ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN THANH Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SÓNG SIÊU ÂM ĐỂ TRÍCH LY
HOẠT CHẤT FUCOIDAN TRONG RONG MƠ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Công Nghệ Thực Phẩm
Khoa : CNSH & CNTP
Lớp : 42 - CNTP
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : 1. ThS. Nguyễn Đức Tiến
2.ThS. Trần Thị Lý
MỤC LỤC PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích – Yêu cầu 3
1.2.1. Mục đích 3
1.2.2. Yêu cầu 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Giới thiệu về rong Mơ 4
2.1.1. Nguồn gốc phân bố 4
2.1.2. Đặc điểm thực vật học 4
2.1.3. Phân loại 6
2.1.4. Thành phần hóa học và giá trị của rong Mơ 6
2.1.5. Tình hình khai thác, tiêu thụ rong Mơ 9
2.2. Giới thiệu về Fucoidan 11
2.2.1. Định nghĩa Fucoidan 11
2.2.2. Cấu trúc Fucoidan 11
2.2.3. Ứng dụng của Fucoidan 14
2.3. Trích ly hoạt chất Fucoidan trong rong Mơ 17
2.3.1. Cơ sở của phương pháp trích ly 17
2.3.2. Ứng dụng sóng siêu âm trong trích ly hoạt chất sinh học Fucoidan 17
2.3.3. Các phương pháp trích ly hoạt chất Fucoidan trong rong Mơ 20
2.4. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ Fucoidan trên thế giới và ở Việt Nam 25
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 25
2.4.2. Một số nghiên cứu và sản phẩm 26 PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
4.7. Xây dựng quy trình trích ly Fucoidan 46
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1. Kết luận 48
5.2. Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 1
DANH M
ỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thành phần hóa học của một số loài rong Mơ tại Việt Nam [1] 7
Bảng 2.2. Hàm lượng các nguyên tố khoáng trong một số
→
3) 13
Hình 2.5. Quá trình hình thành, phát triển và nổ vỡ của bọt khí
trong môi trường lỏng (Mason, 1998) 19
Hình 2.6. Sơ đồ chiết Fucoidan bằng muối 20
Hình 2.7. Sơ đồ chiết Fucoidan bằng nước 21
Hình 2.8. Sơ đồ chiết Fucoidan bằng acid 22
Hình 2.9. Sơ đồ chiết Fucoidan bằng kiềm 23
Hình 2.10. Chế phẩm và một số sản phẩm chứa Fucoidan 26
Hình 3.1. Trích ly Fucoidan từ rong Mơ 28
Hình 4.1. Đồ thị thể hiện ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu
đến hiệu quả trích ly Fucoidan 36
Hình 4.2. Đồ thị ảnh hưởng loại dung môi đến hiệu quả
trích ly Fucoidan từ rong Mơ 39
Hình 4.3. Đồ thị ảnh hưởng của hỗn hợp dung môi
đến hiệu quả trích ly Fucoidan trong rong Mơ 39
Hình 4.4. Đồ thị ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu quả trích ly Fucoidan 40
Hình 4.5. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian đến hiệu quả trích ly Fucoidan 41
Hình 4.6. Đồ thị ảnh hưởng của nồng độ cồn đến hiệu quả kết tủa 43
Hình 4.7. Đồ thị ảnh hưởng của cồn/dịch đến hiệu quả kết tủa hoạt chất Fucoidan 44
Hình 4.8. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian xử lý sóng siêu âm đến hiệu quả trích ly 45
Hình 4.9. Sơ đồ quy trình trích ly Fucoidan từ rong Mơ Sargassum polycystum 46 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Tên viết tắt Tên đầy đủ
EtOH Ethanol
F Fucus
S Sargassum
khô/năm, tương đương với 400 đến 800 tấn Fucoidan thô. Việt Nam là một trong ba
nước có nguồn rong Mơ phân bố đa dạng và hoạt tính mạnh nhất thế giới. Đây là
nguồn tài nguyên dồi dào cho các nghiên cứu về Fucoidan phục vụ nhu cầu của con
người. Việc liên tục xảy ra các làng ung thư ở Việt Nam, đại dịch HIV bùng nổ,
cùng với bệnh đốm trắng của tôm làm thiệt hại nặng nề nền kinh tế thuỷ sản nước ta
có thể giải quyết bằng cách sử dụng Fucoidan được chiết tách từ rong Mơ.
Có nhiều phương pháp chiết xuất Fucoidan từ các phương pháp truyền thống
đến các phương pháp hiện đại. Ngày nay siêu âm là một lĩnh vực nghiên cứu đang
2
phát triển nhanh chóng, đặc biệt trong ngành công nghệ thực phẩm để phân tích,
trích ly các sản phẩm thực phẩm. Sử dụng sóng siêu âm trong trích ly Fucoidan là
một kỹ thuật hiện đại góp phần tăng hiệu quả trích ly hoạt chất Fucoidan trong
nguyên liệu. Ứng dụng siêu âm trong thực phẩm là một công nghệ mới, trên thế giới
nhiều công trình nghiên cứu đã áp dụng và cho kết quả cao. Hiện nay các công trình
nghiên cứu về việc chiết xuất Fucoidan từ các loại rong và đặc biệt từ rong Mơ còn
rất mới mẻ.
Trước những yêu cầu của thực tiễn, từ nhu cầu hoàn chỉnh thêm những
nghiên cứu về Fucoidan nhằm khai thác nguồn tài nguyên rong Mơ dồi dào của Việt
Nam để tạo ra những chế phẩm phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng tôi tiến hành
nghiên cứu “Nghiên cứu ứng dụng sóng siêu âm để trích ly hoạt chất Fucoidan
trong rong Mơ”
3
1.2. Mục đích – Yêu cầu
1.2.1. Mục đích
2
, tạo nên nguồn nguyên liệu bền
vững cho việc khai thác chế biến và cũng điểm chỉ những môi trường nuôi trồng
thuận lợi [28].
Ở nước ta, số loài rong Mơ ở vùng biển phía Bắc nhiều hơn, bao gồm các
loài quen thuộc như rong Mơ sừng dài Sargassum sliquarum, rong Mơ mảnh S.
grucillium, rong mơ tro S. glaucescens, rong Mơ thỏi gai S. cinereum, rong Mơ chổi
S. virgatum và rong Mơ lá dài S. augustifolium. Nhưng trữ lượng rong Mơ lại lớn
hơn nhiều lần ở khu vực các vùng bờ miền Trung, miền Nam và vùng hải đảo. Đặc
biệt chúng phát triển rất mạnh với mật độ cá thể cao ở Hòn Chồng và Bãi Tiên
thuộc tỉnh Khánh Hòa, và ở Sơn Hải, Cà Ná, Mỹ Tân thuộc tỉnh Ninh Thuận. Các
loài thường gặp và có sản lượng cao như S. mcclurei, S. polycystum, S.
henslowianum, S. carpophyllum, S. aemulum, S. crassifolium, S. binderi,…[1,28].
2.1.2. Đặc điểm thực vật học
a. Đặc điểm chung
Rong Mơ dài hay ngắn tùy loài và tùy điều kiện môi trường, rong Mơ dài từ
vài chục cm cho đến vài ba mét hay hơn. Chúng bám vào vật bám nhờ đĩa bám hay
hệ thống rễ bò phân nhánh. Đĩa bám thường chắc hơn rễ và sóng biển thường đánh
đứt rong hơn là nhổ được đĩa bám. Thân rong gồm một trục chính rất ngắn, đa số
thường dài trên dưới 1 cm, hình trụ, sần sùi. Đỉnh của trục chính sẽ phân ra từ 2 cho
đến 4 – 5 nhánh chính. Hai bên nhánh chính mọc ra nhiều nhánh bên. Các nhánh
chính và nhánh bên sẽ tạo ra chiều dài của rong. Chiều dài này khác nhau tùy các
5
chi, loài và trong cùng một loài kích thước này cũng thay đổi tùy điều kiện sống,
tùy nơi phân bố. Trên các nhánh có các cơ quan dinh dưỡng gần giống như lá và các
túi chứa đầy không khí gọi là phao. Khi rong trưởng thành, trên các nhánh bên sẽ
nhánh và lá rất dày. Phao nhiều, hình cầu to 2 mm, phao luôn luôn có cánh nhỏ,
cánh này nhiều khi chỉ là một mũi nhỏ ở đầu hay nhiều gai nhỏ. Rong khô có màu
nâu. Đây là loài rong gặp phổ biến khắp nơi, thích nghi rộng ngoại trừ những nơi có
sóng mạnh, chúng có khả năng mọc gần cửa sông. Chúng bao phủ các vùng san hô
chết từ phía trên mực thủy triều cho đến nhiều mét sâu hơn. Các cá thể ở vùng trên
thường bị bày khô nhiều giờ khi triều xuống. Rong trưởng thành phóng thích giao tử
vào tháng 4. Vào lúc phần lớn các loài rong biển hay rong Mơ khác tàn lụi (tháng 9,
10), ta vẫn gặp các quần thể S. polycystum. Nhờ hệ thống rễ bò phát triển, chúng có thể
sinh sản sinh dưỡng. Các rễ này như những nhánh có mang các lá nhỏ, ở các nách lá
này sẽ nãy chồi cho ra cây mầm và đĩa bám, bám vào vật bám cho ra cây mới.
2.1.3. Phân loại
Hệ thống phân loại Sargassum trên thế giới rất phức tạp, năm 1753 ba loài thuộc
chi Fucus: F.natans, F. acinarius và F. lendigerusdo Linnaeus mô tả lần đầu tiên nay được
thay thế bằng chi Sargassum. Giữa những năm 1808 đến 1819, 36 loài rong thuộc chi
Fucus được mô tả ngày nay cũng được chuyển sang chi Sargassum, năm 1820 J.Agardh
giới thiệu chi Sargassum với số loài lúc này là 62 loài. Sau thời gian đó rất nhiều tác giả
khác tiếp tục giới thiệu về Sargassum như: Yendo (1907), Reinbold (1913), Grunow
(1915, 1916) và Setchell (1931). Số loài Sargassum lên đến 230. Năm 1954 Womersley
công bố hệ thống phân loại Sargassum của mình ở Úc, cùng với các tác giả đương thời ở
nhiều vùng khác nhau trên thế giới như Phạm Hoàng Hộ của Việt Nam, Chou, Chiang của
Taiwan và Ang, Trono của Philippin, đến nay tổng số loài của chi Sargassum đã lên đến
hơn 500. Sargassum tại Việt Nam hiện nay có khoảng 70 loài (thực vật chí Việt Nam), với
sản lượng khai thác ước tính đạt trên 10.000 tấn khô/năm, tương đương với 400 đến 100
tấn Fucoidan thô [1].
Số lượng loài Sargassum phân bố trên các nước luôn thay đổi theo các nghiên cứu
gần đây nên khó có thể kết luận hiện nay Sargassum phân bố nhiều nhất ở nước nào.
Riêng tính đến 1998 thì nhiều nhất là ở Ấn Độ, Philippin và Việt Nam [1].
2.1.4. Thành phần hóa học và giá trị của rong Mơ
2.1.4.1. Thành phần hóa học
Vách tế bào rong Mơ có chứa Alginic acid, là một loại polysaccharide có giá
Zn, Ga, Be, Na, K,… [1].
Bảng 2.2. Hàm lượng các nguyên tố khoáng trong một số
loài rong Mơ vùng Hòn Chồng – Nha Trang[3]
Tên loài
Hàm lượng (g/g rong
Mơ
khô)
Mg
10
-3
Sr
10
-3
Cr
10
-6
Mn
10
-6
Fe
10
-4
Co
10
-6
Cu
10
-5
Ag
10
cư trú, bãi đẻ của nhiều loài sinh vật như các loài thân mềm (ốc cối, ốc nhảy, …),
các loài giáp xác (cua, tôm) hay các loài cá (cá ngựa, cá sơn,…). Rong mơ được coi
như một bức tường chắn sóng cho đất liền. Sự phân bố của rong mơ thường tập
trung ở những nơi có độ sóng đập mạnh. Với mật độ dày đặc và kích thước cơ thể
lớn, chúng có khả năng làm giảm độ mạnh của sóng, giảm lực cơ học tác động và
gia tăng tuổi thọ cho các công trình.
Rong Mơ có khả năng làm sạch các chất thải phóng xạ trong môi trường
nước. Như đã trình bày ở trên, hàm lượng Strongti (Sr) trong tro rong Mơ khoảng
10
-3
g/g và không có sự dao động lớn giữa các loài. Hàm lượng Sr trong nước biển cỡ
13 × 10
-6
, như vậy rong Mơ tích tụ Sr trong cơ thể chúng lớn hơn 100 lần. Khả năng
tích tụ Sr có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với môi trường vì Sr
là thành phần của
chất thải phóng xạ. Chẳng hạn vụ nổ nhà máy nguyên tử Checnobyl (Liên Xô cũ) đã
thải ra biển Đen rất nhiều chất phóng xạ, trong đó có Sr. Các quần xã rong Mơ có
thể góp phần làm sạch chất thải phóng xạ này trong nước biển. Người ta cũng đã
phát hiện chất natri alginate chiết từ rong mơ có thể chữa được bệnh nhiễm phóng
xạ vì chất này uống vào sẽ hấp thu Sr phóng xạ rồi thải ra ngoài trước khi chất
phóng xạ này xâm nhập vào máu, tủy xương [1].
b. Vai trò của rong Mơ đối với con người
Rong Mơ được sử dụng đầu tiên ở Nhật Bản và Trung Quốc trong vai trò là
nguồn thực phẩm quan trọng. Ở Việt Nam, rong Mơ ít được sử dụng làm thực
9
Ở Việt Nam đã tìm thấy hơn 50 loài rong Mơ, trong đó trữ lượng lớn nhất có
các loài S. Carpophyllum, S. crassifolium, S. cristaefolium (S. duplicatum), S.
glaucescens, S. graminifolium, S. henslowianum, S. mcclurei, S. oligocystum, S.
10
polycystum, S. vachellianum. Rong Mơ phát triển trên vùng bãi triều nền cứng. Các
nguồn dự trữ lớn nhất của Sargassum tập trung ở phía Bắc ở vịnh Bắc Bộ, ở miền
Trung và ven bờ biển phía nam Việt Nam ở vịnh Thái Lan. Mùa sinh trưởng đối với
hầu hết các loài Sargassum kéo dài từ tháng 11 đến tháng 6 [5].
Thời gian thu Sargassum tốt nhất là khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 6.
Những loài rong Mơ sống sâu phát triển quanh năm. Sản lượng của Sargassum Việt
Nam vào cuối thế kỷ trước trên 15000 tấn khô/năm, người ta chỉ sử dụng một phần
từ 300 – 500 tấn tươi/năm. Hiện nay, do tăng mạnh nhu cầu đối với rong Mơ (xuất
khẩu sang Trung Quốc) và sự tăng giá bán lên hơn 25 lần, toàn bộ sinh khối rong
Mơ, trong đó hoặc bị cắt sát đáy hoặc bị cắt tất cả không chừa một chút gì trong
suốt thời kỳ sinh trưởng. Sự sử dụng bất hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên này đã
dẫn đến sự giảm mạnh sản lượng rong Mơ xuống nhiều lần, và sau 2 – 3 năm rong
Mơ Việt Nam có thể hoàn toàn bị hủy diệt (trừ khi các biện pháp khẩn cấp cấm khai
thác rong Mơ bừa bãi được ban hành). Sự triệt tiêu các bãi rong Mơ sẽ dẫn đến
thảm họa cho toàn bộ vùng ven bờ biển của Việt Nam: việc phá hủy các rạn san hô,
phá hủy các hệ sinh thái, làm giảm hoặc biến mất các loài cá ven bờ ăn sinh vật đáy,
cũng như những động vật hữu ích như nhím biển, một số chân bụng và động vật
giáp xác [5].
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và mùa vụ rong Mơ
theo vùng biển một số tỉnh của Việt Nam [2]
Tỉnh Diện tích (m
2
” [3].
2.2. Giới thiệu về Fucoidan
2.2.1. Định nghĩa Fucoidan
Fucoidan là một hợp chất chống oxy hóa được chiết xuất từ thành phần chất
nhờn “sliminess” của rong Mơ Mozuku (Cladosiphon okamuranus) và Mekabu
(phần cuốn nằm gần gốc của Wakame). Cấu trúc hóa học của Fucoidan là một chuỗi
dài polysaccharide giàu sulfate fucose. Giáo sư Kylin.H.Z của đại học Uppsala
Thụy Điển, vào năm 1913 đã điều chế thành công Fucoidan từ tinh chất nhờn của
Kombu và đặt tên là Fucoidin. Sau đó, hiệp hội thế giới đồng ý đổi tên Fucoidin
thành Fucoidan.
Fucoidan có trọng lượng phân tử không lớn. Trọng lượng phân tử phụ thuộc
vào quá trình chiết tách cùng với sự sử dụng các hóa chất khác nhau. Quá trình chiết
tách với các tác nhân khác nhau cũng có thể gây nên hiệu ứng gãy mạch
polysaccaride. Do đó từ một loài rong có thể thu được các phân đoạn với các trọng
lượng phân tử khác nhau.
Fucoidan có độ nhớt không cao lắm. Độ nhớt không cao chính là do
polysaccaride này chiết từ các loài rong Mơ khác nhau thường có mạch không dài
và trọng lượng phân tử không lớn. Fucoidan có tính chất hóa học đặc biệt, tính chất
lưu biến khi thay đổi nhiệt độ.
2.2.2. Cấu trúc Fucoidan
Polysacaride trong rong Mơ gồm 3 thành phần chính: Alginate, Laminaran
và Fucoidan. Trong đó, mỗi thành phần đều có hoạt tính sinh học riêng, tuy nhiên
đáng kể nhất chính là Fucoidan.
Được phát hiện từ năm 1913, với tên gọi ban đầu là Fucoidin, do giáo sư
Kylin.H.Z của đại học Uppsala Thủy Điện điều chế thành công từ rong Mơ,
Fucoidan gần đây đã được giới y học chú ý đến vì không những giúp nâng cao khả
12
→
2)-β-D-mannose, có phân nhánh tại vị trí (1
→
6) và hoặc (1
→
4)-α-L-fucose,
(1
→
4)-α-D-glucuronic acid, β-D-xylose đầu cuối và đôi khi (1
→
4)-α-D-glucose.
Các dạng cấu trúc điển hình với liên kết (1
→
3) được thể hiện qua hình sau :
trùng và ngay cả các tế bào ung thư.
Trong một nghiên cứu được tiến hành ở phòng thí nghiệm Nông học trường
Đại học Kagoshima, Fucoidan chứa trong rong biển được cho chuột ăn trong 20
ngày. Qua xét nghiệm, các tế bào diệt tự nhiên và các đại thực bào của động vật thử
nghiệm đã tăng lên hai lần [19].
2.2.3.2. Kháng khuẩn và kháng virus
Năm 1995, các nhà khoa học Rumani đã công bố rằng Fucoidan có khả năng
ức chế đáng kể sự phát triển của các vi khuẩn gram dương (Gr(+)) và vi khuẩn gram
âm (Gr(-)), trong khi đó lại khích thích hệ thống miễn dịch bằng cách tăng cường
thực bào (một tế bào nuốt và tiêu hóa các vi khuẩn và các hạt lạ). Hơn thế nữa,
Fucoidan được công bố ngăn chặn loại viêm nguy hiểm xuất hiện trong viêm màng
não một biến chứng của viêm do virus và vi khuẩn. Phát hiện này cùng những phát
15
hiện khác đã chỉ ra rằng Fucoidan làm được những việc mà ít thuốc nào có thể làm,
đó là diệt vi khuẩn trong khi đó lại tăng cường hệ miễn dịch [20].
Tiềm năng của Fucoidan chống lại các virus như HIV [21] có lẽ là còn hấp
dẫn hơn khả năng kháng vi khuẩn của nó. Fucoidan được liệt kê là một hợp chất
dùng điều trị HIV [22], Fucoidan làm tăng khả năng sản xuất các dạng interleukin
và interferon được tiết ra nhờ các tế bào miễn dịch giống tế bào T. Nói cách khác,
Fucoidan tăng cường việc sản xuất interleukins và interferons kích hoạt các tế bào
miễn dịch khác nhau (T cells, NK cells và macrophage - đại thực bào) cần thiết để
đề phòng nhiễm trùng và bệnh tật.
Nhờ hiệu ứng này, các nhà khoa học tin rằng Fucoidan có thể cung cấp một
sự điều trị rất hiệu quả chống lại các virus gây ra viêm gan, mệt mãn tính và ngay cả
AIDS.
Các nghiên cứu còn đề xuất rằng uống Fucoidan bằng đường miệng có thể là
đã công bố rằng các polysacaride tìm thấy trong rong biển tác động dương tính lên
phản ứng insulin và đường huyết trong các động vật thí nghiệm. Việc đưa thêm các
polysacaride này dẫn đến cái mà họ đã mô tả như một chất giảm một cách đột ngột
cân bằng hấp thụ đường. Điều này giả thiết rằng các hợp chất polysacaride giống
Fucoidan làm chậm việc truyền glucose vào máu từ ruột, nhờ vậy giúp giữ mức
đường máu ổn định và ngăn chặn phản ứng insulin quá mức [6].
2.2.3.5. Hỗ trợ điều trị bệnh đau khớp
Trong năm 1995, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng Fucoidan giúp
đẩy mạnh việc tạo ra một chất được gọi là fibronectin có vai trò quan trọng trong
việc giữ các khớp được bôi trơn và linh động. Nghiên cứu phát hiện ra rằng sự
có mặt của Fucoidan đã góp phần cho việc sản xuất bình thường chất này gợi ý
rằng việc bổ sung Fucoidan có thể có tác dụng hữu ích trong việc tái tạo sụn cho
các khớp đau [24].
2.2.3.6. Cơ chế chống ung thư của Fucoidan
- Các hợp chất Fucoidan trên thực tế thúc đẩy các tế bào ung thư tự phá hủy.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các hợp chất Fucoidan thực sự ngăn chặn
sự phát triển tế bào lạ thường. Ung thư thực ra là hiện tượng các tế bào tự sinh sản
nhưng không kiểm soát được. Một nghiên cứu của người Nhật đã phát hiện ra rằng
khi U-Fucoidan được đưa vào các tế bào ung thư trong ống nghiệm chúng sẽ bị chết
trong vòng 72 giờ. Cách mà trong đó các tế bào này bị phá hủy hoàn toàn là quan
trọng không kém. Dường như Fucoidan mở đường cho tế bào loại bỏ sự sao chép ác
tính. Nói cách khác DNA được tìm thấy bên trong các tế bào ung thư cá thể này bị
bẽ gãy bởi các enzyme sống trong bản thân các tế bào đó. Về phương diện kỹ thuật,
đây là một quá trình được gọi là giáng hóa (tế bào tự chết) một cơ chế bảo vệ giúp
chúng ta không bị ung thư [25].
- Những nghiên cứu thêm ở phòng thí nghiệm chỉ ra rằng Fucoidan có thể
ngăn chặn sự phân chia tế bào nguy hiểm. Trong các thử nghiệm sử dụng các tế bào
bên ngoài là lớp cellulose, pectin, polysaccharide không tan. Do vậy, cần xử lý nhiệt
độ cao để phá vỡ lớp màng, cũng như làm hòa tan các polysaccharide trong đó có
Fucoidan.
2.3.2. Ứng dụng sóng siêu âm trong trích ly hoạt chất sinh học Fucoidan
2.3.2.1. Khái niệm về sóng siêu âm