ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN HUY HOÀNG Tên đề tài:
“
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ TRÍCH LY
TRITERPENOID TỪ NẤM LINH CHI, ỨNG DỤNG
CHO CHẾ BIẾN THỰC PHẨM
” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : CNTP
Lớp : CNTP K42
Khoa : CNSH - CNTP
Khóa : 2010 - 2014
Người hướng dẫn : 1. ThS. NGUYỄN ĐỨC TIẾN
Bộ môn Nghiên cứu Phụ phẩm và Môi trường
Nông nghiệp - Viện Cơ điện nông nghiệp và Công
nghệ sau thu hoạch
2. ThS. Trần Thị Lý
Bộ môn Công nghệ thực phẩm - Trường đại học
Nông Lâm Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Các hoạt chất sinh học trong nấm Linh Chi và công dụng 7
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu đến hiệu quả trích triterpenoid
trong nấm Linh Chi 30
Bảng 4.2.1. Ảnh hưởng của dung môi tới hiệu quả trích ly triterpenoid
trong nấm Linh Chi 31
Bảng 4.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ dung môi ethanol
tới hiệu quả trích ly triterpenoid trong nấm Linh Chi 33
Bảng 4.2.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu/dung môi đến hiệu quả trích ly
triterpenoid trong nấm Linh Chi 34
Bảng 4.2.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ tới hiệu suất trích ly triterpenoid
trong nấm Linh Chi 36
Bảng 4.2.5. Ảnh hưởng của thời gian trích ly đến đến hiệu suất trích ly triterpenoid
trong nấm Linh Chi 37
Bảng 4.2.6. Ảnh hưởng của số lần trích ly đến hiệu quả trích ly triterpenoid
trong nấm Linh Chi 38
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Công thức phân tử các hoạt chất sinh học của nấm Linh Chi 5
Hình 2.2. Cấu trúc hóa học của lanosterol và ba trong số nhiều hợp chất phân lập từ
Ganoderma lucidum. 12
Hình 2.3. Thực phẩm chức năng có thành phần triterpenoid ở dạng viên nén. 16
Hình 2.4. Cao Linh Chi chứa chế phẩm triterpenoid. 16
Hình 2.5. Thực phẩm có chưa hoạt chất trích ly trong nấm Linh Chi. 16
Sơ đồ 3.1. Quy trình trích ly sản xuất chế phẩm triterpenoid từ nấm Linh Chi 22
2.2.1. Định nghĩa 11
2.2.2. Cấu trúc của triterpenoid 11
2.2.3. Đặc điểm của triterpenoid 12
2.2.4. Vai trò của triterpenoid 13
2.3.Ứng dụng của triterpenoid 15
2.4. Trích ly và thu nhận 16
2.4.1. Cơ sở khoa học duy trì và trích ly triterpenoid trong nấm Linh Chi 16
2.4.2. Phương pháp trích ly triterpenoid trong nấm Linh Chi 17
2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu Linh Chi trong nước và trên thế giới 17
2.5.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh Chi trên thế giới 17
2.5.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh Chi tại Việt Nam 19
Phần III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Đối tượng, thiết bị và hóa chất nghiên cứu 21
3.1.1. Đối tượng 21
3.1.2. Thiết bị và hóa chất 21
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 21
3.3. Nội dung nghiên cứu 21
3.3.1. Ảnh hưởng của các điều kiện xử lý nguyên liệu đến hiệu quả trích ly 21
3.3.2. Xác định các thông số của quá trình trích ly 21
3.3.3. Quá trình thu nhận triterpenoid trong nấm Linh Chi 22
3.3.4. Quy trình công nghệ trích ly triterpenoid từ nấm Linh Chi 22
3.4. Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1. Phương pháp phân tích chỉ tiêu hóa lý 23
3.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
3.4.3. Quá trình thu nhận triterpenoid nấm Linh Chi trong nấm Linh Chi 29
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu 29
Phần IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1. Ảnh hưởng của độ mịn nguyên liệu đến hiệu suất trích ly triterpenoid
người ngày càng quan tâm hơn tới những thực phẩm không chỉ giàu dinh dưỡng mà
còn có tác dụng như thuốc để tăng cường thể lực, phòng và điều trị bệnh tật, kéo dài
tuổi thọ. Đó là những thực phẩm có thành phần dinh dưỡng đặc hiệu đối với cơ thể,
có tác dụng tăng cường đề kháng và giúp cơ thể phòng bệnh. Từ những kinh
nghiệm lưu truyền trong dân gian, loài người đã sử dụng nhiều loại thuốc, từ dạng
sơ chế đến tinh chế, cô đặc, hoặc chiết xuất từ các loại thảo dược có sẵn trong tự
nhiên để điều trị bệnh. Ngày nay xu hướng sử dụng các thảo dược thiên nhiên để trị
bệnh đã trở nên phổ biến, việc tìm kiếm những khả năng chữa trị từ các loại thảo
dược đã được tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới: Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan,
Malaysia, Thái Lan,… Trong đó, nấm Linh chi là đối tượng nghiên cứu của nhiều
quốc gia. Đặc biệt là các nước vùng Châu Á, vì nấm Linh Chi có nhiều tiềm năng
về nguồn dược liệu.
Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử phát triển lâu đời, đồng thời đây là
nợi tạo ra các bài thuốc cổ truyền nổi tiếng trên thế giới. Ở Trung Quốc, Cách đây
hàng ngàn năm, nấm Linh chi đã được dùng để làm thuốc, các sách dược thảo của
nhiều triều đại ở Trung Quốc đều ghi nhận Linh Chi được sử dụng làm thuốc từ lâu
đời. Giá trị dược liệu của Linh chi đã dược ghi chép trong các thư tịch cổ của Trung
Quốc, cách nay hơn 4000 năm. Từ những kinh nghiệm lưu truyền trong nhân gian,
loài người đã biết sử dụng Linh chi theo nhiều cách khác nhau.
Đến nay khoa học kỹ thuật phát triển, nấm Linh chi còn được các nhà khoa
học trên thế giới chứng minh được tác dụng hữu ích trong việc điều trị bệnh: Ung
thư, cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch, HIV, viêm gan siêu vi, suy nhược thần
kinh, ngăn chặn quá trình làm lão hoá,… và còn được sử dụng như là thảo dược quý
để trị bệnh và có tác dụng bổ dưỡng, điều hoà huyết áp, chống lão hóa, kéo dài tuổi
2
thọ,…Tác dụng của Linh chi đã được khẳng định và xếp vào hàng “thượng dược”
trị được bách bệnh. Những nghiên cứu gần đây cho thấy Linh chi còn có khả năng
giải độc chì, điều hòa huyết áp, làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu…
Tại thị trường Việt Nam, nhu cầu sử dụng nấm Linh chi làm thuốc chữa bệnh
ở trong nước cũng như xuất khẩu ngày càng tăng. Nhiều cơ sở đã tiến hành nghiên
2.1. Nấm Linh Chi
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại nấm Linh Chi
* Nguồn gốc
Linh Chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum, là loại nấm thuộc họ đa
khổng (polyporaceae), thường mọc trên những thân cây mục. Người ta còn gọi Linh
Chi là Linh Chi thảo, nhiều tác giả đã cho rằng đây là một loại cây cỏ nhưng thực ra
Linh Chi là một loại nấm. Năm 1971, hai nhà bác học người Nhật là Yukio Naoi và
Zenzabuno Kasai, giáo sư của phân khoa nông nghiệp, trường Đại học Kyoto mới
thành công trong việc gây giống và người ta mới sản xuất được loại nấm này một
cách quy mô. Từ đó Linh Chi được trồng và sử dụng trong việc bào chế chứ không
chỉ là huyền thoại [14,13,18].
* Phân loại
Nấm Linh Chi có vị trí phân loại được thừa nhận rộng rãi hiện nay [9,7].
Ngành: Eumycota
Ngành phụ: Basidiamyctina
Lớp: Hymenomycetes
Lớp phụ: Hymenomycetidae
Bộ: Aphyllophorales
Họ: Ganodermataceae
Họ phụ: Ganodermoidae
Chi: Amauroderma
Cổ Linh Chi (Ganoderma applanatum (Pers Past), là các loài nấm gỗ không
cuống (hoặc cuống rất ngắn) có nhiều tầng (mỗi năm thụ tầng lại phát triển thêm
một lớp mới chồng lên). Mũ nấm hình quạt, màu từ nâu xám đến đen sẫm, mặt trên
sù sì thô ráp. Nấm rất cứng (cứng như gỗ lim nên còn gọi là nấm lim).
Linh Chi (Ganoderma) là loại nấm gỗ mọc hoang trong thiên nhiên, có hàng
trăm các loài khác nhau, trong đó có 2 nhóm lớn là: Cổ Linh Chi và Linh Chi [7,6].
Linh Chi rất phong phú về chủng loại, ước tính trên toàn thế giới có 200 loài
Linh Chi. Riêng Trung Quốc có 84 loài, trong đó có 12 loài được dùng làm thuốc
hành vào đầu thế kỷ XX, khi các nhà khoa học nghiên cứu đến lớp vỏ láng của nấm
và đã phát hiện các chất như: esgosterol, các enzyme phenoloxidase và peroxidase.
5
Theo phân tích của G. Bing Lin thì thành phần hoá học của Ganoderma
lucidum gồm các chất: Nước(12 - 13%), cellulose (54 - 56%), lignin (13 - 14%),
monosaccharide (4,5 - 5%), lipid (1,9 - 2,0%), protein (0,08 - 0,12%), sterol (0,14 -
0,16%), các nguyên tố vô cơ như: Ag, Br, Ca, Fe, K, Na, Mg, Mn, Zn, Bi… Hai
nguyên tố quan trọng nhất là Selenium và Germanium.
Hiện nay người ta đã tìm được các hoạt chất sinh học trong nấm Linh Chi.
Theo nhiều tài liệu các hoạt chất được thể hiện dưới các nhóm chính sau [5]. Hình 2.1. Công thức phân tử các hoạt chất sinh học của nấm Linh Chi
a. Nhóm nucleoside
Nhóm này đặc trưng bởi dẫn xuất của adenosine với tác dụng hỗ trợ thư giãn
cơ, giảm đau và ức chế sự dính kết tiểu cầu.
b. Nhóm có bản chất proteine
Nhóm này nổi bật với Lingzhi - 8 do các nhà khoa học Nhật Bản tìm ra được
chứng minh là một tác nhân hỗ trợ chống dị ứng phổ rộng và điều hoà miễn dịch rất hữu
hiệu. Đồng thời, duy trì tạo kháng thể hỗ trợ chống các kháng nguyên viêm gan B [21].
c. Nhóm Steroide
Nhóm Steroide khá phong phú ở các nấm Linh Chi với tác dụng chủ đạo là
ức chế sinh tổng hợp cholesterol bởi các lacton A, B và các sterol.
d. Nhóm alcaloide
Hàng loạt các nghiên cứu về polysaccharide không tan trong nước của các
tác giả Nhật Bản và Trung Quốc chứng tỏ hiệu lực chống khối u rất rõ rệt, thậm chí
tan khối u với tỷ lệ 3/4 với các loài G.applantum và G. Lucidum [8]. Những tổng
kết xác đáng về vai trò sinh dược học của các nhóm hoạt chất này được R. Chang
giới thiệu tại Hội thảo Bắc Kinh năm 1991 với các báo cáo thực nghiệm của các tác
giả Đài Loan, Trung Quốc và Hoa Kỳ.
i. Nhóm triterpenoid
Đa dạng nhất và có tác dụng dược lý mạnh là nhóm saponine - triterpennoid
- các axít ganoderic. Những năm 1984 -1987, lần đầu tiên Nishitiba và cộng sự đã
7
chứng minh ganoderic acid C là chất mới trong tự nhiên. Sau đó Morigiwa (1986)
tìm ra thêm ganoderic acid B. Năm 2001, Masao Hattori đã trích ly thêm được 10
triterpennoid mới bao gồm lucidumol A và B, các ganoderic A, B, E, F, H, K, Y và
R. Đa dạng nhất và có tác dụng dược lý mạnh là nhóm saponine - triterpennoid - các
axít ganoderic.
Bảng 2.1. Các hoạt chất sinh học trong nấm Linh Chi và công dụng[5]
Hoạt chất Nhóm Hoạt tính dược lý
Cyclooctasulfur Ức chế giải phóng histamine
Adenosine và dẫn xuất Nucleotid
Ức chế kết dính tiểu cầu, thư giãn c
ơ,
giảm đau
Lingzhi-8 Protein Chống dị ứng phổ rộng, điều hoà miễn dịch.
*** Alcaloide Trợ tim
Ganodosteron Steroid Giảm độc gan
Lanosporeric acid A Steroid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol
Lonosterol Steroid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol
Compounds I, II, III, IV, V Steroid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol
Ganoderans A, B, C Polysaccharide Hạ đường huyết
* Tác dụng trên hệ miễn dịch và chống ung thư
Các nghiên cứu hoạt chất sinh học được trích ly và cô lập từ quả thể của nấm
Linh Chi thuộc nhóm Polysaccharides, triterpenoid, và các hợp chất hoạt tính sinh
học khác cho thấy có tác dụng chống khối u, điều hòa miễn dịch. Trong mô hình thử
nghiệm trên động vật, nấm Linh chi có tác dụng ngăn chặn di căn ung thư. Nâng
cao năng lực miễn dịch của cơ thể, đặc biệt là hệ thống miễn dịch tế bào, làm tăng
sức đề kháng, chống lão hóa và kéo dài tuổi thọ. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản,
Trung Quốc và Đài Loan đã thực hiện nhiều công trình chứng minh nấm Linh Chi
có đặc tính tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Theo kết quả nghiên cứu trên bệnh
nhân ung thư dạ dày, tử cung của Trung tâm điều trị ung thư Nhật Bản, tỷ lệ
người bệnh dùng nấm Linh chi sống thêm 5 năm cao hơn những người không dùng
nấm. Acid ganoderic (dẫn chất của triterpenoid) có tác dụng chống dị ứng, ức chế
sự giải phóng histamin, tăng cường sử dụng oxy, oxy hóa khử các gốc tự do trong
cơ thể, chống lão hóa, chống ung thư. Nguyên tố Selenium giúp tăng tuổi thọ con
người, giúp cơ thể loại thải nhanh các chất độc, chất đạm cần thiết cho cơ thể, bảo
vệ tế bào gan, chống ảnh hưởng độc hại của tia phóng xạ và các chất độc đối với cơ
thể [27, 29,26].
9
Nấm Linh Chi đã được sử dụng trong điều trị bệnh nhân ung thư phổi, màng
tử cung, dạ dày. Tại Tokyo - Nhật Bản, kết hợp giữa chế phẩm nấm Linh Chi trích
ly với xạ trị cho kết quả tốt đối với bệnh nhân ung thư cổ tử cung [15].
Chế phẩm nấm Linh Chi làm gia tăng quá trình sản xuất Interleukin-1 & 2,
có tác dụng hạn chế sự phát triển của nhiều loại mô có hại. Một số công trình
nghiên cứu gần đây cho thấy Linh chi có nhiều tác dụng khác nhau: Giảm đau,
chống viêm, tiêu đờm, chống ho, chống oxy hóa, chống virut thông qua phản ứng
kháng nguyên – kháng thể, làm giảm áp lực trong mạch máu, trợ tim bằng cách làm
giảm cholesterol. Ngoài ra nó còn có tác dụng tiêu độc bảo vệ gan, chống ion hóa,
kháng khuẩn. Linh chi có chứa sắt, caxi, photpho, các vitamin nhóm B, C, D và acid
pantothenic, nó có vai trò thiết yếu của tuyến thượng thận [22].
* Tác dụng phòng, chống bệnh tiểu đường
chất này trong điều trị bệnh gan ở người [23] và sterol có nguồn gốc từ nấm Linh
Chi ức chế lanosterol 14α - demethylase hoạt động trong sinh tổng hợp cholesterol
[19]. Hợp chất sinh học của nấm Linh Chi ức chế hoạt động 5-alpha reductase trong
quá trình sinh tổng hợp của dihydrotestosterone. [24], nấm Linh Chi cótác động
chống vi khuẩn và chống virus [25, 32], nấm Linh Chi chống trực tiếp các virus
HSV-1, HSV-2, virus cúm, viêm miệng mụn nước và chống nấm Aspergillus
niger,vi khuẩn Bacillus cereus, Candida albicans, và Escherichia coli. Các lợi ích
khác đã được nghiên cứu như tác dụng hạ huyết áp cao, cholesterol, và chống viêm,
lợi ích thông qua các thuộc tính của acid ganoderic.
* Tác dụng trên da
Nấm Linh Chi giúp bài tiết các độc tố trong cơ thể , có tác dụng loại bỏ các
sắc tố lạ trên da, làm cho da dẻ đẹp, hồng hào, chống lại các bệnh ngoài da như dị
ứng, trứng cá [24].
* Tác dụng trên hệ thần kinh
Giảm mệt mỏi, trấn tĩnh, suy nhược thần kinh, chống đau đầu và tứ chi. Làm
giảm ảnh hưởng của caffeine [24].
* Tác dụng trên hệ hô hấp
Nấm Linh Chi được dùng trong điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế quản,
hiệu quả cao có thể đạt tới 80%, có tác dụng giảm và làm nhẹ bệnh theo hướng khỏi
hẳn. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về tách chiết, tạo chế phẩm nấm Linh Chi và
sử dụng các hợp chất sinh học trong nấm Linh Chi [25, 32].
* Khả năng chống dị ứng
Là hướng được nghiên cứu nhiêu ở Trung Quốc, Nhật bản. Đã chứng Minh
được dịch trích ly nấm Linh Chi có tác dụng chống lại cả 4 loại dị ứng. Năm 1990
11
Trung tâm nghiên cứu sức khỏe Texas (Mỹ) phát hiện nấm Linh Chi sử dụng trong
điều trị viêm phế quản, viêm màng kết, thấp khớp, cứng cổ, cứng vai và chứng
minh có tác dụng tốt đến hệ thống miễn dịch mà không có tác dụng phụ [16,30].
2.2. Giới thiệu về triterpenoid
squalene.
12Hình 2.2. Cấu trúc hóa học của lanosterol và ba trong số nhiều hợp chất phân
lập từ Ganoderma lucidum[33]
Cấu trúc kiểu triterpenoid được phát hiện ngày một nhiều, năm 1986,
Arisawa và cộng sự đã xác định cấu trúc của một số triterpenoid:
+ Ganodermenonol: 26 - hydroxy - 5 alpha - lanosta - 7,9 (11).24 - trien -one
+ Ganodermadiol: 5 alpha - lanosta - 7,9 (11).24 - trien - 3 beta.26 - diol
+Ganodermatriol: 5 alpha - lanosta - 7,9 (11).24 - trien - 3 beta.26,27 - triol.
Trong các nhóm Ganodermic acid, Wang và cộng sự đã chứng minh được
hiệu lực ức chế kết tụ cầu ở người và xác định cấu trúc phân tử của Ganoderic acid
S: Lanosta - 7,9 (11).24 - trien - 3 beta, 15 alpha - diacetoxy - 26 - oic acid.
2.2.3. Đặc điểm của triterpenoid
Theo các nghiên cứu thì triterpenoid hầu hết các triterpenoid có đặc tính
chung là tan tốt trong eter dầu hỏa, ethanol, methanol, hexan, chloroform, ít tan
trong nước ngoại trừ khi chúng kết hợp đường để tạo thành glycoside. Các
triterpenoid có độ nhớt vừa phải, bền với nhiệt độ, tạo vị đắng trong nấm Linh Chi.
Hàm lượng của triterpenoid trong nấm là từ 0,6 – 11% trên một gam bột Linh Chi
khô.
13
2.2.4. Vai trò của triterpenoid
Theo thống kê có hơn một trăm triterpenoid đã được phân lập từ nấm linh
Chi. Các hợp chất này có khả năng chống oxy hóa, giảm huyết áp, tăng cường chức
năng gan, chống khối u, phòng và tiêu diệt tế bào ung thư, ức chế giải phóng
histamin và ức chế tổng hợp cholesterol.
2.2.4.1. Khả năng kháng HIV
Để khảo sát khả năng kháng HIV của các hợp chất triterpenoid trong nấm
2.2.4.3. Ức chế sinh tổng hợp cholesterol
Ganoderic acid R,S, Ganodermic acid Mf, Ganodermic acid T.O là những
hoạt chất có khả năng ức chế tổng hợp cholesterol trong nấm Linh Chi [29].
Theo một nghiên cứu về nấm Linh Chi ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã
phát hiện ra rằng mức độ lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL cholesterol có hại) giảm
68% trong 90 bệnh nhân sau bốn tháng sử dụng chế phẩm triterpenoid của Linh
Chi. Gần đây, các nhà khoa học Nga đã phát hiện ra rằng ngoài các lợi ích về tim
mạch đã nói ở trên, Linh Chi đã cho thấy khả năng phòng ngừa và điều trị đáng kể
trong việc chống lại các mảng bám tích tụ.
2.2.4.4. Bảo vệ gan
Lucidone A và Lucidenol là hai hoạt chất chính trong nhóm triterpenoid của nấm
Linh Chi có thể bảo vệ gan khỏi bị hư hại bởi các yếu tố sinh lý và sinh học [29].
Triterpenoid làm tăng tốc độ trao đổi chất của các loại thuốc và tăng cường khả
năng thải chất độc trong gan. Ganoderma lucidum cũng thích hợp cho điều trị viêm gan
mạn tính, loại bỏ hiệu quả các triệu chứng liên quan như chóng mặt, mệt mỏi.
2.2.4.5. Hạ huyết áp
Ganodermadiol, Ganoderic aicd B, D, F, H, K, Y là những hợp chất có khả
năng làm hạ huyết áp có trong nấm Linh Chi [29].
Trong một thử nghiệm lâm sàng sáu tháng thực hiện tại một bệnh viện
trường đại học ở Tokyo, gần một nửa (47,5%) của 53 bệnh nhân tăng huyết áp thì
tình trạng bệnh tăng huyết áp được giảm đáng kể sau khi uống chế phẩm
triterpenoid từ Linh Chi. Một kết quả tương tự cũng được thử nghiệm lâm sàng trên
người của các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc mà không có bất kỳ tác dụng phụ.
2.2.4.6. Chống khối u
Nguyên nhân chính cho sự phát triển của khối u là rối loạn hoặc hệ thống
miễn dịch hoạt động kém. Các hạt triterpenoid tự do liên kết với nhau một cách chặt
chẽ hình thành axit ganoderic chống viêm và kháng nguyên lại các khối
u.Triterpenoid có thể điều chỉnh tốt nhất và kích hoạt hệ thống miễn dịch. Nó nổi
bật giúp tăng cường chức năng miễn dịch cơ thể và tăng khả năng tự vệ chống lại
ung thư. Triterpenoid làm tăng cường chức năng của đại thực bào monocytic thông
biết, triterpenoid trong Nấm Linh Chi có tác dụng làm giảm xu thế kết bờ của tiểu
cầu, giảm nồng độ mỡ trong máu, giảm co tắc mạch, giải tỏa cơn đau thắt tim.
Ngoài ra, nó còn có tác dụng với hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, làm giảm bệnh gan mãn
16
tính, nâng cao chức năng của gan, thận….phục hồi hệ miễn dịch. Trước những tiền
năng về mặt dược lý triterpenoid trong nấm Linh Chi, triterpenoid được ứng dụng
nhiều trong thực phẩm.
2.2.5.1. Một số sản phẩm chứa triterpenoid trên thị trường
Nhờ vào những tác dụng to lớn mà triterpenoid mang lại cho cơ thể mà hiện
nay có rất nhiều các sản phẩm có bổ sung thành phần triterpenoid với mục đích hỗ
trợ điều trị ung thư, giảm kích cỡ khối u, ngăn ngừa khối u diễn tiến ác tính. Đồng
thời tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên, giảm cholesterol, mỡ máu,
Hình 2.3. Thực phẩm chức
năng có thành phần
triterpenoid ở dạng viên nén
Hình 2.4. Cao Linh Chi chứa
chế phẩm triterpenoid
Hình 2.5. Thực
phẩm có chưa hoạt
chất trích ly trong
nấm Linh Chi
2.4. Trích ly và thu nhận
2.4.1. Cơ sở khoa học duy trì và trích ly triterpenoid trong nấm Linh Chi
Theo các nghiên cứu thì triterpenoid hầu hết các triterpenoid có đặc tính
chung là tan tốt trong eter dầu hỏa, ethanol, methanol, hexan, chloroform, ít tan
- Dựa vào phương pháp và số bậc trích ly có hai loại là trích ly một bậc và
nhiều bậc. Với phương pháp trích ly một bậc thì toàn bộ quá trình trích ly được thực
hiện trong thiết bị trích ly, nguyên liệu và dung môi chỉ tiếp xúc một lần. Phương
pháp trích ly nhiều bậc được tiến hành trong một số thiết bị trích ly. Ở thiết bị cuối
cùng dung dịch đậm đặc đi vào nồi chưng. Hơi dung môi từ thiết bị chưng đi vào
thiết bị ngưng tụ rồi vào thùng chứa rồi vào thiết bị thứ nhất. Quá trình tiếp tục cho
đến khi đạt được độ trích ly cần thiết của nồi thứ nhất. Sau đó tháo hết dung môi và
bã ra khỏi thiết bị thứ nhất rồi cho vật liệu mới vào, lúc này thiết bị thứ nhất thành
thiết bị cuối và thiết bị thứ hai giờ thành thiết bị thứ nhất. Quá trình cứ tiếp tục như
vậy, hệ thống làm việc liên tục [11].
- Phương pháp trích ly bằng thiết bị Soxhlet: Chuẩn bị nguyên liệu, bọc giấy, bịt 2
đầu rồi đặt vào trụ chiết. Dùng dung môi chiết trong thời gian nhất định. Sau khi thực
hiện các chu trình chiết lấy dịch chiết ra đem cô chân không thu được hoạt chất thô.
2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu Linh Chi trong nước và trên thế giới
2.5.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu nấm Linh Chi trên thế giới
* Tình hình sản xuất
Trung Quốc được coi là cái nôi phát hiện nấm Linh Chi. Ngay từ đầu thế kỷ
17 (1621), nấm Linh Chi đã được biết đến, nuôi trồng và sử dụng như nguồn dược
18
liệu quý. Nấm Linh Chi hay gặp ở nơi có khí hậu lạnh như Tứ Xuyên, Phúc Kiến,
Quảng Đông Quốc gia này được coi là trung tâm lớn nhất thế giới về nuôi trồng
và sản xuất nấm Linh Chi. Hàng năm, trên thế giới sản xuất 4300 tấn nấm Linh Chi,
riêng Trung Quốc chiếm 3000 tấn, còn lại là Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Thái
Lan, Mỹ, Malaysia, Việt Nam, Indonesia và Srilanka. Đến nay có rất nhiều công
trình nghiên cứu về giá trị dược liệu của nấm Linh Chi. Trước những lợi ích to lớn
từ Linh Chi, nhiều cơ sở nuôi trồng nấm Linh Chi đã được xây dựng đặc biệt là
Linh Chi đã được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp ở Mỹ. Ngoài ra tai Mỹ, Viện
nghiên cứu nấm Linh Chi quốc tế đã được thành lập ở New York [33].
* Tình hình nghiên cứu
Nấm Linh Chi, từ nhiều ngàn năm nay đã được trọng dụng ở Á Đông, hiện
Từ thập niên 90, nấm Linh Chi mới thực sự nuôi trồng nhiều ở Việt Nam.
Ngoài ra, còn thấy 15 loài nấm Linh Chi mọc hoang dại ở rừng Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Gia
Lai, Đăk Lắc. Tại hội nghị kết quả công tác chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm
ăn và nấm dược liệu, theo tài liệu đã được công bố tới nay có 32/61 tỉnh thành có cơ
sở nuôi trồng nấm dược liệu (tháng 12/2001). Hiện nay có rất nhiều Viện, Trung
tâm nghiên cứu về nấm Linh Chi ở cả Bắc và Nam nhằm lựa chọn những chủng có
năng suất cao, phẩm chất tốt, phù hợp với khí hậu và đặc biệt có thể phổ biến đại trà
cho các cơ sơ nuôi trồng ở một số nơi để tận dụng nguồn nguyên liệu cellulose có
sẵn, tăng thu nhập cho người lao động. Mặt khác, nuôi trồng nấm Linh Chi để cung
cấp nguồn dược liệu trong nước, bổ sung cho thực phẩm và một phần để xuất khẩu.
* Tình hình nghiên cứu
Hiện nay trong nước cũng rất quan tâm và có khá nhiều nghiên cứu về trích
ly và ứng dụng các hoạt chất sinh học trong nấm Linh Chi .
Nhóm nghiên cứu Viện Công nghệ thực phẩm của T.S Trương Thị Hòa
trong nghiên cứu “Trích ly hoạt chất sinh học từ nấm Linh Chi ” đã đã xác định
được phương pháp trích ly các hoạt chất sinh học sử dụng cho công nghệ sản xuất
rượu bổ. Phương pháp trích ly bằng ethanol với tỷ lệ dung môi / nguyên liệu là 1/10
đạt hiệu suất cao (8,8%) khi chiết lần 1 bằng ethanol 96
0
, lần 2 bằng ethanol 70
0
, lần
3 bằng ethanol 45
0
. Ngoài ra còn sử dụng enzyme Novozyme 342 (hỗn hợp của
enzyme cellulase và hemicellulase) đạt hiệu suất cao nhất (10,2%) ở điều kiên nhiệt
độ 60
0
C, nồng độ enzyme 0,21% trong 120 phút. Ưu điểm của phương pháp trích lý