ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BẠCH THỊ ĐIỆP Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NẤM CÓ ÍCH
PAECILOMYCES JAVANICUS VÀ METARHIZIUM ANISOPLIAE
TRONG PHÒNG TRỪ SÂU XANH BƯỚM TRẮNG (PEIERIS
RAPAE) HẠI RAU HỌ HOA THẬP TỰ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành : Công nghệ sinh học
Khoa : CNSH - CNTP
Lớp : LTK8-CNSH
Khóa : 2012-2014
Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
học tập và nghiên cứu, em đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô,
đồng thời cũng nhận được sự giúp đỡ và động viên của gia đình, bạn bè.
Trước hết, em xin gửi lời chân thành cảm ơn tới tất cả các quý thầy cô
trong khoa CNSH - CNTP, Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên. Cảm ơn
Viện Bảo vệ thực vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu đề tài luận văn này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô PGS. TS. Phạm Thị
Vượng, người đã tận tâm truyền đạt kiến thức cho em và hơn cả là tấm gương
về lòng say mê nghiên cứu khoa học. Xin gửi lời cảm ơn tới thầy TS. Phạm
Văn Duy, giảng viên khoa CNSH - CNTP đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn em
hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn Th.s. Nguyễn Thị Chúc Quỳnh cùng toàn
thể anh, chị trong nhóm nghiên cứu Nấm côn trùng, Trung tâm Đấu tranh sinh
học đã truyền đạt cho em tính chính xác, nghiêm túc trong nghiên cứu khoa
học cũng như tinh thần trách nhiệm với những công việc mình làm. Cuối cùng
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng tới những người thân trong gia đình, bố,
mẹ, anh chị em đã động viên, giúp đỡ em cả về vật chất lẫn tinh thần trong
quá trình học tập.
Hà Nội, ngày 7 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Bạch Thị Điệp
MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
và Metarhizium anisopliae 21
3.4.4. Đánh giá hiệu quả gây chết sâu ở nấm Paecilomyces javanicus và
Metarhizium anisopliae ở các liều lượng khác nhau. 23
3.5. Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.5. Tính toán và xử lý số liệu 25
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1. Đánh giá khả năng ký sinh sâu hại của một số nguồn nấm đã thu thập
được tại Viện Bảo vệ thực vật. 26
4.2. Đánh giá tuyển chọn chủng nấm Metarhizium anisopliae và Peacylomyces
javanicus có độc tính cao sau khi đã phân lập lại và làm thuần. 29
4.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của nấm Paecilomyces javanicus và
Metarhizium anisopliae 35
4.3.1. Xác định môi trường tối ưu nhân sinh khối nấm Paecilomyces
javanicus 35
4.3.2. Xác định nhiệt độ thích hợp để nhân sinh khối chế phẩm 39
4.4. Nghiên cứu liều lượng diệt sâu thích hợp với nấm Paecilomyces
javanicus và Metarhizium anisopliae trong phòng thí nghiệm và nhà lưới 41
4.4.1. Thí nghiệm trong phòng 42
4.4.2. Thí nghiệm ngoài nhà lưới 45
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1. Kết luận 48
5.2. Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các ký hiệu, chữ viết tắt Diễn giải
T
Bảng 4.10. Hiệu quả diệt sâu của chế phẩm nấm P. javanicus (Pae-
SXBT
1
) với các liều lượng khác nhau 42
Bảng 4.11. Hiệu quả diệt sâu của chế phẩm nấm M. anisopliae (Ma-
SXBT
1
) với các liều lượng khác nhau 43
Bảng 4.12. Hiệu quả diệt sâu của chế phẩm nấm P. javanicus với các liều
lượng khác nhau 45
Bảng 4.13. Hiệu quả diệt sâu của chế phẩm nấm M. anisopliae với các liều
lượng khác nhau 46
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bắp cải bị sâu xanh bướm trắng gây hại 6
Hình 2.2. Khuẩn lạc Paecilomyces spp. (A) và bào tử nấm P. javanicus
(B) (nguồn ) 8
Hình 2.3. Khuẩn lạc Metarhizium anisopliae (A) và bào tử nấm
Metarhizium anisopliae (B) (nguồn ) 10
Hình 4.1. Khả năng diệt sâu của một số nguồn nấm thu thập được tại Viện
Bảo vệ thực vật. 27
Hình 4.2. Tỷ lệ ký sinh trở lại trên SXBT của một số nguồn nấm thu thập
được tại Viện Bảo vệ thực vật 28
Hình 4.3. Sâu nhiễm nấm M. anisopliae chuyển màu vàng xuất hiện vết
đen (A) và bào tử có màu xanh lục (B) 31
Hình 4.4. SXBT gây hại trên rau (A) và sâu bị nhiễm nấm P. javanicus (B) 31
Hình 4.5. Khuẩn lạc P. javanicus sau 3 ngày (A), 5 ngày (B) và 7 ngày (C) 31
Hình 4.6. Khuẩn lạc của nấm M. anisopliae đã phân lập, làm thuần sau 3
ngày (A) và 7 ngày (B) 32
Kết hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm, rau họ hoa thập tự ở nước ta bị
nhiều loài sâu phá hại như sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, muội, bọ
nhảy…. Trong đó, sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) là đối tượng gây hại
nguy hiểm nhất trên rau họ hoa thập tự nói chung và bắp cải nói riêng ở khắp
các vùng trồng rau, đặc biệt là ở phía Bắc, ảnh hưởng đến năng suất và chất
lượng rau [12]. Sâu xanh bướm trắng gây hại mạnh nhất từ tháng 10 năm
trước đến tháng 5 năm sau và nặng nhất trong tháng hai trên bắp cải cuộn.
Với đặc tính vòng đời ngắn, sinh sản nhiều, đặc biệt là tính kháng thuốc phát
triển rất nhanh dẫn đến vấn đề dịch hại đã, đang nảy sinh nhanh chóng trên
diện rộng, nhất là ở các vùng sản xuất rau tập trung, gây thiệt hại lớn về năng
suất, chất lượng, kinh tế cho người nông dân. Công tác phòng trừ sâu hại gặp
nhiều khó khăn. Để phòng trừ chúng, người nông dân đã thường xuyên sử
dụng các loại thuốc hóa học bảo vệ thực vật trên đồng ruộng [9].
Hàng năm, có tới hàng ngàn trường hợp bị ngộ độc và nhiều trường
hợp tử vong. Ngoài ra, việc lạm dụng thuốc hóa học còn làm giảm số lượng
thiên địch, sinh vật có ích giảm 70 - 100%, sâu hại kháng thuốc 20 - 1000 lần
so với bình thường, dẫn đến mất cân bằng sinh thái [12].
Việc lạm dụng thuốc hóa học trong bảo vệ thực vật của người dân đã và
đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con
người…. Không những vậy, nhiều loại thuốc hóa học đã bị cấm sử dụng vẫn
được nông dân sử dụng tràn lan trên đồng ruộng. Song song việc đối mặt với
2
tác hại của sâu bệnh trên đồng ruộng thì nông dân còn phải chịu tác động
không nhỏ của sự ô nhiễm đất, nước, không khí. Cùng với việc các loại rau ăn
hàng ngày tồn dư lượng thuốc hóa học cao gấp nhiều lần cho phép đã dẫn đến
nhiều hậu quả nghiêm trọng với sức khỏe con người.
Xây dựng những vùng rau sản xuất an toàn đã và đang là yêu cầu cấp
bách đối với thực tiễn sản xuất nông nghiệp. Trong những hướng phòng trừ
sâu bệnh hại rau thì việc áp dụng biện pháp sinh học là cơ sở để hình thành
nên các vùng sản xuất rau an toàn. Do đó, biện pháp phòng trừ sinh học cần
làm cơ sở cho việc xây dựng biện pháp sinh học phòng trừ SXBT có hiệu quả.
- Đề tài là cơ sở khoa học, định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
trong phòng trừ SXBT ngoài đồng ruộng.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu sử dụng chế phẩm Paecilomyces javanicus, Metarhizium
anisopliae trong phòng trừ SXBT, giảm sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, góp
phần bảo vệ môi trường sinh thái.
- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế kỹ thuật của
biện pháp phòng trừ sinh học trong hệ thống quản lý tổng hợp sâu hại rau họ
hoa thập tự (IPM), bảo vệ môi trường, thiên địch trên đồng ruộng, tạo sản
phẩm rau an toàn cho người tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu.
4
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học việc sử dụng chế phẩm nấm có ích trong phòng trừ
sâu hại
Trong sinh quần nông nghiệp có nhiều tác nhân sinh học là nhân tố
điều hòa tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái của quần thể sinh vật trên đồng
ruộng [6]. Trong số các tác nhân sinh học gây chết sâu hại cây trồng, nấm ký
sinh côn trùng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Bằng quá trình đấu tranh
sinh học, các nấm diệt sâu trong thiên nhiên đã làm được nhiệm vụ điều hoà
lại tên cho loài nấm gây bệnh côn trùng Metarhizium anisopliae là nấm
Mertarhizium album và Mertarhizium brunneum. Hiện nay, nhiều nước trên
thế giới đã sản xuất thành công thuốc nấm Metarhizium anisopliae với số
lượng lớn và đã sử dụng rộng rãi để phòng trừ nhiều loại côn trùng hại cây
trồng đạt hiệu quả cao [13].
Vấn đề sử dụng nấm có ích trong phòng trừ sinh học được quan tâm
nghiên cứu. Người đi tiên phong trong lĩnh vực này chính là nhà khoa học
người Nga Ilya Ilich Mechnikov (1884). Ông cùng người học trò của mình là
nhà côn trùng học Isac Krasirsik đã tiến hành sản xuất bào tử nấm
Metarhizium anisopliae thuần khiết, trộn với đất bột để rải ra đồng ruộng diệt
sâu non và trưởng thành bọ đầu dại hại củ cải đường (Bothinoderes
punctiventris) và đã đạt được hiệu quả gây chết đến 55 - 80% sau 10 - 14
ngày. Tiếp đó, rất nhiều công trình nghiên cứu sản xuất và ứng dụng nấm có
ích phòng trừ sâu hại cây trồng.
Do có sự phân bố rộng rãi với phổ ký chủ rộng, nấm M. anisopliae và
P. javanicus đã được ứng dụng hiệu quả trong phòng trừ sinh học đối với côn
trùng có hại [30; 34].
2.2. Tình hình phát sinh, gây hại của sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae)
Sâu xanh bướm trắng có tên khoa học là Pieris rapae, thuộc họ Pieridae,
bộ Lepidoptera gây hại chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, đặc biệt trên bắp cải
[26]. Đối với ruộng rau mới trồng, sâu thường chui vào phần ngọn cây để phá
hại làm các lá khi lớn bị cong queo, thủng lỗ chỗ. Với bắp cải đã cuốn, sâu non
đục sâu vào trong bắp và thải phân loang lổ, làm giảm chất lượng, mẫu mã sản
phẩm. Sâu xanh bướm trắng phát sinh gây hại quanh năm, trong đó có 2 đợt gây
hại chính trên rau xuân (tháng 3 - tháng 6) và rau đông (tháng 10 - tháng 11) [38].
6
Nghiên cứu về tình hình gây hại của các đối tượng sâu hại trên rau đã
được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, kết quả điều tra 3
năm 1995 - 1997 ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng của Lê văn Trịnh đã xác
định được 31 loài côn trùng gây hại trên rau thập tự, trong đó 3 đối tượng
Đặc điểm hình thái
Kết quả nghiên cứu của tác giả Samson R. A. (1974, 2004) [29; 30] cho
thấy, nấm Paecilomyces javanicus phát triển tương đối tốt trên môi trường
Malt - Agar. Đường kính khuẩn lạc đạt trên 3 cm sau 14 ngày nuôi cấy ở
25
0
C. Bề mặt khuẩn lạc có dạng bột ghồ ghề đến bông xốp, ban đầu có màu
trắng sau chuyển màu kem rồi chuyển màu tím xám. Sợi nấm mịn, ngăn vách,
trong suốt, đường kính 0,5 - 2,2 µm. Cành bào tử mọc trực tiếp từ sợi nấm
dinh dưỡng hoặc sợi nấm khí sinh với chiều dài lên đến 50 µm. Trên cành bào
tử hình thành các điểm sinh thể bình, tại mỗi điểm có khoảng 2 - 3 thể bình.
Thể bình có kích thước 8 - 14 x 2 - 2,8 µm. Thể bình có hình dạng thuôn nhọn
tại đỉnh, đầu thuôn nhọn nhỏ tới 0,7 - 1,4 µm. Bào tử đính đa số hình trụ, đôi
khi hình thoi, mịn, trong suốt, kích thước 3,2 - 5,6 × 1,6 - 2,8 µm. Trên côn
trùng, nấm thường có dạng bột trắng tím và hình thành nhiều cành bào tử
phân sinh. Cành bào tử phân sinh thường tăng về chiều cao, với thể bình gần
như hình cầu. Các bào tử khi nuôi cấy trên môi trường agar có thể sinh bào tử
nhỏ, hình thoi với kích thước từ 3 - 3,5 x 1,2 - 1,7 µm [29; 30].
Khuẩn lạc P. javanicus trên môi trường MEA (Malt Extract Agar) phát
triển chậm, đường kính khoảng 30 mm trong 14 ngày ở 25
0
C. Bào tử trần thường
có hình trụ điển hình, trong suốt và có kích thước 5 - 7,4 x 1,4 - 1,7 µm [2].
8Hình 2.2. Khuẩn lạc Paecilomyces spp. (A) và bào tử nấm P. javanicus (B)
(nguồn )
Đặc điểm sinh lý, sinh hóa
kiện thuận lợi bào tử nảy mầm và mọc thành sợi nấm đâm qua vỏ kitin và các
lỗ thông hơi của côn trùng. Trong quá trình đó, sợi nấm tiết ra phức hệ enzym
phân huỷ protein, lipit, kitin của côn trùng. Các enzyme đó là exoproteases,
endoproteases, esterases, lipase, chitinases và chitobiases. Trong đó,
chitinases và endoprotease là hai emzym giữ vai trò quan trọng nhất [31]. Sau
đó, sợi nấm phát triển ngay trong cơ thể côn trùng cho đến khi xuất hiện tế
bào nấm đầu tiên. Ở giai đoạn này, lympho của côn trùng chứa đầy sợi nấm,
các hồng cầu bị phá vỡ, dinh dưỡng bị đình trệ. Đồng thời, độc tố nấm tác
động vào hệ thần kinh và làm tê liệt hoạt động của côn trùng. Các ngoại độc
tố với bản chất hóa học là destruxin A (C
29
H
47
O
7
N
5
) và destruxin B
(C
30
H
51
O
7
N
5
) và Boverixin (C
45
H
57
C, ẩm độ 80%
sau 7 - 10 ngày nuôi cấy đường kính khuẩn lạc đạt 4 - 6 cm [33].
Hình 2.3. Khuẩn lạc Metarhizium anisopliae (A) và bào tử nấm
Metarhizium anisopliae (B) (nguồn )
Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của M. anisopliae
Metarhizium anisopliae không sinh trưởng tốt trên nền cơ chất không
có kitin, chúng sống được ở nhiệt độ thấp 8
0
C, nơi tích lũy nhiều CO
2
và thiếu
O
2
có biên độ về độ ẩm rộng, có thể sống đến 445 ngày. Ở nhiệt độ dưới 10
0
C
và trên 45
0
C nấm thường không hình thành bào tử. Nhiệt độ thích hợp cho sự
nảy mầm của bào tử nấm từ 25
- 30
0
C và bào tử chết khi ở 49 - 55
0
C, nhiệt độ
30
H
51
O
7
N
5
, có điểm sôi là
234
0
C, có bản chất hóa học là D - α - hydroxy - γ - methylvaleryl - L - prolyl - L -
isoleucyl - N - methyl - L - valyl - N - methyl - L - alanyl - β - alanyl lacton.
Destruxin A và B thường gây ra triệu chứng tê liệt thần kinh trên một số
sâu non của côn trùng hại cây trồng. Hai độc tố này chỉ độc đối với côn trùng hại
cây trồng khi chúng ăn phải mà không độc khi xâm nhập qua da [28].
Độc tố Destruxin E có tác động như một chất ức chế miễn dịch ngăn cản
phản ứng phòng vệ tế bào và thể dịch của một số côn trùng hại bộ hai cánh Diptera
và độc tố này có hiệu quả hơn loại A và B. Destruxin E có tác dụng như một chất
kháng sinh.
Nấm lục cương M. anisopliae có thể tạo ra các enzyme phân hủy
protein độc và các chất ức chế phản ứng kháng men protease trong tế bào máu
của côn trùng. Ngoài ra, còn tạo ra Chytochalasin có tác dụng ngăn cản sự
kéo dài sợi actin (protein cấu thành sợi lông côn trùng) [14].
Cơ chế xâm nhiễm và gây bệnh của M. anisopliae
Metarhizium anisopliae, tên khoa học cũ là Entomophthora anisopliae,
là một loại nấm mọc tự nhiên trong đất trên toàn thế giới và gây bệnh ở loài
côn trùng bằng cách ký sinh. Trong tự nhiên, khi bào tử nấm M. anisopliae rơi
vào cơ thể côn trùng, gặp điều kiện thời tiết thích hợp. Những bào tử vô tính
(gọi là conidia) của nấm tiếp xúc với cơ thể của ký chủ côn trùng 24 giờ thì sẽ
nảy mầm tạo ống mầm xuyên qua vỏ kitin côn trùng, sau đó phân nhánh tạo
triển tốt trên cả hai môi trường gạo và ngô có bổ xung pepton 0,2%, lượng
bào tử đạt tương ứng 8,72 x 10
12
bt/kg và 8,35 x 10
12
bt/kg cao hơn rất nhiều
so với công thức không bổ xung pepton. Kết quả thử nghiệm lên men chìm
nhân sinh khối sợi nấm, trong 2 loại môi trường là Potato Dextrose Agar
(PDA) bổ xung 0,5% pepton và môi trường Czapek - Dox bổ xung 0,5%
13
pepton thì môi trường PDA cho lượng sinh khối nấm cao hơn đạt 461,5 mg
sợi nấm/50ml môi trường, trong điều kiện nhiệt độ 25 - 26
0
C sau 8 ngày [27].
2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng chế phẩm nấm
có ích
2.5.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu ứng dụng nấm
Paecilomyces và Metarhizium rất phong phú và trải rộng khắp thế giới. Trên
thế giới đã ghi nhận được 146 loài nấm thuộc chi Paecilomyces. Tại Trung
Quốc, tác giả Liang Z. Q.(2005), đã thu thập và ghi nhận được 32 loài nấm
thuộc chi Paecilomyces. Trong các loài nấm thuộc chi Paecilomyces thì loài
Paecilomyces javanicus, P. fumosoroseus, P. farinosus đã được sử dụng để
kiểm soát nhiều loại sâu hại cây trồng khác nhau như lúa, ngô, rau, hoa và cây
cảnh trồng trong nhà kính và vườn ươm [25].
Các tác giả ở Mỹ, Bắc Mỹ và châu Mỹ la - tinh là người phải kể đến
đầu tiên trong việc nghiên cứu về nấm có ích. Ramosca trường Đại học
Kansas đã thí nghiệm nhân tạo gây dịch bệnh cho muỗi Culex quiquefaciates
bằng vi khuẩn Bacillus thuringensis và nấm M. anisopliae [26]. Li và CS đã
sử dụng 6 chủng bao gồm: 1 chủng Beauveria bassiana, 2 chủng của
sau 10 ngày [3].
Hiện nay, trên thế giới đã sản xuất sử dụng thành công nhiều loại chế
phẩm sinh học có nguồn gốc từ nấm Paecilomyces spp. để phòng trừ nhiều
loại sâu hại cây trồng quan trọng như sâu tơ (Plutella xyllostella) [36], sâu
khoang (Spodoptera litura) hại rau thập tự [27; 20] và các loài bọ phấn
(Bemisia tabaci, Bemisia argentifolii) hại cây trồng [34; 21]. Các chế phẩm
nấm Paecilomyces spp. còn phòng trừ rất hiệu quả đối với rầy nâu
(Nilaparvata lugens) hại lúa [22], rệp hại lúa mì (Diuraphis noxia) và các loại
nhện Tetranychus urticae, Panonychus ulmi, hại cây ăn quả.
2.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất ứng dụng nấm
có ích để phòng trừ một số loại sâu hại quan trọng như rầy nâu hại lúa, sâu hại
rau, cây ăn quả và cây công nghiệp [1].
Hướng ứng dụng nấm ký sinh công trùng để phòng trừ sâu hại cây
trồng được đề cập đến trong những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng trong 15
năm trở lại đây mới có nhiều công trình nghiên cứu được công bố về lĩnh vực
này. Các công trình nghiên cứu về nấm ký sinh côn trùng tại nước ta chủ yếu
tập trung vào công tác thu thập chủng, phân lập các chủng giống bản địa và
15
phát triển sinh khối tạo chế phẩm sinh học phòng trừ các loại sâu mà bị chính
chủng nấm đó ký sinh. Từ năm 1996 đến nay, Trung tâm Đấu tranh sinh học -
Viện Bảo vệ thực vật đã thu thập, phân lập, tạo thuần và tuyển chọn được 28
chủng (10 chủng Beauveria và 18 chủng Metahizium) trên các loại sâu hại
khác nhau tại các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Trong số đó, đã chọn được 4
chủng có hoạt lực diệt côn trùng rất cao và hiện đang sử dụng để sản xuất chế
phẩm là 2 chủng Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae ở phía Bắc, 2
chủng Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae ở phía Nam. Đã sản
xuất được 2.355kg Beauveria và 3.275kg Metarhizium sử dụng trừ sâu keo da
láng, sâu khoang ăn lá đậu tương và sâu xanh đục quả đậu xanh. Hiệu quả của
Bauveria với sâu xanh là 68,2% - 72,3%, còn Metarhizium đạt 69,2 - 75,1% [7].
3
0,5% để nhân lượng lớn sinh khối với lượng bào tử 3,2 x 10
9
bt/g. Đối với nấm Paecilomyces spp. Trung tâm Đấu tranh sinh học - Viện
Bảo vệ thực vật trong một vài năm trở lại đây đã quan tâm nghiên cứu một số
chủng có tiềm năng trong phòng trừ sinh học đối với một số loại sâu miệng
chích hút [17].
17
Phần 3. ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, vật liệu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Hai loài nấm Paecilomyces javanicus và Metarhizium anisopliae từ
nguồn nấm Viện Bảo vệ thực vật.
- Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) hại bắp cải thu thập tại nhà lưới
Viện Bảo vệ thực vật và được nhân nuôi trong phòng thí nghiệm.
3.1.2. Thiết bị thí nghiệm
- Nồi hấp vô trùng (RAYPA, Tây Ban Nha), tủ sấy vô trùng (Nahita, Tây
Ban Nha), buồng cấy vô trùng (BIOBASE, Trung Quốc).
- Tủ lạnh (National, Nhật Bản), tủ định ôn (Nahita, Tây Ban Nha), kính
hiển vi (Carl zeiss, Đức).
- Đèn cực tím, đèn cồn, đĩa petri, bình tam giác, que cấy, micropipet
(TGI, Đức).
- Bông, giấy thấm…. và một số dụng cụ cân đong khác.
3.1.3. Hóa chất
- Agar (Hạ Long, Việt Nam), Tween - 80 (Xilong, Trung Quốc).
- Đường glucose, sacharose … và một số hóa chất khác (Merck, Đức).
3.1.4. Môi trường nuôi cấy
- Môi trường PDA (Potato Dextroza Agar) sử dụng phân lập nấm: