skkn đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn công nghệ 6 - Pdf 32

Mục lục
Nội ung sáng kiến kinh nghiệm
Danh mục chữ cái viết tắt

Trang
2

1. Đặt vấn đề.
2. Giải quyết vấn đề.
2.1 Cơ sở lí luận
2.2 Thực trạng của vấn đề.
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Quá trình tổ chức kiểm tra, đánh giá theo định hướng
PTNL phải đảm bảo các yêu cầu của KTĐG.

3
6
6
9
12
12

2.3.2. Một số kinh nghiệm sử dụng linh hoạt các hình thức
kiểm tra đánh giá theo định hướng PTNL trong quá trình dạy học.

14

2.3.3. Một số kinh nghệm thiết kế công cụ đánh giá theo định
hướng PTNL.

17

14
15
16
17
18
19

Cụm từ viết tắt
Sáng kiến kinh nghiệm
Hội đồng khoa học
Giáo dục và đào tạo
Đánh giá
Kiểm tra đánh giá
Phương pháp dạy học
Tài liệu bổ trợ
Thiết bị dạy học
Cơ sở vật chất
Công nghệ thông tin
Trung học cơ sở
Phổ thông dân tộc bán trú
Sách giáo khoa
Sách giáo viên
Giáo viên
Học sinh
Ban giám hiệu
Phát triển năng lực
Cán bộ quản lí

2


được Đảng và nhà nước ta quan tâm điều đó được khẳng định
trong nghị quyết trung ương 4 khóa II, nghị quyết trung ương 2
khóa III và được pháp chế trong luật Giáo dục - Điều 24 khoản 2.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, ngành giáo dục và đào
tạo nước ta đang tiến hành cuộc cách mạng cải cách giáo dục
trên các mặt: mục tiêu, nội dung phương pháp và đánh giá. Mục
tiêu của giáo dục đã thay đổi phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Nội dung và chương trình trong SGK cũng đã và đang tiếp tục
được thay đổi. Trước đây luật giáo dục coi SGK là pháp lệnh,
điều đó đã buộc giáo viên không pháp huy được tính tích cực, tự
lực của học sinh. Hiện nay SGK, SGV … chỉ được coi là phương
tiện dạy học, giáo viên có thể thay đổi thông tin một cách hợp
lý, kết hợp với phương pháp dạy học để pháp huy, năng lực tư
duy sáng tạo, tích cực của học sinh, làm cho học sinh làm việc
nhiều hơn, suy nghĩ tập trung hơn. Đồng thời phải tác động đến
tâm tư, tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học
sinh. Dạy học định hướng năng lực đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung,
phương pháp dạy học và đánh giá, trong đó việc thay đổi quan niệm và cách xây
dựng các nhiệm vụ học tập, câu hỏi và bài tập (sau đây gọi chung là bài tập) có vai
trò quan trọng. KTĐG là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận
thức của người học, điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới
PPDH “thi sao học vậy”, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo con
người theo mục tiêu giáo dục. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Đổi mới căn bản hình
thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo
đảm trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào
tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục
thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình
học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá
của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã

PPDH của GV và hướng dẫn HS biết tự ĐG để tối ưu hoá PP học tập của mình.
1.2 Ý nghĩa và tác dụng của việc tổ chức KTĐG theo định hướng PTNL
học sinh.
* Ý nghĩa: Xuất phát từ vai trò của kiểm tra đánh giá việc
“Đổi mới KTĐG thúc đẩy đổi mới PPDH”. Để hình thành kiến thức, kỹ
năng, thái độ và phát huy năng lực (PHNL) tích cực của học sinh
có nhiều phương pháp KTĐG khác nhau trong đó việc đổi mới
KTĐG theo định hướng phát triển năng lực học sinh mang lại kết
quả cao trong việc thực hiện mục tiêu của mỗi phần, mỗi bài,
mỗi chương nhằm đánh giá đúng năng lực của người học và động viên
khuyến khích học sinh trong quá trình học tập.
Do vậy đổi mới KTĐG theo định hướng PTNL là hết sức cần thiết trong
quá trình triển khai đổi mới chương trình giáo dục phổ thông để đảm bảo và giữ
vững quan điểm đổi mới giáo dục phổ thông, đặc biệt tạo điều kiện thiết yếu cho
việc đổi mới PPDH hướng vào hoạt động học tích cực, chủ động có mục đích rõ
ràng của người học. KTĐG kết quả học tập là sự phân tích đối chiếu thông tin về
trình độ kĩ năng học tập của từng HS so với mục tiêu dạy học được xác định.
Đổi mới KTĐG là một mắt xích quan trọng trong quá trình đào tạo. Kiểm
tra-đánh giá có hệ thống và thường xuyên sẽ cung cấp kịp thời những thông tin
cần thiết giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học, giúp giáo viên có thông tin
phản hồi để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy để từ đó nâng cao chất lượng
dạy học của nhà trường.
* Tác dụng: Việc tổ chức KTĐG theo định hướng PTNL có tác dụng rất
lớn trong hoạt động dạy học, nâng cao chất4lượng đào tạo, là cơ sở để điều chỉnh


hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục. Là công cụ quan trọng, chủ
yếu xác định năng lực nhận thức của người học, là động lực để đổi mới PPDH,
góp phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo
dục.

đối tượng học sinh, không kích thích phát huy được năng lực tự
lực sáng tạo của học sinh, chưa định hướng vào giải quyết các
vấn đề hay, khó mới làm cho học sinh thụ động trong việc lĩnh
hội kiến thức. Vì vậy tăng cường công tác đổi mới kiểm tra đánh
giá theo định hướng phát triển năng lực là việc làm cần thiết và
cấp bách đối với mỗi giáo viên hiện nay. Tuy nhiên thực tế cho
thấy quá trình KTĐG hiện nay chưa đáp ứng, chưa phù hợp và
chưa thể hiện được hết vai trò của KTĐG.
Từ thực tế đó với mong muốn nhỏ bé và việc tìm tòi các
biện pháp, cũng như kinh nghiệm tổ chức KTĐG thích hợp của
bản thân nhằm đánh giá được,5 đúng khả năng, năng lực và phát


huy tính tích cực, năng lực tự lực, sáng tạo của học sinh là lý do
tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm : "Kinh nghiệm tổ chức kiểm tra,
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong
dạy học môn công nghệ 6 ở trường PTDTBT trung học cơ sở
Mường Sai năm học 2014-2015"

2. Giải quyết vấn đề.
2.1. Cơ sở lý luận.
2.1.1. Cơ sở lí luận chung.
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng
được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện
thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều"
sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng
lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng
về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải

lực tự học cho học sinh thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển trí thông
minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ
năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ
của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và
cộng đồng. Chừng nào việc kiểm tra đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập
thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực.
Hướng tới kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan, kịp thời và không bỏ
sót kết quả học tập của học sinh, phải có tác dụng giáo dục và động viên học
sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịp thời. Bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ
sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc
nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan
tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiết học, cả
tiết tiếp thu kiến thức mới và tiết thực hành, thí nghiệm. Điều này đòi hỏi giáo
viên phải bỏ nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn trong việc kiểm tra
đánh giá. Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm và giám sát hoạt động này.
Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của
học sinh mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy
học. Chú trọng kiểm tra, đánh giá hành động, tình cảm của học sinh: nghĩ và
làm. Năng lực vận dụng vào thực tiễn của học sinh, thể hiện qua ứng xử, giao
tiếp. Cần bồi dưỡng những phương pháp, kỹ thuật lấy thông tin phản hồi của học
sinh để đánh giá quá trình dạy học.
Đánh giá kết quả học tập, thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh
giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập. Trong đó cần chú ý: Không
tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức
trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm cả đổi mới hình thức, phương thức,
phương tiện, tiêu chí đánh giá, thiết kế đề kiểm tra để đánh giá học sinh. Đổi
mới phương thức đánh giá là tăng cường đánh giá trong giờ, ngoài giờ, chính
thức và không chính thức. Đánh giá qua quan sát, trao đổi - thảo luận, qua tự
học, chuẩn bị, tìm thêm tư liệu, sáng tạo, đồ dùng học tập. Tạo sự kết hợp linh

Nếu coi quá trình giáo dục và đào tạo là một hệ thống thì đánh giá đóng vai trò
là phản hồi của hệ thống, là cơ sở để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học
nhằm điều khiển hệ thống đạt kết quả tối ưu nhất.
Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm đánh giá. Đánh giá trong dạy học
là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận,
phán đoán về trình độ, phẩm chất của người học hoặc đưa ra những quyết định
để cải thiện quá trình dạy học dựa trên cơ sở thông tin đã thu thập được một
cách hệ thống trong quá trình dạy học.
2.1.2.3 Kiểm tra đánh giá : Kiểm tra đánh giá được hiểu là sự theo dõi,
tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu những thông tin cần
thiết để đánh giá. “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập
hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu
đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó”
2.1.2.4. Trắc nghiệm (Test).
Theo tiếng Anh: test có nghĩa là “thử”, “phép thử” hay “bài kiểm tra”.
Theo tiếng Hán: “trắc nghiệm” là cụm từ ghép gồm “trắc” có nghĩa là đo
lường, “ nghiệm” là suy xét, chứng thực.
Với trắc nghiệm có nhiều khái niệm liên quan:
- Trắc nghiệm theo chuẩn;
- Trắc nghiệm năng lực;
- Trắc nghiệm kết quả học tập;
- Trắc nghiệm trí thông minh;
- Trắc nghiệm theo tiêu chí....
2.1.2.5. Năng lực.
Theo từ điển Tiếng Việt “Năng lực” được hiểu là “ khả năng, điều khiển
chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” (khi đề cập
tới năng lực của đối tượng nào đó) hoặc “là sản phẩm tâm lí và sinh lí tạo cho
8



giáo viên kịp thời thu thập, phân tích, giải thích và sử dụng thông tin kiểm tra,
đánh giá như là bằng chứng về sự tiến bộ của học sinh.
2.2. Thực trạng về công tác kiểm tra đánh giá tại trường PTDTBT
THCS Mường Sai.
2.2.1. Những thuận lợi.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của giáo dục phổ
thông, hoạt động đổi mới KTĐG đã được quan tâm tổ chức và thu được những
kết quả bước đầu thể hiện trên các mặt sau đây:
- Được sự quan tâm chỉ đạo đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức
thi, kiểm tra đánh giá của bộ giáo dục như: Hướng dẫn áp dụng ma trận đề thi
theo Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH, ngày 30/12/2010 về việc hướng dẫn
biên soạn đề kiểm tra vừa chú ý đến tính bao quát nội dung dạy học vừa quan
tâm KT trình độ tư duy.
- Triển khai xây dựng Mô hình trường học đổi mới đồng bộ phương pháp
dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả
9 học tập của học sinh. Mục tiêu của mô


hình này là đổi mới đồng bộ PPDH, KTĐG theo hướng khoa học, hiện đại; tăng
cường mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau giữa các hình thức và phương pháp tổ
chức hoạt động dạy học - giáo dục, đánh giá trong quá trình dạy học - giáo dục
và đánh giá kết quả giáo dục; thực hiện trung thực trong thi, kiểm tra. Đặc biệt là
việc đổi mới KTĐG theo hướng phát triển năng lực học sinh góp phần chuẩn bị
cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới PPDH, KTĐG và quản lý hoạt động đổi mới
PPDH, KTĐG phục vụ đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015.
- Thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 về chống tiêu cực
và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục và phát động cuộc vận động “Nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” đã hạn chế
được nhiều tiêu cực trong thi, kiểm tra.
- Chi bộ, BGH đã tích cực tổ chức triển khai các hoạt động đổi mới

khá phổ biến,...
Một số ít GV còn coi nhẹ KTĐG, do vậy trong quá trình KT thường
xuyên như KT bài cũ, 15 phút, 1 tiết việc 10
ra đề còn qua loa, có GV ra đề kiểm


tra, đề thi với mục đích dễ chấm, chấm nhanh nên kết quả đánh giá chưa khách
quan, toàn diện.
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được tính trung
thực, khách quan, công bằng trong thi, kiểm tra; nhiều học sinh còn thụ động
trong việc học tập; khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để
giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế.
- Việc KTĐG chưa đảm bảo, các hình thức kiểm tra đánh giá sử dụng
trong nhà trường chưa linh hoạt.
Các hình thức kiểm tra đánh giá theo định hướng PTNL chưa được giáo
viên sử dụng linh hoạt. Trong KTĐG mới chỉ tập trung vào việc GV đánh giá
HS, ít tạo điều kiện cho HS tự đánh giá. Việc đánh giá còn mang nặng tính chủ
quan của GV do chưa có chuẩn chung quy định rõ mức độ cần đạt được nên kết
quả đánh giá giữa các GV, giữa các trường thường khác nhau.
Nhiều giáo viên đã chú trọng quan tâm đến công tác ĐG song vẫn chỉ tập
trung chủ yếu vào đánh giá cuối kỳ mà chưa chú trọng việc đánh giá thường
xuyên trong quá trình dạy học, giáo dục.
- Nhiều giáo viên chưa thiết kế được các công cụ đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực.
Khả năng thiết kế công cụ đánh giá theo định hướng PTNL của giáo viên
còn hạn chế.
Các dạng đề kiểm tra, hình thức KTĐG còn đơn điệu chưa thể hiện được
sự thân thiện, tích cực trong KTĐG và học tập của HS; mà chỉ tập trung chú ý
vào việc cho điểm bài kiểm tra.
Đề thi kiểm tra đánh giá ra theo hướng “học vẹt” dẫn tới khi thi học sinh

việc lĩnh hội kiến thức.
Đối với học sinh không quan tâm đến các bài kiểm tra đánh giá. Nhiều em
đi học để cho qua ngày, những bài KT chưa thực sự thúc đẩy quá trình học tập
của các em. Nhiều bài điểm thấp bản thân các em cũng không có sự thay đổi
trong các tiết KT sau.
Qua đó ta thấy được thực trạng về KTĐG hiện nay. Từ đó đã thúc đẩy
việc đổi mới KTĐG, đặc biệt đổi mới KTĐG theo dịnh hướng phát triển năng
lực nhằm đạt được mục tiêu giáo dục là cần thiết.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập của học sinh theo định hướng phát triến năng lực tại trường
PTDTBT THCS Mường Sai năm học 2014-2015.
Để tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định
hướng phát triến năng lực trong môn công nghệ 6 tôi đã tiến hành các biện pháp
sau:
2.3.1. Biện pháp 1: Quá trình tổ chức kiểm tra, đánh giá theo định
hướng PTNL phải đảm bảo các yêu cầu của kiểm tra, đánh giá.
KT nhằm trực tiếp đánh giá kết quả học tập của HS và cũng là đánh giá
kết quả dạy học của GV. Để đổi mới KTĐG theo định hướng PTNL GV cần xác
định, nắm chắc được các yêu cầu của KTĐG bao gồm: Kiểm tra, đánh giá phải
đảm bảo tính khách quan (chính xác), công bằng, toàn diện, phát triển, đảm bảo
tính công khai, theo mục tiêu giáo dục đặc biệt là đánh giá được các năng lực
khác nhau của học sinh .
Nhận thức được tầm quan trọng của các yêu cầu trên hết sức cần thiết
trong quá trình tổ chức KTĐG theo định hướng PTNL. Do đó tôi đã tiến hành
thực hiện các bước sau:
Bước 1: xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập, ra đề kiểm tra cho các lớp
nhằm phân loại đối tượng HS khác nhau theo mức độ nhận thức của các em (vì
nhận thức của HS trong lớp không đồng đều).
Việc KTĐG kết quả học tập hiện nay còn chưa có tác dụng mạnh mẽ kích
thích, động viên HS, GV ra đề quá khó làm cho những HS có học lực trung bình

Điều này giúp cho quá trình KTĐG được công bằng giữa các HS, vì các
em sẽ không nhìn được bài của nhau, không được quay cóp.
Bước 5: Thu bài và chấm bài một cách chính xác, khách quan, công bằng.
Đây là một yêu cầu hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức KTĐG, là
một nguyên tắc cơ bản nhất vì tính khách quan, công bằng đảm bảo sự tương
ứng giữa kết quả đánh giá với chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh, quyết
định tới tính chính xác của KTĐG, phản ánh đúng KQHT, tu dưỡng của học
sinh, phản ánh đầy đủ những tiến bộ và những thiếu sót cơ bản của học sinh.
Vì vậy trong quá trình chấm bài tôi không áp đặt, thiên vị, không mang
tính chủ quan, không tùy tiện thay đổi điểm số trong việc đánh giá kết quả học
tập của học sinh theo sở thích, trình độ, cá tính, hoàn cảnh lúc chấm bài cho dù
bạn đó là lớp trưởng, lớp phó hay có quan hệ cá nhân với phụ huynh học
sinh......
Bước 6: Trả bài để HS tự đánh giá và kiểm tra lại bài của mình và của
bạn.
Tôi đã trả bài và hướng dẫn HS biết tự đánh giá kết quả học tập bằng các
đưa ra đáp án để so sánh, tạo điều kiện cho các em đánh giá bài làm của bản
thân và của các bạn trong lớp, phân biệt được đúng, sai, tìm ra nguyên nhân để
rút kinh nghiệm cho bài sau , đồng thời cải tiến phương pháp học tập, rèn luyện
tư duy sáng tạo. Vì vậy các em rất thích thú khi được tự mình kiểm tra đánh giá
bài của bạn. Nhờ vậy, việc đảm bảo tính công khai sẽ góp phần làm cho hoạt
động kiểm tra đánh giá trong nhà trường khách quan và công bằng hơn. Song
môn công nghệ không có tiết trả bài nên bản thân tôi phải xắp xếp thời gian để
trả bài tạo điều kiện cho HS tự ĐG cho
13khách quan, công bằng, công minh.


Ngoài ra trong quá trình dạy học khi tổ chức các hoạt động KTĐG như
KT miệng, 15 phút, hay trong các hoạt động dạy - học tôi cũng tiến hành các
bước tương tự và luôn đảm bảo yêu cầu khách quan, công bằng, chính xác, toàn

yêu cầu, quy trình đánh giá HS theo định hướng PTNL.
* Hiệu quả: Quá trình thực hiện tổ chức KTĐG theo định hướng PTNL
học sinh đã được đánh giá khách quan, công bằng, toàn diện, công khai, đảm
bảo mục tiêu giáo dục, đảm bảo tính phát triển; đã đánh giá được các năng lực
khác nhau của HS.
2.3.2. Biện pháp 2 : Một số kinh nghiệm sử dụng linh hoạt các hình
thức kiểm tra đánh giá theo định hướng PTNL trong quá trình dạy học.
Trong quá trình dạy học tôi đã kết hợp, sử dụng nhiều hình thức kiểm tra
đánh giá nhằm ĐG đúng, chính xác kết quả học tập, năng lực của HS trong tiết
dạy bằng cách:
Thứ nhất: Đánh giá thông qua quan sát: đây là một hình thức đánh giá
rất quan trọng, nó giúp cho GV có cái nhìn
14 tổng quan về thái độ, hành vi, sự


tiến bộ của các kỹ năng học tập của HS suốt cả quá trình dạy học, để từ đó có
thể giúp cho HS có thái độ học tập tích cực và tăng cường các kỹ năng học tập.
Vì thế trong giờ học Tôi tiến hành quan sát hành vi, cử chỉ, thái độ HS qua các
quan sát:
+ Quan sát thái độ trong giờ học;
+ Quan sát tinh thần xây dựng bài;
+ Quan sát thái độ trong hoạt động nhóm,
+ Quan sát kỹ năng trình diễn của HS;
+ Quan sát HS thực hiện các yêu cầu của GV trong lớp học;
+ Quan sát một sản phẩm thực hiện trong giờ học....
Để đánh giá HS thông qua quan sát tôi đã thiết kế phiếu học tập, hoặc
quan sát tự do các hoạt động xảy ra trong mỗi giờ học, sau đó thông báo với HS
những gì tôi đã quan sát được sau mỗi giờ học nhằm giúp cho HS có ý thức hơn
trong các giờ học sau.
Thứ hai: Đánh giá thông qua vấn đáp, thảo luận nhóm.


bày rõ ràng, súc tích, có hệ thống.
- Tốt: HS tóm tắt nội dung đầy đủ, có ví dụ vận dụng và trình bày rõ ràng,
có hệ thống.
- Đạt yêu cầu: HS tóm tắt nội dung đầy đủ và trình bày chưa thể hiện tính
hệ thống.
- Cần cố gắng thêm: HS tóm tắt nội dung chưa đầy đủ và trình bày chưa rõ
ràng.
- Chưa hài lòng: HS tóm tắt nội dung còn nhiều sai sót và trình bày lủng
củng.
™Thứ tư: Đánh giá dựa vào một số kỹ thuật thu nhận thông tin phản hồi
khác.
- Sau khi dạy xong một bài/nội dung, đề nghị HS trả lời vào giấy hai câu
hỏi: Nội dung (kỹ năng) quan trọng nhất bạn đã học được là gì? Điều gì chưa
hiểu trong bài? Với việc trả lời hai câu hỏi này đã gợi ra được cho GV những gì
HS đã học được và những gì HS chưa học được để hướng dẫn thêm.
- Yêu cầu HS thiết kế lược đồ tư duy hoặc bản đồ khái quát về nội dung
bài học trước hoặc sau khi học. Qua đó, GV có thể biết được HS đã có kiến
thức gì và những gì chưa biết hoặc chưa được học và HS biết cách hệ thống
hóa kiến thức.
- Yêu cầu HS tóm tắt các kiến thức vừa học bằng một số ít câu giới hạn.
-Yêu cầu mỗi HS đều viết câu trả lời ngắn cho câu hỏi: kiến thức vừa
học có thể được ứng dụng trong thực tiễn như thế nào?
- Yêu cầu HS đặt câu hỏi về một nội dung nhất định và đưa ra câu trả lời
cho nội dung đó...
Thứ năm: Kiểm tra đánh giá thông qua bài kiểm tra:
Đây là hình thức đánh giá hiện đang áp dụng phổ biến. Người dạy có thể
đánh giá HS thông qua các bài kiểm tra 10 phút, 15 phút hay 45 phút. Có thể sử
dụng hình thức tự luận hay trắc nghiệm khách quan hoặc kết hợp cả hai để đánh
giá xem HS đang ở đâu trong quá trình dạy học, từ đó giúp đỡ, định hướng cho

thấy khả năng của mình. Điều này có tác dụng động viên HS rất lớn, góp phần
quan trọng vào việc thực hiện chức năng giáo dục và phát triển của đánh giá
giáo dục.
* Tác dụng: Vận dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra, đánh giá giúp
cho GV không chỉ ĐG mà HS cũng tham gia đánh giá.
Thông qua những hình thức này GV chủ động, tích cực hơn trong việc
KTĐG.
Đã kịp thời động viên khuyến khích HS, HS hứng thú với môn học và
đem lại kết quả cao hơn.
* Hiệu quả: HS cũng đã tích cực hơn trong việc ĐG, số HS chưa mạnh
dạn nay đã mạnh dạn hơn khi được tự mình ĐG kết quả.
GV có nhiều hình thức lực chọn để ĐG kết quả không phụ thuộc vào kết
quả bài kiểm tra như trước kia. GV chủ động hơn trong qua trình KTĐG.
2.3.3. Biện pháp 3 : Một số kinh nghiệm tổ chức thiết kế công cụ đánh giá
theo định hướng PTNL.
Tổ chức KTĐG cần có những công cụ ĐG vì vậy Tôi đã trang bị cho
mình kĩ năng thiết kế công cụ ĐG theo định hướng PTNL như sau:
2.3.3.1 Kỹ năng thiết kế câu hỏi, bài tập.
- Trong quá trình tổ chức KTĐG bản thân tôi đã nắm vững và vận dụng
thành thạo quy trình đặt câu hỏi gồm 5 bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học.
Bước 2: Phân tích nội dung bài học.
Bước 3: Xác định các kiến thức có thể chuyển hóa thành câu hỏi.
Bước 4: Diễn đạt nội dung kiến thức thành câu hỏi.
Bước 5: Lựa chọn, sắp xếp câu hỏi thành hệ thống phù hợp với mục
đích lý luận dạy học.
- Hiểu biết về nguyên tắc, quy trình thiết kế câu hỏi tự luận, câu hỏi
trắc nghiệm khách quan và vận dụng để thiết kế câu hỏi.
- Hiểu rõ và có khả năng vận dụng để đặt câu hỏi theo thang phân loại
Nhận thức (4 mức: nhớ, hiểu, vận dụng thấp, vận dụng sáng tạo).

sau khi học sinh học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một
cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm
tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học
sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp.
Bước 2: Xác định hình thức đề kiểm tra.
Tôi đã sử dụng các hình thức đề kiểm tra sau:
- Đề kiểm tra tự luận.
- Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan.
- Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và
câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan.
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên tôi kết hợp một cách
hợp lý các hình thức đó sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra của từng bài,
từng chương và từng chủ đề, để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết
quả học tập của học sinh chính xác hơn.
Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên cho học sinh làm bài kiểm
tra phần trắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm bài kiểm tra phần tự luận:
làm phần trắc nghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho học sinh làm phần
tự luận.
Bước 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức
chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp
độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng (gồm
18có vận dụng ở cấp thấp và vận dụng


cp cao). Trong mi ụ chun kin thc k nng chng trỡnh cn ỏnh giỏ,
t l 5 s im, s lng cõu hi v tng s im ca cỏc cõu hi.
S lng cõu hi ca tng ụ ph thuc vo mc quan trng ca mi
chun cn ỏnh giỏ, lng thi gian lm bi kim tra v s im quy nh cho
tng mch kin thc, tng cp nhn thc.


Số câu
Số điểm
Tỷ lệ %
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỷ lệ %

Vn dng thp

- Nêu c vai trò
ca nhà ở đối với
đời sống con ngời
C1
2
Vn dng vào
bản thân gia đình
để giữ gìn nhà ở
sạch sẽ ngăn nắp
C2.2
2

Phân tích đợc ý
nghĩa của cây
cảnh và hoa
trong trang trí
nhà ở
C3
2
Biết cách xác định

nhà ở sạch sẽ
ngăn nắp
C2.1
1

Số câu
Số điểm
Tỷ lệ %
3. Trang trí
nhà ở bằng
cây cảnh và
hoa
Số câu
Số điểm
Tỷ lệ %
4 . Cắm hoa
trang trí

Thông hiu

2

19 ma trn.
Bc 4: Biờn son cõu hi theo

4
40%

1
4

trờng nh: gió, bão, nắng nóng, tuyết lạnh, đáp ứng đợc
những nhu cầu thiết yếu của con ngời nh: nhu cu n, ,
ng ngh ..

Câu 2: ý nghĩa của cây cảnh và hoa trang trí nhà ở:
+ Làm tăng vẻ đẹp của nhà ở
+ Cây cảnh góp phần làm trong sạch không khí
+ Con ngời thấy gần gũi với thiên nhiên, thêm yêu cuộc
sống
* Lợi ích của công việc trồng cây cảnh, cắm hoa :
+ Trồng, chăm sóc cây cảnh, cắm hoa trang trí đem lại
niềm vui th giãn cho con ngời sau những giờ lao động, học
tập mệt mỏi.
+ Nghề trồng cây cảnh còn đem lại nguồn thu nhập đáng
kể cho nhiều gia đình.

Câu 3:
+ Cành chính thứ nhất: (KH: I ) =1-1,5 (D+h)
+ Cành chính thứ hai: (KH: I ) =2/3 I
+ Cành chính thứ ba: (KH: ) = 2/3 I
+ Các cành phụ ( KH: T ) có chiều dài ngắn hơn các cành
chính mà nó đứng bên cạnh.
D là đờng kính lớn nhất của bình
h là chiều cao của bình
S cm
0o
o
10 15
45o


nguyờn nhõn dn n thỏi lch lc ca HS, iu chnh hot ng dy.
- Bng hi l cụng c s dng cho HS t ỏnh giỏ trong quỏ trỡnh hc tp.
Vỡ vy thit k bng hi tụi ó thc hin theo cỏc bc sau:
Bc 1: Xỏc nh cỏc mc tiờu thit k bng hi.
Bc 2: Thit k cỏc cõu hi cn thit v cỏc phng ỏn chn.
Bc 3: Sp xp cỏc cõu hi theo mt trt t logic
Vớ d: Bi 15 C s ca n ung hp lớ. Bi 21 T chc ba n hp lớ trong gia
ỡnh.
1. Mc tiờu.
- Nờu c nhu cu ca c th v cỏc cht dinh dng.
- Trỡnh by c th no l n ung hp lớ, vỡ sao phi n ung hp lớ.
- Nờu c cỏch n ung m bo hp lớ, khoa hc v vn dng c vo
cuc sng.
2. Cỏc hot ng dy hc v kim tra ỏnh giỏ.
Hot ng 1. Hot ng khi ng.
Hiu bit ca em v vai trũ ca cỏc cht dinh dng.
Quan sỏt cỏc bc tranh v tr li cõu hi.

1

2

3

4
5
6
in tờn cỏc nhúm cht dinh dng vo v trớ phự hp vi cỏc bc tranh
1,2,3,4,5,6 v ghi ngun cung cp
21 vo bng sau.

dục.....)
- Chất đạm
- Chuyển hóa cơ bản (hoạt động của cơ quan trong cơ thể)
- Chất đường bột
Vật chất cần thiết
- Vitamin
- Trẻ em đang lớn
- Chất khoáng
- Tái tạo tế bào, phục hồi, bù đắp hao tổn.
- Nước
- Tạo chất miễn dịch, chống bệnh.
- Chất sơ.
- Nuôi thai, tiết sữa (phụ nữ mang thai cho con bú.)
Quan sát các bức tranh sau và tìm mối liên hệ với các nội dung sau.

A

B

C

Thảo luận để trả lời các câu hoi dưới đây.
a. Em có nhận xét gì về thể trạng của các bạn trong các bức tranh trên và
nêu nguyên nhân dẫn đến kết quả thể trạng như vậy rồi ghi vào bảng sau:
Bức tranh
Thể trạng
Nguyên nhân
A
B
C

Bữa ăn số 3.
? Bữa ăn hợp lý cần những chất dinh dưỡng nào?
? Quan sát hình ảnh 3 bữa ăn trên, nhận xét về mức độ cung cấp các chất
dinh dưỡng trong bữa ăn rồi đánh dấu vào bảng sau theo kí hiệu: (+: Vừa đủ);
(++: thừa); (- : thiếu)
Bữa ăn cung cấp
Bữa ăn số 1
Bữa ăn số 2
Bữa ăn số 3
- Chất béo
- Chất đạm
- Chất đường bột
- Vitamin
- Chất khoáng
23


- Nước
- Chất sơ.
Kết luận: Bữa ăn có hợp
lý không? Vì sao?
Tháp dinh dưỡng cho biết lượng thức ăn cần cho mỗi người trong 1 tháng để
đảm bảo dinh dưỡng hợp lí. Hãy quan sát và điền thông tin vào bảng sau:

Mức độ ăn
Loại thức ăn
Lượng ăn/tháng
Ăn hạn chế
Ăn ít
Ăn có mức độ

* Vai trò: Qua hoạt động của 2 bài HS sẽ thấy được mối liên hệ về kiến
thức, sự logic giữa các hoạt động, từ đó phát triển nhiều năng lực, đảm bảo
quá trình KTĐG ngay trong tiết dạy hình thành cho HS những kĩ năng, kĩ xảo
mà vẫn đảm bảo mục tiêu dạy học.
* Tác dụng : GV đã làm chủ được phương pháp, nắm chắc các phương
pháp, kĩ năng đánh giá có vai trò quan trọng trong khâu ra đề, câu hỏi trong quá
trính soạn bài lên lớp.
* Hiệu quả: Giáo viên đã thu thập được những kinh nghệm thực tế, có
những kĩ năng cơ bản cho việc KTĐG học sinh theo định hướng PTNL.
2.3.4 Biện pháp 4 : Kinh nghiệm biên soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra,
đánh giá theo định hướng PTNL trong môn công nghệ.
Tôi đã tiến hành xây dựng câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá theo định
hướng năng lực của một chủ đề cần thực hiện theo các bước sau.
- Bước 1: Xác định các chủ đề môn học và mục tiêu về năng lực của chủ
đề.
- Bước 2: Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo các mức độ của
năng lực Chuẩn kiến thức, kĩ năng được xác định căn cứ theo chuẩn được quy
định trong Chương trình môn công nghệ hiện hành.
Lưu ý, theo định hướng hình thành và phát triển năng lực khi xác định
chuẩn kiến thức kĩ năng cần hướng đến những năng lực có thể hình thành và
phát triển sau khi học chủ đề.
- Bước 3: Lập bảng mô tả các mức độ đánh giá theo định hướng năng lực:
bảng mô tả các mức độ đánh giá theo năng lực nhằm cụ thể hoá chuẩn KT-KN
theo các mực độ khác nhau, nhằm đánh giá được khả năng đạt được của HS. Vì
thế tôi đã sắp xếp và xác định đúng các mức độ nhận thức trong quá trình xây
dựng câu hỏi bài tập KTĐG theo mức: nhận biết – thông hiểu – vận dụng thấp –
vận dụng cao. Khi xác định các biểu hiện của từng mức độ cần chú ý đến hướng
phát triển của HS qua từng mức độ, để đến mức độ vận dụng cao chính là HS đã
có được mức độ cao của năng lực cần thiết cho mỗi chủ đề.
- Bước 4: Xác định các hình thức/công cụ đánh giá (các dạng câu hỏi, bài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status