ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM
trần thiên khá
Tờn ti: T
Nghiên cứu quy trình trích ly hoạt chất sinh học
Thỏi Nguyờn, 2014
ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Cụng ngh Thc phm
Khoa : CNSH - CNTP
Lp : 42 - CNTP
Khoỏ hc : 2010 - 2014
Ging viờn hng dn : 1. ThS. Nguyn c Tin
2.ThS. Trn Th Lý
Thỏi Nguyờn, 2014
LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
ThS. Nguyễn Đức Tiến - Trưởng Bộ môn Nghiên cứu phụ phẩm và Môi
trường nông nghiệp thuộc Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu
hoạch, người đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tận tình và truyền đạt cho tôi
những kiến thức quý báu trong quá trình thôi thực hiện luận văn.
ThS.Trần Thị Lý – cô giáo trong Bộ môn Công nghệ thực phẩm, khoa
Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm – trường Ðại học Nông Lâm
Thái Nguyên đã giúp đỡ, hỗ trợ về phương diện nghiên cứu, kiến thức và có
những góp ý sâu sắc trong thời gian tôi thực hiện ðề tài.
Tôi xin gửi lời yêu thương chân thành đến bố mẹ, anh chị đã luôn ở bên
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của thời gian đến khả năng trích ly phlorotannin 38
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của số lần trích ly đến khả năng trích ly phlorotannin 39
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của nhiệt độ cô đặc đến hàm lượng phlorotannin 40
Bảng 4.8. Kết quả đánh giá cảm quan dịch trích ly 42
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Phloroglucinol (i) và phlorotannin [tetrafucol A (ii),
fucodiphloroethol B (iii), fucodiphlorethol A (iv), tetrafuhalol A (v),
tetraisofuhalol (vi), phlorofucofuroeckol (vii)] và hoạt tính của chúng 12
Hình 4.1. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu đến khả năng
trích ly phlorotannin 31
Hình 4.2. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của dung môi đến khả năng trích ly
phlorotannin 32
Hình 4.3. Đồ thì biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi đến khả năng trích ly
phlorotannin 34
Hình 4.4. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trích ly
phlorotannin 36
2.1.2. Phân bố 4
2.1.3. Thành phần hóa học có trong rong mơ 4
2.1.4. Vai trò của rong mơ đối với con người 9
2.2. Giới thiệu về các hợp chất chống oxy hóa hiện nay 10
2.3. Giới thiệu về hợp chất Phlorotannin 12
2.3.1. Đặc điểm 12
2.3.2. Cơ chế oxi hóa của phlorotannin 13
2.3.3. Hoạt tính sinh học của phlorotannin 14
2.3.4. Tình hình nghiên cứu phlorotannin trên thế giới 15
2.3.5. Tình hình nghiên cứu phlorotannin ở Việt Nam 17
2.4. Giới thiệu về quá trình trích ly 18
2.4.1. Cơ sở của quá trình trích ly 18
2.4.2. Phạm vi sử dụng của quá trình 19
2.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly 19
2.5. Giới thiệu về phương pháp thu nhận 21
trích ly phlorotannin 31
4.2. Kết quả xác định ảnh hưởng của dung môi đến khả năng trích ly
phlorotannin 32
4.3. Kết quả xác định ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi đến khả năng trích ly
Phlorotannin 34
4.4. Kết quả xác định ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng trích ly
phlorotannin 36
4.6. Kết quả xác định ảnh hưởng của số lần trích ly đến khả năng trích ly
phlorotannin 39
4.7. Kết quả xác định thông số thích hợp của quá trình cô đặc 40
4.8. Kết quả xác định thông số thông số thích hợp của quá trình ly tâm 42
4.9. Đề xuất quy trình trích ly phlorotannin từ rong Sargassum Polycystom. 44
PHẦN 5 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1. Kết luận 47
5.2. Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
đối tượng nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta trữ lượng rong
biển rất lớn, là nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú, rong biển chiếm vị
trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam. Hệ rong biển có nhiều
2
loài, một trong những loài có nhiều tính năng ưu việt được nhiều nhà nghiên
cứu ở nước ta quan tâm tới là loài rong mơ. Người ta đã phát hiện ra nhiều
thành phần quý có trong rong mơ như: Iod, Alginate, Fuccoidin, hợp chất
chống oxi hóa (phlorotannin), các axit béo Rất có giá trị trong y học, thực
phẩm, dược phẩm… Xuất phát từ nhu cầu của xã hội hiện đại, đồng thời tận
dụng được nguồn nguyên liệu dồi dào, cần có những tìm hiểu, nghiên cứu,
tách chiết ra các hoạt tính sinh học đặc biệt là phlorotannin để gia tăng giá trị
rong mơ Việt Nam.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu quy trình
trích ly hoạt chất sinh học Phlorotannin từ rong mơ cho chế biến thực
phẩm”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Nghiên cứu quy trình trích ly hoạt chất sinh học Phlorotannin từ rong
mơ cho chế biến thực phẩm.
1.2.2. Yêu cầu
Ảnh hưởng của các điều kiện xử lý nguyên liệu đến khả năng trích ly
Phlorotannin từ rong mơ.
Xác định các thông số của quá trình trích ly Phlorotannin từ rong mơ.
Lọc, cô dịch trích ly và thu nhận chế phẩm Phlorotannin trích ly.
Đưa ra quy trình sản xuất chế phẩm Phlorotannin.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
tử cái gọi là trứng hay noãn cầu sẽ được phóng thích khỏi giao tử phòng cái.
Sự thụ tinh chỉ xảy ra với các giao tử đã được phóng thích. Noãn cầu sau khi
thoát ra thường có một lớp nhầy dính chung quanh đế cái. Quan sát các noãn
cầu này dưới kính hiển vi chúng ta thấy hầu hết chúng đã thụ tinh và bắt đầu
phân cắt [5].
2.1.2. Phân bố
Rong mơ phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin, Úc,… Ở
Việt Nam loại thực vật này phân bố rộng, kéo dài từ vùng biển Quảng Ninh
đến Kiên Giang và các hải đảo, tập trung nhiều nhất ở vùng bờ biển của thành
phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận,
Quảng Ninh. Năng suất ở các vùng tập trung đó có khi lên đến 7kg/m
2
mặt
nước, bình quân trên dưới 5,5kg/m
2
, tạo nên nguồn nguyên liệu bền vững cho
việc khai thác chế biến và cũng điểm chỉ những môi trường nuôi trồng thuận
lợi [20].
Rong mơ là loài chiếm ưu thế nhất ở các khu vực với trữ lượng chiếm
98% tổng trữ lượng của các bãi rong, mật độ cây trung bình 43,8 ±
20,2cây/m
2
và sinh lượng trung bình đạt 456 ± 64,2g khô/m
2
[7].
Bảng 2.1. Diện tích rong mơ theo vùng biển các tỉnh.
Các địa danh
Diện tích
(m
21,01%; và chất xơ tổng số 4,83% [17].
Kotake – Nara và cộng sự nghiên cứu cho thấy rong nâu chi
Sargassum và Turbinaria ở vùng nhiệt đới thường có hàm lượng phenol và
tannin tương đối thấp hơn nhiều so với ở vùng ôn đới, do đó 2 chi rong nâu ở
vùng nhiệt đới thường là thức ăn cho cá, động vật ăn cỏ (ở vụng nhiệt đới
dao động giữa 0 và 1,6% trọng lượng khô, vùng ôn đới dao động từ 3 đến
12% trọng lượng khô) [15].
Rong mơ có khả năng tích lũy hàng loạt các nguyên tố hóa học với hệ
số tập trung cao, nồng độ các nguyên tố này trong tro của chúng có thể gấp
hàng vạn hay hàng triệu lần so với trong nước biển. Đã tìm thấy khá nhiều
nguyên tố hóa học trong rong mơ: Al, Si, Mg, Ca, Sr, Ba, fe, V, Mn, Ti, Co,
Ni, Cr, Sn, Ag, Bi, Cu, Pb, Zn, Ga, Be, Na, K… [5].
2.1.3.1. Sắc tố
Sắc tố trong rong mơ là diệp lục tố (Chlorophyl), diệp hoàng tố
(Xantophyl), sắc tố màu nâu (Fucoxanthin), sắc tố đỏ (Caroten). Tùy theo tỷ
lệ các loại sắc tố mà rong có màu từ nâu – vàng nâu – nâu đậm – vàng lục.
Nhìn chung sắc tố của rong mơ khá bền [8].
2.1.3.2. Gluxit
* Monosacaride [8]
Monosacaride quan trọng trong rong mơ là đường Mannitol được
Stenhouds phát hiện ra năm 1884 và được Kylin chứng minh thêm. Mannitol
có công thức tổng quát: HOCH
2
– (CHOH)
4
– CH
2
OH. Mannitol tan được
6
Yên – Khánh Hòa có hàm lượng Alginic cao hơn hẳn.
7
- Acid Fucxinic: có tính chất gần giống với acid Alginic. Acid Fucxinic
tác dụng với acid Sunfuric tạo hợp chất có màu phụ thuộc vào nồng độ acid
Sunfuric.
Chẳng hạn:
Acid Fucxinic + H
2
SO
4
0,1%: Cho sản phẩm màu xanh.
Acid Fucxinic + H
2
SO
4
10%: Cho sản phẩm màu xanh tím.
Acid Fucxinic + H
2
SO
4
25%: Cho sản phẩm màu tím.
Acid Fucxinic + H
2
SO
4
25%: Cho sản phẩm màu đỏ.
Acid Fucxinic + H
2
SO
mơ có thể sử dụng làm thực phẩm. Protein của rong mơ thường ở dạng kết
hợp với Iod tạo Iod hữu cơ như: MonoIodInzodizin, DiIodInzodizin. Iod hữu
cơ rất có giá trị trong y học. Do vậy rong mơ còn được dùng làm thuốc phòng
chống và chữa bệnh bướu cổ (Basedow).
2.1.3.4. Hợp chất chống oxy hóa
Polyphenol trong rong mơ, được phân loại thành các nhóm khác nhau
theo cấu trúc của chúng, bởi sự hiện diện của một số nhóm hydroxyl vòng
thơm, chẳng hạn như các flavonoid, acid phenolic và lignans [25]. Chúng
được tìm thấy rộng rãi trong giới thực vật như các chất chuyển hóa chịu trách
nhiệm về sắc tố, sinh sản, tăng trưởng và có cơ chế bảo vệ chống lại tác nhân
gây bệnh [27]. Polyphenol đã được chứng minh hoạt động chống oxy hóa đa
chức năng, do vòng phenol của nó hoạt động như bẫy điện tử nhặt rác peroxy,
anion và các gốc hydroxyl. Phlorotannins là nhóm duy nhất của tannin của
rong mơ ở biển, chúng gồm polyme phloroglucinols (1,3,5 –
trihydroxybenze), có hàm lượng đạt lên đến 1 – 15% trọng lượng khô của
rong mơ [11]. Màu nâu với màu đen của Phaephyceae là từ phlorotannins và
các sản phẩm quá trình oxy hóa của chúng. Phlorotannins là hợp chất rất ưa
nước [28] và nó cũng được cho là hợp chất có khả năng chống oxy hóa của
rong mơ [9]. Các chất trích ly từ tảo nâu đã cho thấy tác dụng bảo vệ chống
lại tổn thương tế bào hydro peroxide gây ra bằng cách khử gốc tự do [25].
Phlorotannins có tiềm năng ứng dụng trong thành phần của thực phẩm chức
năng [24] đã nghiên cứu các hoạt động chống oxy hóa của phlorotannins phân
lập từ Laminarian ở Nhật Bản, cho thấy hoạt động gấp hai lần hiệu quả chống
oxy hóa như catechin, acid ascorbic và α – tocopherol.
9
2.1.4. Vai trò của rong mơ đối với con người
Nguồn lợi mà rong mơ đem lại cho thế giới rất lớn. Các sản phẩm
truyền thống của nó là mannitol (35000 tấn/năm), alginate (hàng triệu
tấn/năm) [5]. Trong khoảng chục năm gần đây, các nghiên cứu phát hiện rong
được nghiên cứu rất nhiều. Polyphenol được chia thành các nhóm chính là:
Flavonoids, acid phenolic, tannin, vitamin C, Vitamin E, beta – caroten.
- Flavonoid [32]: Flavonoid là một trong những nhóm hợp chất phong
phú và đa dạng vào bậc nhất trong thiên nhiên, có mặt không những chỉ trong
những thực vật bậc cao, mà còn trong một số thực vật bậc thấp, thậm chí còn
có cả trong các loài tảo. Hơn một nửa rau quả thông thường có chứa
flavonoid. Chúng cũng là thành phần hay gặp trong dược liệu có nguồn gốc
thực vật. Đến nay, flavonoid vẫn là lớp chất được các nhà hoá học các hợp
chất tự nhiên quan tâm nghiên cứu, có khoảng trên 11.000 hợp chất flavonoid
đã được biết về cấu trúc. Flavonoid không những có giá trị về mặt cảm quan
mà được khai thác, sử dụng trong nhiều lĩnh vực: Thực phẩm, mỹ phẩm và có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong y dược. Flavonoid có ứng dụng trong y học
để điều trị một số bệnh như: Viêm nhiễm, dị ứng, loét dạ dày và hành tá tràng,
giúp cơ thể điều hoà các quá trình chuyển hoá, chống lão hoá, làm bền thành
mạch máu, và giảm lượng cholesterol trong máu. Các nhà hoá sinh cho rằng
flavonoid là một chất chống oxi hoá lý tưởng. Hiện nay nhiều flavonoit được
phân lập từ thực vật đã được ứng dụng thành các chế phẩm đặc trị bệnh và sử
dụng trong bảo quản thực phẩm, được thế giới công nhận là một trong những
lớp chất thiên nhiên có tác dụng làm chậm quá trình lão hoá và đột biến của
các tế bào trong cơ thể.
- Acid phenolic [12]: Được chia thành hai loại là dẫn xuất của acid
benzoic, chẳng hạn như acid gallic, và các dẫn xuất của acidcinnamic, acid
caffeic và các acid ferulic. Các acid cinnamiac phổ biến hơn. Thực phẩm giàu
acid phenolic có lợi cho sức khỏe, chúng có khả năng chống oxy hóa, ngăn
ngừa tổn thương tế bào do phản ứng oxy hóa các gốc tự do. Acid phenolic
chiếm khoảng một phần ba của hợp chất phenol trong chế độ ăn uống, có thể
có mặt ở thực vật trong các hình thức tự do và liên kết với các thành phần khác.
Phenol có thể được liên kết với các thành phần thực vật khác nhau thông qua
các liên kết este, ether. Các acid hydroxybenzoic gallic, p - hydroxy benzoic,
protocatechuic, vanillic syringic acid, phổ biến cấu trúc C6 – C1.
cam ở củ cà rốt, beta – caroten hiện giờ là loại chống oxy hóa được tiêu thụ
rất nhiều trên thị trường. Chất này cần cho sự tăng trưởng và cho chức năng
12
của các mô, của xương; tăng cường tính miễn dịch, giảm nguy cơ gây ung
thư, giúp thị lực tốt hơn, nó có thể biến đổi thành vitamin A.
Các chất chống oxy hóa khác gồm có: Selenium, bioflavonoid và
ubiquinon cũng được biết đến với khả năng chống lão hóa, nhưng không phổ
biến như vitamine C, E và beta – Caroten.
2.3. Giới thiệu về hợp chất Phlorotannin
2.3.1. Đặc điểm
Theo Ragan M. A [23] thì phlorotannin được định nghĩa như sau:
Chúng là polyme sinh học được hình thành từ gốc phloroglucinol (1,3,5 –
trihydroxybenzen) và các gốc này liên kết với nhau bằng nhiều cách khác
nhau. Chính vì vậy mà chúng tạo nên nhiều cấu trúc khác nhau và đôi lúc có
trọng lượng phân tử lên đến 650KDA. Cho đến nay, trên thế giới có một số
cấu trúc của các hợp chất thuộc nhóm phlorotannin từ rong Mơ đã được xác
định và nhiều dịch chiết thô của chúng đã được khảo sát hoạt tính sinh học.
Tuy nhiên, rất ít công trình công bố một cách đầy đủ các cấu trúc của tất cả
các dẫn xuất của phloroglucinol trong dịch chiết phlorotannin thô được chiết
từ một loài rong cụ thể và hoạt tính của chúng và các công trình này chỉ được
công bố trong 10 trở lại đây.
Các nhà khoa học Hàn Quốc cũng đưa ra cấu trúc đầy đủ của các dẫn
xuất của phloroglucinol chiết từ loài rong Ecklonia cava bao gồm:
Hình 2.1. Phloroglucinol (i) và phlorotannin [tetrafucol A (ii),
fucodiphloroethol B (iii), fucodiphlorethol A (iv), tetrafuhalol A (v),
tetraisofuhalol (vi), phlorofucofuroeckol (vii)] và hoạt tính của chúng
13
nhận electron một cách dễ dàng (polyphenol là chất nhận các gốc tự do), tức
là chúng có khả năng dập tắt các quá trình tạo ra gốc tự do.
14
2.3.3. Hoạt tính sinh học của phlorotannin
Hoạt tính sinh học của phlorotannin được công bố nhiều nhất là hoạt
tính chống oxi hóa. Hoạt tính này được nghiên cứu thông qua khảo sát khả
năng quét các gốc DPPH (2,2 – diphenyl – 1 – picrylhydrasyl), gốc hydroxyl
(OH), các anion như superoxide anion (O
2
-
), khử sắt (III), tạo phức chelat với
các ion hóa trị (II) và oxi hóa lipid của chúng.
Các nhà khoa học Mexico đã xác định khả năng quét các gốc DPPH,
anion O
2
-
và hoạt tính khử của hỗn hợp các chất thuộc nhóm phlorotannin
được chiết từ một số loài rong Nâu sinh trưởng tại vùng biển nhiệt đới tại
Mexico. Họ đã thu các phlorotannin bằng chiết lạnh, sử dụng dung môi là
dichloromethanol: Methanol (2:1) trong 20 giờ. Kết quả thu được cho thấy tất
cả tổng phlorotannin được chiết từ các loài rong (Lobophora
variegate,Padina gymnospora, Dictyota cervicornis và một số loài rong thuộc
chi Sargassum, chi Turbinaria) đều có hoạt tính chống oxi hóa với giá trị
EC50 của gốc DPPH tương ứng là như sau: Lobophora variegate: 0,32 ±
0,01mg/ml; Padina gymnospora: 3,45mg/ml; chi Sargassum: Từ 6,64 –
7,14mg/ml; chi Turbinaria: 8,85mg/ml và chi Dictyota: 6,42mg/ml. Ngoài ra
tổng phlorotannin chiết từ loài Lopophora variegate còn thể hiện khả năng
quét gốc anion O
2
các hoạt động khử gốc tự do bằng DPPH. Kết quả: Các oligomers của
phloroglucinol là eckol; phlorofucofuroeckol A; dieckol and 8,8-bieckol;
phân lập từ tảo Eisenia bicyclis có hoạt tính chống oxy hóa cao và hiệu quả
hơn so với ascorbic và α – tocophenol [13].
Năm 2005, Masaaki Nakai, Norihiko Kageyama, Koichi Nakahara và
Wataru Miki đã sàng lọc phlorotannin từ 25 loài rong nâu ở vùng biển Nhật
Bản bằng cách sử dụng ethanol làm dung môi chiết. Kết quả cho thấy loài
Sargassum ringgoldianum cho hoạt tính chống oxy hóa là cao nhất, mạnh gấp
5 hoạt tính của catechin [30].
Năm 2006, Gin Nae Ahn, Kil Nam Kim, Seon Heui Cha, Choon Bok
Song, Jehee Lee, Moon Soo Heo, In Kyu Yeo, Nam Ho Lee, Young Heun Jee
và Jin Soo Kim, đánh giá hoạt động chống oxy hóa của phlorotannin (gồm ba
nhóm phloroglucinol, eckol and diecko) từ loài Ecklonia cava bằng phương
pháp quang phổ ESR và khảo nghiệm hiệu quả ức chế H
2
O
2
thông qua mức độ
tổn thương DNA. Kết quả cho thấy hiệu quả ức chế H
2
O
2
rất tốt.
Năm 2007, các tác giả Mayalen Zubia, Daniel Robledo, Yolanda
FreilePelegrin đã chiết xuất phlorotannin và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa
16
của 48 loài tảo biển (17 Chlorophyta, 8 Phaeophyta, 23 Rhodophyta) ở bờ
biển Yucantan và Quintana Roo (Mecico). Nhóm tác giả đã sử dụng
17
stolonifera. Sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao để xác định
đồng thời ba phlorotannin lớn eckol, dieckol, and phlorofucofuroeckol – A.
Các điều kiện sắc ký tối ưu: Cột – C18 (250 × 4,6mm) bằng cách sử dụng
tách rửa gradient tuyến tính của acetonitrile và nước có chứa axit formic 0,1%
UV 254nm. Phlorotannins tách được xác định bởi phổ sắc ký lỏng khối lượng.
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao cho thấy độ tuyến tính tốt (R
2
>
0,998), độ chính xác (1,4 – 9,5%), và độ chính xác (93,9 – 108,7%). Các giới
hạn phát hiện dao động 0,06 – 0,30mg/ml và các giới hạn thấp hơn định lượng
dao động 0,2 – 1,0mg/ml. Trong số phlorotannins, dieckol là phong phú nhất
trong cả ethanol và các chất chiết xuất từ acetate ethyl Ecklonia stolonifera
[15].
Năm 2012, Wang T, Jónsdóttir R, Liu H, Gu L, Kristinsson HG,
Raghavan S, Olafsdóttir G đã đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của
phlorotannin từ loài Fucus vesiculosu bằng DPPH. Sử dụng phương pháp sắc
ký cột hoặc siêu lọc để tinh chế. Kết quả cho thấy hoạt tính của phlorotannin
cao hơn rất nhiều so với acid ascorbic [24].
Hàm lượng phlorotannins tập trung trong rong biển màu nâu có thể
khác nhau giữa các loài, bị ảnh hưởng bởi kích thước, độ tuổi, loại mô, độ
mặn, mùa, mức độ dinh dưỡng, cường độ ăn thực vật, cường độ ánh sáng và
nhiệt độ nước.
2.3.5. Tình hình nghiên cứu phlorotannin ở Việt Nam
Hiện nay việc nghiên cứu tách chiết và ứng dụng phlorotannin vào
trong thực phẩm tại Việt Nam đã và đang được Viện Nghiên Cứu và ứng
dụng Nha Trang tiến hành nghiên cứu:
Năm 2009, Đặng Xuân Cường đã nghiên cứu thành công việc thu nhận
dịch chiết kháng khuẩn chứa polyphenol (phlorotannin) từ rong nâu Dictyota
Quá trình trích ly gồm hai giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Dung môi thấm ướt lên bề mặt nguyên liệu, sau đó thấm
sâu vào bên trong do quá trình thẩm thấu tạo ra dung dịch chứa các hoạt chất.
Sau đó dung môi tiếp tục hòa tan các chất trên bề mặt bằng cách đẩy các bọt
khí chiếm đầy trong các khe vách trống của tế bào.
Giai đoạn 2: Giai đoạn tiếp tục hòa tan các hoạt chất trong cácống mao
dẫn của nguyên liệu nhờ vào dung môi đã thấm sâu vào các lớp bên trong…