Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đê tài:
"Anh hưởng của qua trinh đô thi hoa đến vân đê
sử dung đất va thu nhập của người dân trên ậia ban
quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội
99
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khoá
Chuyên ngành
Người hướng dẫn
VŨ HẢI QUÂN QUẢN
LÝ ĐẤT ĐAI A 51
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI PGS.TS.
NGUYỄN KHẤC THỜI
Địa điểm thực hiện: Phòng Kế hoạch tổng họp Sở TN&MT Hà Nội
HÀ NỘI - 2010
Tôi là sinh viên Vũ Hải Quân - Lớp QL51A - Khoa Tài Nguyên và Môi trường - Truờng Đại học Nông nghiệp Hà
Nội.
Tôi xin cam đoan trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp tại phòng Ke hoạch tổng hợp - Sở Tài Nguyên và
Môi trường Hà Nội, mọi thông tin và số liệu thu thập hoàn toàn đúng sự thật và chính xác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2010. Sinh viên
Vũ Hải Quân
Sau thời gian thực tập khoá luận tốt nghiệp, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn tới những người đã nhiệt tình
giúp đỡ, động viên trong quá trình thực hiện đề tài này.
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thời - Người đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Em xin trân trọng cảm ơn những lời khuyên, định hướng quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Tài Nguyên và
Môi trường trong quá trình thực hiện đề tài.
giải quyết những vấn đề còn tồn tại do quá trình đô thị hóa mang lại giúp cho xã hội
phát triển một cách bền vững lâu dài.
Đe đánh giá những ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc sử dụng đất của địa
phương, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững, có hiệu quả cao nhất, khai thác tốt
tiềm năng và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Ảnh hưởng của quá trinh đô thi hóa đến V ấn đề sử dụng đất và thu nhập
của người dân trên đia ban quận cầu Giấy - thành phố Hà Nội”.
1.2. Mục đích:
- Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đến sự chuyển đổi mục đích sử
dụng đất về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn quận cầu Giấy - thành
phố Hà Nội.
- Xác định các tác động của đô thị hóa đến thu nhập của người dân tại địa
phương.
- Đề ra những giải pháp giải quyết những vấn đề còn bất cập trong quá trình đô
thị hóa trên địa bàn quận cầu Giấy - thành phố Hà Nội.
PHẢN II
TỎNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm đô thị và đô thị hóa
2.1.1 Đô thị
a. Kháỉ niệm đô thị
Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến
trúc do con nguời xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Các đô thị có thể là
thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật từ này thông thường không
mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp.
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo đạt tầm
rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị,
và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị.
Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao
gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ về
kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan hệ từ công ăn việc
km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất. Các ranh giới của
một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc
thậm chí là ranh giới tỉnh bang
Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ
dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông. Đối với các khu thành thị có mật độ
dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong các đường
phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị.
Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất (gọi
là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine). - gần giống như cách định nghĩa của đô thị
Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine). Mặc dù cách dịch
chính thức thuật từ aire urbaine của INSEE là "urban area" trong tiếng Anh, đa số
người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự với định nghĩa về vùng đô thị của mình.
Tại Nhật Bản, các đô thị được định nghĩa như là các vùng cận kề nhau gồm các
khu dân cư đông đúc. Điều kiện cần thiết là đô thị phải có mật độ dân số trên
4.1 người trên một cây số vuông.
Tại Hoa Kỳ, có hai loại khu đô thị. Thuật từ urbanized area dùng để chỉ một khu
đô thị có từ 50.000 dân trở lên. Các khu đô thị dưới 50.000 dân được gọi là urban
cluster. Cụm từ Urbanized areas được sử dụng lần đầu tiên tại Hoa Kỳ trong cuộc
điều tra dân số năm 1950 trong khi cụm từ urban cluster được thêm vào trong cuộc
điều tra dân số năm 2000. Cục điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa một khu đô thị như
"những cụm thống kê cốt lõi có mật độ dân số ít nhất là
1.1 người trên một dặm vuông Anh hay 386 người trên một cây số vuông và
những cụm thống kê xung quanh nó có tổng mật độ dân số ít nhất là 500 người trên
một dặm vuông hay 193 người trên một cây số vuông."
Khái niệm về khu đô thị được Cục điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa thường
được dùng như thước đo chính xác hơn diện tích của một thành phố vì trong các
thành phố khác nhau cũng như tiểu bang khác nhau, đường phân giới giữa các ranh
giới thành phố và khu đô thị của thành phố đó thường không như nhau. Thí dụ, thành
phố Greenville, South Carolina có dân số thành phố dưới 60.000 nhưng khu đô thị có
trên 300.000 người trong khi đó Greensboro, North Carolina có dân số thành phố trên
• Đô thị loại 4: Các thị xã còn lại và một vài thị trấn lớn.
• Đô thị loại 5: Các thị trấn.(17)
Như vậy đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai
trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của
một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh trong huyện. (16)
b. Vai trò của đô thị trong quá trình phát trien kỉnh tế - xã hội
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là sản
phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cở sở vật chất kỹ thuật và văn hóa.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ
thuật của khu vực và trên thế giới.
2.1.2 Đô thị hóa
a.Khái niệm đô thị hoả
Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư vào các đô thị, là sự hình thành
nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Khái
niệm về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu
hiện khác nhau trong quá trình phát triển. Các nhà khoa học xem xét và quan sát hiện
tượng đô thị hóa từ nhiều góc độ khác nhau.
Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nước. Vì vậy cũng có người
cho rằng đô thị hóa là người bạn đồng hành của công nghiệp hóa. Quá trình đô thị
hóa cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp
giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng. Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian
đô thị mở rộng. (14)
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị
hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó
cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo
cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là
tốc độ đô thị hóa.
Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt
triển cùng sự phát triển của đô thị, nó góp phần nâng cao chất lượng trình độ đô thị
hoá.
- Đô thị hoá làm số dân số dân sống trong đô thị ngày càng tăng. Đây là yếu tố
đặc trưng nhất trong quá trình đô thị hóa. Dân cư sống ở khu vực nông thôn sẽ
chuyển thành dân cư sống trong đô thị, lao động chuyển từ hình thức lao động khu
vực một I sang khu vực II, III.
- Đô thị hoá gắn liền với việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp, làm
thay đổi cục diện sản xuất, phương thức sản xuất. Nâng cao thu nhập quốc dân và
tăng hoạt động khoa học kỹ thuật và công nghệ.
- Đô thị hoá tạo ra hệ thống không gian đô thị. Cùng với sự phát triển của trung
tâm đô thị, các khu dân cư với nhiều loại quy mô đã tạo thành các vành đai đô thị, các
chùm đô thị và các vành đai, các chùm đô thị này đều phát triển.
- Đô thị hoá góp phần phát triển trình độ văn minh của quốc gia nói chung và văn
minh đô thị nói riêng. Đô thị hoá là điều kiện để tiếp nhận nền văn minh từ bên ngoài
và phát triển nền văn minh trong nước.(15)
d. Các nhãn to ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa:
- Điều kiện tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế phát triển chưa mạnh mẽ thì đô thị
hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những vùng có khí hậu thời tiết tốt,
có khoáng sản, địa lí thuận lợi cho sản xuất và phát triển và các lợi thế khác sẽ có sức
thu hút dân cư mạnh mẽ hơn, và do đó sẽ được đô thị hóa nhanh hơn, quy mô lớn
hơn. Ngược lại vùng nào kém thuận lợi hơn sẽ đô thị hóa chậm hơn và quy mô nhỏ
hơn.
- Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị tương
ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó. Kinh tế thị trường
đã mở đường cho lực lực sản xuất phát triển mạnh. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề cho đô thị hóa.
- Văn hóa dân tộc: Mồi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng của mình và nền
văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, .nói chung
và hình thái đô thị nói riêng.
- Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết định trong
của dân tộc. Tiêu biểu cho các đô thị này là các đô thị Vĩnh Bình (Lạng Sơn), Vân
Đồn (Quảng Ninh) thế kỷ XI - XIV; cảng thị như Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An
(Quảng Nam) vươn lên hoạt động nhộn nhịp phồn vinh với những đòi hỏi giao lưu,
buôn bán ngày càng đông. Đến thế kỷ XVII các đô thị Việt Nam trong thời kỳ này là
dựa vào các trung tâm hành chính, chính trị kết hợp với các đồn trú để tạo nên thành
trì bảo vệ quyền lợi của các thế lực phong kiến. Ở thời kỳ này là sự xuất hiện của các
đô thị - cảng mới như Hải Phòng và Đà Nằng với sức trẻ đang trỗi dậy mạnh, và sự
tiếp tục phát triển của các đô thị cổ có từ trước như Thăng Long, Nam Định, Quy
Nhơn, Sài Gòn - Gia Định, Hà Tiên Đặc biệt là sự phát triển vượt trội của Huế -
kinh tế nhà Nguyễn, cũng như sự bắt đầu phát triển của các đô thị như Thanh Hóa,
Hải Dương, Vinh làm cho bức tranh khái quát về các đô thị Việt Nam vẫn phản ánh
được dáng vẻ, nhịp độ phát triển của đô thị cổ Việt Nam của các thế kỷ trước đó.
Đặc điểm chung của đô thị Việt Nam trong thời kỳ này chủ yếu gắn liền với mục
đích hành chính - chính trị. Vì thế, phần "đô” xuất hiện truớc, kéo theo nó là phần
"thị" xuất hiện nhằm phục vụ trước tiên cho bản thân gia đình những vua chúa, quan
lại, tầng lớp trên trong xã hội. Yếu tố "Đô" trong đô thị Việt Nam luôn gắn liền với
"Thành", "Dinh", "Trấn" là những trung tâm cai trị của chính quyền nhà nuớc quân
chủ, đuợc xây dựng do ý trí chủ quan của lực luợng cầm quyền trong xã hội. Mặt
khác, do nhu cầu phát triển kinh tế, cũng có các đô thị đuợc hình thành - đây là nơi
giao luu của các luồng hàng trong quan hệ thương mại, nơi tập trung các cư dân buôn
bán, tạo thành các "thị"; sau đó do nhu cầu quản lý, nhà nước phong kiến đặt các cơ
sở kiểm soát, các nhiệm sở của mình, dần hình thành lên đô thị, chẳng hạn như Hội
An (Quảng Nam) hay Vĩnh Bình (Lạng Sơn). Phần "đô" luôn điều hành, quản trị phần
"thị". Các tầng lớp thị dân trong phần "thị" luôn bị chi phối bởi tầng lớp trên là các
tầng lớp quan lại, quý tộc. Nhìn chung ở Việt Nam trong các giai đoạn đó, sự phát
triển hay lụi tàn của các đô thị luôn gắn liền với sự thăng trầm của các triều đại phong
kiến.
Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đã áp dụng chính sách chia để trị nên tổ chức
mạng lưới đô thị hành chính cùng với các đồn trú rải đều trên khắp lãnh thổ nước ta.
Các đô thị này thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu, còn kinh tế kém phát triển.
Hà Nội, Đà Nằng và Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt
đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng
17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị. Tính đến nay,
cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc