô của nhóm nước phát triển thấp hơn nhóm
nước đang phát triển
Ví dụ 2: Để kiểm tra phần tỉ suất tử thô, giáo viên cho học sinh xem hình 2 và đưa ra
hệ thống câu hỏi:
Hình 3: Lược đồ gia tăng tự nhiên dân số
thế giới hàng năm, thời kì 2000-2005 (%)
1.
Thế nào là tỉ suất tử thô. Viết công thức tình tỉ suất tử thô. Các nhân tố ảnh
hưởng tới tỉ suất tử thô.
Trang 12
2.
Nhận xét tỉ suất tử thô của thế giới, các nước phát triển và đang phát triển
thời kì 1950-2005?
3.
Giải thích tại sao tỉ suất tử thô của thế giới và 2 nhóm nước đều giảm
4.
Giải thích tại sao tỉ suất tử thô của nhóm nước phát triển trong giai đoạn 19501990 thấp hơn nhóm nước đang phát triển nhưng giai đoạn 1995-2005 lại cao hơn.
Hình 4: Các kiểu tháp dân số
Ví dụ 3: Để kiểm tra phần gia tăng dân số tự nhiên, giáo viên cho học sinh xem hình
3 và đưa ra hệ thống câu hỏi:
Hình 5: Tỉ lệ dân thành thị trên thế
giới, thời kì 2000-2005
Việt Nam có dạng tháp dân số nào?
4.
Thuận lợi và khó khăn của từng loại dân cơ cấu dân số
Ví dụ 4: Để kiểm tra phần đô thị hóa, giáo viên cho học sinh xem hình 5 và đưa ra hệ
thống câu hỏi
1.
Quan sát bản đồ, xác định các quốc gia (vùng lãnh thổ) có tỉ lệ dân thành thị
cao >= 3%, = 200người/Km2,
Hình 7: Sức ép của dân số
Nguồn: >
Hình 8: Sức ép của dân số
Nguồn:
Trang 16
Sơ đồ 1:
môi trường thiên nhiên
Dân số tăng gây sức ép trên
Nguồn:>
Ngoài ra, giáo viên cũng có thể cung cấp sơ đồ 1 để kiểm tra phần ảnh hưởng
của dân số đến môi trường thiên nhiên
Ví dụ 2: Để kiểm tra phần “cơ cấu dân số theo giới” trong bài 23- Cơ cấu dân
số, giáo viên cho học sinh xem hình 9 hoặc hình 10 và yêu cầu học sinh quan sát, rút
ra nội dung của 2 hình ảnh, từ đó rút ra nguyên nhân, hậu quả, giải pháp.
Trang 17
Hình 11: Tư tưởng trọng nam khinh nữ
Nguồn:< />
Hình 9: Mất cân bằng giới tính ở Việt Nam
Chung
Nam
Nữ
Thành thị
Nông thôn
Năm 1989
87.3
92,7
82,7
93,8
85,4
Năm 1999
90,3
94
86,9
94,8
88,7
Năm 2009
93,5
95,8
91,4
97
92
Nguồn: TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở VIỆT NAM 2009
Đáp án
Năm 2009, tỷ lệ biết đọc biết viết của nam giới là 95,8% và của nữ là 91,4%. số
?
1997
?
1998
975
1999
?
2000
?
Giải
Pt=P0(1+a)n
Công thức:
Trong đó: Pt
-Dân số năm sau
P0
- Dân số năm trước
a
- Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên (lưu ý ví dụ a=2%
Ta cũng có kết quả như trên nhưng nếu tính khoảng cách năm lớn hơn 1 thì ta
phải tính từng năm cho đến khi đến năm đề bài yêu cầu, cụ thể với bài tập trên, chúng
ta phải tính tất cả các năm từ năm 1995 đến 2000 như sau:
Năm
1995
Dân số (triệu 918.8
người)
1996
937.2
1997
955.9
1998
975
1999
994.5
2000
1014.4
Bài tập 2: Tính tỉ suất sinh thô và tỉ suất tử thô, tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên
của Việt Nam năm 2005 biết trong năm đó số trẻ em sinh ra là 1.582.700 và số người
tử vong là 499800, tổng số dân là 83.3 triệu người
Giải
Ta có công thức tính tỉ suất sinh thô:
s
Dtb
Trong đó:
x1000 = 6%o
83.3x 1.000.000
T(%o)
-Tỉ suất tử thô (đơn vị tính là phần ngàn)
S
-Số người chết
Dtb
- Số dân trung bình cùng thời điểm
Ta có công thức tính tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên:
S(%o) - T(%o)
GTTN(%) =
=
10
Trong đó:
19-6
=
42.0
31.8
23
8.5
135.6
Dân số (triệu
người)
906
888
3920
730
33
6477
Công thức tính mật độ dân số
Số dân (người)
(đơn vị: người/ Km2)
MĐDS =
Diện tích (Km2)
Vận dụng tính ta có kết quả
Châu lục
Châu Phi
Châu Mĩ
Châu Á (trừ Liên Bang Nga)
Châu Âu (kể cả Liên Bang Nga)
Châu Đại Dương
Toàn thế giới
a. Tính mật độ dân số (Đơn vị tính: người/km2) của các vùng kinh tế trên?
b. Giải thích tại sao vùng Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao, vùng Tây
Nguyên có mật độ dân số thấp?
Giải
Vùng
Đồng bằng Sông Hồng
Trung du và miền núi Bắc Bộ
Tây Nguyên
Mật độ dân số (người/Km2)
1213
119
90
b. Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao vì:
- Có vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thuận lợi
- Kinh tế xã hội phát triển
- Lịch sử định cư lâu đời
Còn vùng Tây Nguyên thì ngược lại:
- Có vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ít thuận lợi
- Kinh tế xã hội chậm phát triển
- Lịch sử định cư không lâu đời.
2.3. Sử dụng câu hỏi định hướng năng lực và gắn với thực tiễn
“Định hướng chung của việc đổi mới ra đề thi theo hướng các đề thi dần dần sẽ
dành một thời lượng đáng kể và dành một khối lượng đáng kể cho những câu hỏi
đánh giá năng lực của người học để tránh học sinh học tủ/luyện thi. Đặc biệt là đề thi
tuyển sinh ĐH, người ta có xu hướng bám các chương trình lớp 11, 12 chủ yếu là lớp
12 nhưng phải phổ được trên diện rộng để học sinh bớt học tủ. Đó là xu hướng thiết
kế các đề thi trắc nghiệm. Nhưng đồng thời người ta cũng phải dành một khối lượng
dạy cho tốt đã góp phần hạn chế mức sinh, nhưng lại làm cho các gia đình phải cân
nhắc, lựa chọn giới tính thai nhi để sinh bằng được con trai. Hệ quả là, khoảng cách
tỷ lệ giới tính (số trẻ em trai/trẻ em gái) ở nước ta ngày càng tăng cao. Cụ thể, năm
2000, tỷ lệ này mới ở mức bình thường là 106/100, thì đến cuối năm 2007 đã lên đến
mức báo động là 126/100. Thực tế này không bao lâu nữa sẽ dẫn đến tình trạng nhiều
bé trai khi trưởng thành sẽ không lấy được vợ, giống như tình trạng của Trung Quốc.
Nguy cơ này có thể dẫn đến sự bất ổn xã hội như: ẩu đả, hiếp dâm, buôn bán phụ nữ
qua biên giới… tăng lên.
Nguồn: < />1. Đoạn văn trên miêu tả về hiện tượng gì?
Hiện tượng mất cân bằng giới tính
2. Hiện nay, trên thế giới có có nước nào có hiện tượng này không? ảnh hưởng đến
Việt Nam?
Hiện nay, trên thế giới có các nước đang phát triển thuộc châu Á như: Trung
Quốc, Hàn Quốc…có hiện tượng này. Nhiều đàn ông ở những quốc gia trên
sang các quốc gia láng giềng kiếm vợ trong đó có Việt Nam.
3. Là con gái Việt Nam, em có muốn lấy chồng nước ngoài trong trường hợp này
không? Tại sao?
Đây là một vấn đề giáo viên nhất thiết đề cập đến vì khu vực Bàu Hàm có tỉ
lệ con gái lấy chồng nước ngoài khá nhiều. Do đó, cần nói cho học sinh biết
Trang 24
nguyên nhân của thực trạng này để học sinh cân nhắc khi quyết định sau
này. Đôi khi, giáo viên cần đưa thêm thực trạng các cô dâu Việt ở nước
ngoài để học sinh thấy được mặt trái nêu được nguyên nhân của vấn đề qua
đoạn văn sau:
Vỡ mộng đổi đời nơi đất khách
“Đề cập thực trạng phụ nữ Cần Thơ lấy chồng Hàn Quốc, bà Huỳnh Thanh
Thảo cho biết, đa số các cuộc hôn nhân không xây dựng trên tình yêu chân chính mà
chủ yếu là qua mai mối. Thực tế, theo bà Thảo, đã có nhiều đám cưới tổ chức chớp
1. Nguyên nhân của hiện trạng đô thị hóa tự phát ở Hà Nội?
Trang 25