MỤC LỤC
Trang
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2
1. Vai trò của công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 2
2. Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy chương “Cơ chế di truyền và biến
dị” môn Sinh học – Lớp 12 2
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 4
1. Phân biệt các khái niệm 4
2. Tiêu chuẩn đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT 5
3. Minh họa cụ thể một bài giảng thuộc chương “Cơ chế di truyền và biến dị” môn
Sinh học lớp 12 có ứng dụng công nghệ thông tin soạn thảo bằng phần mềm microsoft
powerpoint 7
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 22
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 23
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong vài thập niên gần đây, đổi mới giáo dục đào tạo đã trở thành xu thế
toàn cầu. Khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão, tạo ra những
bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử - viễn thông, tin học và công
nghệ thông tin (CNTT).
Tại Việt Nam, ứng dụng những thành tựu mới nhất về khoa học và công
nghệ, cụ thể là Internet vào công cuộc dạy và học, nhằm thích ứng với sự phát triển
của giáo dục thời đại trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như hiện
nay đang trở thành một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu. Các văn bản
chỉ đạo của Đảng và nhà nước, nhất là chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính Trị ngày
17 tháng 10 năm 2000
(1)
về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp
Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa, đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào
tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo
dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo
để triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005.
Trang 1
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Vai trò của công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Gần 20 năm kể từ khi xuất hiện tại Việt Nam, Internet đã và đang có tác
động đáng kể đến đời sống văn hóa của người Việt Nam. Có thể nhận thấy rằng,
Internet ngày càng thể hiện được vai trò to lớn của mình trong mọi mặt đời sống,
đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Công nghệ thông tin (CNTT) mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới
các phương pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách
tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết
vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như
dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi
trường công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT). Nếu trước kia người ta
nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt
trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động.
Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và
thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực
sáng tạo của học sinh. Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang
“lấy học sinh làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn. Nhờ sử dụng các phần mềm
dạy học mà học sinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt
động tốt trong môi trường học tập. Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo
án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời
gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài
giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh,
âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh. Thông
qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo
điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học. Những khả năng mới
mẻ và ưu việt này của CNTT&TT đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách
thức mới cho học sinh, giúp các em vận dụng tốt các kiến thức mới khi giải thích
các sự vật, hiện tượng thực tiễn trong cuộc sống và có thể hoàn thành tốt mọi bài
tập có liên quan, giúp học sinh có thêm hào hứng, hứng thú khi học tập để rồi ngày
một yêu thích môn sinh học hơn. Đây cũng chính là một trong những yếu tố góp
phần nâng cao chất lượng hiệu quả giờ lên lớp.
Phương pháp truyền thống thường được áp dụng khi giảng dạy là thuyết
trình. Giáo viên sử dụng các bức tranh in sẵn hoặc trực tiếp vẽ hình lên bảng, cho
các em quan sát, diễn giải rồi yêu cầu các em ghi chép lại các ý cơ bản. Các câu
hỏi, những tình huống có vấn đề tuy có được đặt ra nhưng rất hạn chế vì khối
lượng kiến thức của các bài trong chương này khá lớn lại rất trừu tượng, phải mất
nhiều thời gian cho thuyết trình và ghi chép. Nếu sử dụng các tranh vẽ để dạy thì
các tranh vẽ lại quá nhỏ, không phải tất cả các học sinh đều quan sát được, nhất là
với những em ngồi cuối lớp hoặc những em có thị lực không tốt. Sử dụng mô hình
lắp ghép thì khá cồng kềnh, mất thời gian trong khi khối lượng kiến thức cần
truyền đạt trong mỗi bài lại rất nhiều. Cả hai cách sử dụng tranh vẽ hay mô hình
lắp ghép đều có một nhược điểm là các hình ảnh không diễn tả hết được các quá
trình, sự kiện diễn ra.Với cách làm này thường không phát huy được cao độ tính
tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, học trò khi học thường thụ động, dễ
nhàm chán, hiệu quả giờ dạy không cao.
Với những băn khoăn, trăn trở trên, tôi bắt đầu tăng cường việc ứng dụng
CNTT trong dạy học. Thiết kế các bài giảng bằng phần mềm powerpoint có hỗ trợ
của các ứng dụng CNTT với các hình ảnh đẹp mắt, các đoạn video clip cùng các
hiệu ứng sinh động đã thu hút sự chú ý của học sinh. Cộng thêm với các phương
pháp dạy học tích cực như mô tả, nêu vấn đề, thảo luận nhóm giải quyết tình
huống…, các bài giảng có ứng dụng CNTT đã thực sự đem lại hiệu quả cao trong
giảng dạy góp phần phát huy tính tích cực của học sinh và nâng cao chất lượng
giáo dục.
Trang 3
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Phân biệt các khái niệm
người hay nhầm lẫn gọi đây là giáo án điện tử. Vì vậy việc sử dụng powerpoint
soạn bài, có thể gọi là bản trình chiếu.
- Các phần mềm dạy học như phần mềm thí nghiệm ảo…
- Các công cụ thể hiện multimedia. Một sản phẩm, một phần mềm, một thiết
bị tin học được cho là multimedia khi nó cho phép khai thác thông tin đa thức,
nhiều kiểu như: văn bản (text), âm thanh (sound), tiếng nói (voice), hình ảnh tĩnh
(image), video-clip, hình động (animation), đồ hoạ (graphic)
3()
Theo tài liệu "Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS - môn Tin học" do Vụ Giáo dục Trung học - Bộ
Giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2007 (trang 95).
Trang 4
2. Tiêu chuẩn đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT
Có 5 tiêu chuẩn:
2.1. Tiêu chuẩn về nội dung
- Trong toàn bộ chương trình, không phải bất cứ chủ đề nào, bài học nào
cũng phải ứng dụng CNTT. Trong trường hợp chủ đề dạy học chỉ cần tới các thiết
bị truyền thống thì dứt khoát không sử dụng CNTT. Tiết dạy-học được lựa chọn
phải có tình huống dạy học ứng dụng CNTT hiệu quả.
- Ngoài các slides, có các phần mềm dạy học, các phương tiện multimedia
như: video-clips, hình ảnh, âm thanh, graphic… làm rõ và thể hiện được sinh động
nội dung bài học, dễ hiểu, đạt hiệu quả cao cho minh hoạ, giúp học sinh khám phá,
hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức.
- Có thể có các siêu liên kết (hyperlinks) ghép nối giữa các slides, các phần
mềm dạy học, các video-clips,… khéo léo, phù hợp trình tự bố cục bày dạy, làm
cho bài dạy dễ hiểu, logic và không mất thời gian tìm kiếm.
- Tùy bài mà chọn dùng phần mềm dạy học và các slides chữ, hình (hình
động hoặc hình tĩnh), slides sơ đồ cho phù hợp. Nội dung và dữ liệu trong các slide
phải đảm bảo minh họa, khắc sâu và chốt lại hoặc hệ thống hóa được kiến thức
(đặc biệt phần trọng tâm bài), hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá bài học.
Phương tiện multimedia, phần mềm ứng dụng sát nội dung bài học, không
có tính trực quan, thể hiện nổi bật được kiến thức.
+ Các hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chuyển động được sử dụng có
mức độ, hợp lý, không bị lạm dụng, không quá tải đối với học sinh, không gây
nhiễu loạn làm mất tập trung vào bài học.
+ Giáo viên làm chủ được kỹ thuật, thao tác nhuần nhuyễn, trình chiếu
không trục trặc.
+ Khoa học trong cách thiết kế, trình bày. Các slides không quá nhiều (bình
thường ≤ 30 slides /1tiết), được thiết kế khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn,
có tác dụng giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, luyện tập. Có phương tiện
multimedia nào không thật sự cần thiết không?
+ Có bố trí những slides để trình bày nội dung cho học sinh ghi. Các slides
này thường được thiết kế với màu nền, màu chữ khác với các slides khác.
2.4. Tiêu chuẩn về tổ chức lớp học
- Có sự phân phối thời gian hợp lý giữa các bước lên lớp, các nội dung
(chính, phụ), các khâu (ôn, giảng, luyện).
- Tổ chức học sinh học tập tích cực.
- Bài giảng bảo đảm sự tương tác giữa học sinh với bài học, sự đáp ứng với
tính cá thể trong bài học, có thể giúp học sinh tự học mọi lúc, mọi nơi.
+ Tổ chức hợp lý việc trình chiếu, minh họa với việc tổ chức hoạt động học
tập, rèn luyện theo tổ, nhóm; điều khiển học sinh đóng góp xây dựng bài; tạo điều
kiện cho học sinh tương tác với bài giảng điện tử.
+ Có các câu hỏi tương tác với bài học thông qua bài tập thực hành: Các câu
hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não của người học, thực hiện
phương châm lấy người học làm trung tâm, chú trọng tính chủ động.
2.5. Tiêu chuẩn về kết quả, hiệu quả
Đây là tiêu chí đánh giá hết sức quan trọng. Tiêu chí yêu cầu phải xác định
là hiệu quả của tiết dạy học. Học sinh hứng thú học tập hơn, thực sự hoạt động tích
cực trong học tập. Kiến thức, kĩ năng đạt được qua tiết dạy học có CNTT phải tốt
hơn khi chỉ dạy bằng các phương tiện truyền thống.
- Thực hiện được mục tiêu bài học.
lập các công thức chung.
- Phát triển năng lực suy luận của học sinh qua việc xác định các bộ ba mã sao
và số a.a trong phân tử prôtein do nó quy định. Từ chiều của mã gốc suy ra
chiều mã sao và chiều dịch mã.
II. CÁC KĨ NĂNG SỐNG CƠ BẢN ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI
- Kỹ năng thể hiện sự tự tin khi trình bày trước lớp, nhóm
- Kỹ năng lắng nghe tích cực, trình bày ý tưởng
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin về cấu trúc, chức năng ARN, cơ chế
phiên mã và dịch mã
- Kỹ năng quản lý thời gian, đảm nhận trách nhiệm, hợp tác trong hoạt động
nhóm.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP / KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THỂ SỬ
DỤNG
- Dạy học nhóm
- Trực quan tìm tòi
- Vấn đáp - tìm tòi
- Trình bày 1 phút
IV. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
4.1. Chuẩn bị của giáo viên
- Nghiên cứu kĩ nội dung trong sách giáo khoa và sách giáo viên.
Trang 7
- Sưu tầm các tư liệu, hình ảnh, các đoạn phim liên quan đến bài.
- Thiết kế các slide, dùng công cụ paint vẽ thêm các hình ảnh, tạo các hiệu
ứng phù hợp và sinh động.
- Phiếu học tập.
4.2. Chuẩn bị của học sinh
- Học bài cũ.
- Tìm hiểu lại các bài 5, 6 trong chương trình Sinh học lớp 10 về axit nucleic
và protein.
- Đọc trước bài mới
của mARN, tARN và rARN trên màn hình:
Hình 3. Cấu trúc mARN (được vẽ trực tiếp dựa vào công cụ paint)
Hình 4. Cấu trúc của tARN Hình 5. Cấu trúc của rARN
- HS dễ dàng quan sát hình ảnh trên màn hình, nghiên cứu SGK, thảo luận nhóm
và hoàn thành nội dung phiếu học tập.
Trang 9
Các gen trên ADN hoạt động, trước tiên đã hình thành nên các chuỗi
poliribonucleotit mạch thẳng.
Sau đó từ các chuỗi poliribonucleotit mạch thẳng vừa được tổng hợp này mới
biến đổi cấu hình và hình thành nên các phân tử ARN với cấu trúc đặc trưng của
chúng.
Kết quả: các ARN lần lượt xuất hiện.
Các ARN sau khi đã được tổng hợp xong sẽ chui ra khỏi nhân (qua các lỗ trên
màng nhân) để đến tế bào chất.
Mỗi loại ARN đóng một vai trò nhất định trong quá trình sinh tổng hợp
protein của tế bào cơ thể.
GV giúp HS hoàn thiện kiến thức trong phiếu học tập.
Như vậy, với những ưu điểm vượt trội của công nghệ thông tin, chỉ cần trong
một khoảng thời gian rất ngắn (từ 1-2 phút), dựa trên hình ảnh về quá trình sinh
tổng hợp các loại ARN, GV đã có thể cung cấp cho HS không chỉ diễn biến của
mỗi quá trình, mà bên cạnh đó các em còn có thể dễ dàng xác định được về vị trí
và nơi xảy ra các quá trình sao mã, những giai đoạn giống và khác nhau giữa các
quá trình và cả vai trò, vị trí của mỗi loại ARN sau khi đã được tổng hợp xong.
GV chuyển ý qua mục 2: Ta đã tìm hiểu về cấu trúc và chức năng của các
loại ARN, vậy các loại ARN đó được hình thành như thế nào? Ta sẽ tìm hiểu qua
mục 2.
2. Cơ chế phiên mã
a. Ở tế bào nhân sơ
GV chiếu 1 đoạn phim (đính kèm trong file powerpoint), HS theo dõi và rút
GV nêu câu hỏi: Thế nào là quá trình dịch mã?
HS trả lời, GV nhấn mạnh: Là quá trình tổng hợp protein.
Trang 11
GV yêu cầu HS nêu các thành phần tham gia dịch mã. Trên màn hình trình
chiếu, GV giới thiệu các thành phần tham gia dịch mã bằng các hình vẽ minh họa
cụ thể.
1. Họat hóa axit amin
Ở mục này để học sinh dễ hình dung và dễ nhớ quá trình hoạt hoá axit amin
diễn ra như thế nào, chúng ta có thể minh hoạ cấu trúc của axit amin tự do (khi
chưa được hoạt hoá) là một hình tròn có màu xanh tím, ATP là một hình tròn màu
vàng, còn enzim thì màu đỏ.
Hình 8. Thành phần tham gia hoạt hóa axit amin
Dưới tác dụng của enzim, axit amin tự do dễ dàng liên kết được với hợp chất
giàu năng lượng ATP để tạo thành axit amin dạng hoạt hoá.
Ứng dụng trình duyệt Power Point trong phần này, chúng ta có thể tạo hiệu
ứng cho axit amin tự do và ATP cùng di chuyển đến liên kết với nhau-dưới tác
dụng của enzim - tạo nên phức hợp axit amin dạng hoạt hoá (axit amin đã chuyển
màu).
Hình 9. Hoạt hóa axit amin
Axit amin sau khi đã được hoạt hoá thì dưới tác dụng của một enzim khác nó
dễ dàng liên kết với tARN để tạo thành phức hợp aa-tARN.
Trang 12
Hình 10. Tạo phức hợp aa – tARN
Phần này, cũng hoàn toàn tương tự, chúng ta có thể tạo hiệu ứng cho axit
amin đã được hoạt hoá và tARN cùng di chuyển đến để liên kết với nhau, dưới tác
dụng của một enzim khác, tạo nên phức hợp aa-tARN.
2. Tổng hợp chuỗi polipeptit
Đây là phần khó và trừu tượng nhất của bài, nếu không có hình ảnh minh họa
thì học sinh sẽ rất khó hiểu và khó nhớ, nhất là với đối tượng HS ở trường vùng
nông thôn.
GV nêu vấn đề: Đúng, nhưng nối với nhau bằng liên kết gì, và nhờ yếu tố nào
xúc tác?
HS suy nghĩ.
GV vừa giải đáp vấn đề vừa chiếu trên màn hình: Enzim sẽ xúc tác cho việc
hình thành liên kết peptit giữa axit amin Met và axit amin Pro.
HS quan sát, thấy rõ sự liên kết giữa 2 axit amin.
Trang 15
Hình 12a. Giai đoạn kéo dài chuỗi polipeptit
GV chiếu tiếp: Sau đó riboxom dịch chuyển đi một bộ ba trên mARN, sự
dịch chuyển này làm tARN vận chuyển axit amin mở đầu (Met) rời khỏi riboxom.
Hình 12b. Giai đoạn kéo dài chuỗi polipeptit
Dựa vào hình ảnh trực quan sinh động trên màn hình, HS dễ dàng quan sát
được những diễn biến xảy ra.
Trang 16
Sử dụng hiệu ứng di chuyển trong powerpoint, GV cho phức hợp aa
2
- tARN
(mang axit amin xistein, kí hiệu là Cys) tiến vào riboxom, codon đối mã trên tARN
sẽ khớp với codon tương ứng trên mARN theo nguyên tắc bổ sung.
Phát huy tính tích cực của HS, GV có thể đặt câu hỏi: codon đối mã trên
tARN là AXA thì sẽ khớp với codon nào trên mARN? HS dễ dàng trả lời được:
Khớp với codon UGU.
Hình 12c. Giai đoạn kéo dài chuỗi polipeptit
Đến đây, HS đã hiểu được thứ tự các bước diễn ra trong giai đoạn kéo dài
chuỗi polipeptit nên GV có thể đặt các câu hỏi tương ứng với các hình ảnh được
trình chiếu:
+ Lúc này axit amin 2 (Pro) và axit amin 3
(Cys) đứng cạnh nhau, vậy sự
kiện gì sẽ xảy ra? HS trả lời được ngay: Enzim sẽ xúc tác cho việc hình thành liên
ba khác là UGA hoặc UAA thì quá trình tổng hợp chuỗi polipeptit cũng sẽ kết
thúc.
Ribôxôm khi không còn tổng hợp protein nữa thì sẽ bị tách khỏi mARN để
trở về trạng thái ban đầu.
Dưới tác dụng của enzim, axit amin mở đầu (Met) bị cắt đi, chuỗi polipeptit
tiếp tục hình thành các bậc cấu trúc cao hơn, trở thành protein có hoạt tính sinh
học.
Nhờ các hiệu ứng ứng trong powerpoint, HS dễ dàng quan sát tác động của
enzim vào mối liên kết peptit giữa axit amin mở đầu và axit amin kế cận làm axit
amin mở đầu bị cắt đi.
Hình 13. Giai đoạn kết thúc
Tiếp theo, GV yêu cầu HS làm bài tập sau:
Cho một gen có trình tự các nucleotit như sau:
Mạch mã gốc 3’ A G T T T T G A A X 5’
Mạch bổ sung…………………………………
mARN ………………………………………….
Chuỗi polypeptit………………………………
Hãy xác định trình tự các nucleotit trên phân tử mARN và các axit amin trên chuỗi
polipeptit
HS thảo luận nhóm nhanh trong thời gian 5 phút rồi trả lời. GV cho HS đối
chiếu với đáp án đúng trên màn hình. Với bài tập này, các em sẽ vừa củng cố lại
được các kiến thức đã học, đồng thời có một tầm nhìn tổng quát hơn về cả quá
trình, bởi hoàn thành được bài tập này cũng đồng nghĩa với việc các em đã hoàn
thành được sơ đồ tóm tắt quá trình sinh tổng hợp protein trong tế bào diễn ra như
thế nào.
Trang 19
3. Polyribosome (polysome)
GV cho HS xem clip về hiện tượng polyribosome, từ đó các em dễ dàng nhận
thấy rằng trên một mARN có thể cùng một lúc gắn với một nhóm gồm nhiều
riboxom (được gọi là Polyribosome hay polysome), nên cùng một lúc sẽ tổng hợp
thác kỹ các phần trọng tâm, các giáo viên thường rất khó thực hiện được trong một
đơn vị thời gian chỉ là một tiết. Phương pháp dạy học thường được các giáo viên
áp dụng chủ yếu là truyền thụ kiến thức theo một chiều, giáo viên thuyết giảng,
đọc bài, học sinh nghe, chép bài, vì thế học sinh thường không có hứng thú học
tập, tỉ lệ học sinh nắm được bài mới rất thấp.
Hiện nay, nhờ áp dụng công nghệ thông tin vào thiết kế các bài giảng, giáo
viên đã giúp học sinh nhanh chóng hiểu được nội dung bài học, tiết học trở nên
sinh động hơn rất nhiều và bước đầu đã thu được hiệu quả đáng kể. Bằng phương
pháp dạy học nêu vấn đề kết hợp sơ đồ, mô hình hoá, sử dụng phiếu học tập cùng
với việc ứng dụng trình duyệt Power Point, Paint vào thiết kế các bài giảng thuộc
chương “Cơ chế di truyền và biến dị”, tôi đã thu được một số kết quả nhất định
như:
- Học sinh hiểu rõ nội dung bài mới và làm được nhiều bài tập liên quan.
- Các em hứng thú, say mê và bị cuốn hút bởi từng nội dung kiến thức
bài học. Vì thế hiệu quả giờ giảng được nâng lên rõ rệt.
Kết quả học tập của các lớp được nâng cao. Điểm bài kiểm tra 15 phút các
kiến thức thuộc chương này trong năm học 2014 – 2015 (tức là khi tôi ứng dụng
CNTT vào giảng dạy) cao hơn nhiều so với bài kiểm tra tương ứng của năm học
trước (khi chưa ứng dụng CNTT vào giảng dạy chương này), số lượng HS bị điểm
yếu, kém giảm rõ rệt:
Năm học
Lớp Giỏi (%) Khá (%)
Trung bình
(%)
Yếu
(%)
Kém
(%)
2013 - 2014
12A1 30 40 30 0 0
và học sinh tìm kiếm thông tin và tư liệu trên internet.
3. Tạo điều kiện để giáo viên bồi dưỡng thêm kiến thức về tin học và
công nghệ thông tin.
4. Hỗ trợ sách tham khảo và các tư liệu mới có liên quan đến môn học.
Đề tài này còn mang tính chất chủ quan và không thể tránh được những hạn
chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quí báu của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn đồng nghiệp để ngày càng hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành
cảm ơn.
Trang 23
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại cương lý luận dạy học môn sinh học – Nguyễn Phúc Chỉnh – Đại học
Thái Nguyên – 2012.
2. Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Sinh học - Tài liệu
bồi dưỡng giáo viên Ngô Văn Hưng, Chủ biên - Nhà xuất bản Giáo dục – 2008.
3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục
phổ thông môn sinh học lớp 12 (cấp THPT)- Ngô Văn Hưng (chủ biên), Lê
Hồng Điệp - Nguyễn Thị Hồng Liên – Nhà xuất bản giáo dục – 2009.
4. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học -
/>5. Phương pháp dạy học Sinh học ở trường phổ thông -
/>6. Sách giáo khoa Sinh học 12 cơ bản – Nguyễn Thành Đạt, Tổng Chủ biên –
Phạm Văn Lập, Chủ biên – Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn - Nhà xuất bản Giáo
dục – 2008.
7. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực - Vương Đình Hội –
Trung tâm hỗ trợ phát triển dạy và học – 2013.
Trang 24