Sáng kiến kinh nghiệm PHƯƠNG PHÁP ĐỂ DẠY TỐT TIẾT TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN - Pdf 29

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÒNG NAI
TRUNG TÂM GDTX THỐNG NHẤT
***    ***
Mã số: .
Mã số………………….
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

ĐỀ TÀI
“PHƯƠNG PHÁP ĐỂ DẠY TỐT TIẾT
TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN”

Người thực hiện: Cáp Thị Thu Hiền
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn. 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
NAÊM HOÏC: 2014 - 2015
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Cáp Thị Thu Hiền
2. Ngày tháng năm sinh: Ngày 03 tháng 06 năm 1978
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 318/7 Lập Thành – Xuân Thạnh – Thống Nhất – Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613771534 (CQ)/ ; ĐTDĐ: 01223750922

chuyên môn cũng có nói đến vấn đề này nhưng mỗi tài liệu lại có những ý kiến khác
nhau, ở các mức độ khác nhau. Chẳng hạn trong các giáo trình phương pháp dạy học
môn Ngữ Văn như “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” do nhóm tác giả Lê A, Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Minh Toán chủ biên; “Phương pháp dạy học Văn” do nhóm tác giả
Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt biên soạn, một
số định hướng về việc trả bài Làm văn đã được nêu ra. Nhưng đó mới chỉ là những
định hướng có tính chất gợi mở. Trong một số bài viết khác, việc chấm – trả bài cũng
được nhiều tác giả quan tâm, giới thiệu một số kinh nghiệm “Để dạy tốt một tiết trả
bài làm văn” của Trương Văn Hà, “Cách hướng dẫn học sinh lớp 12 nhận diện và
chữa lỗi sai trong bài Tập làm văn” của Hà Thị Quyến,…). Nhìn chung việc xây dựng
các bước tiến hành cho một tiết trả bài Tập làm văn chưa có sự thống nhất. Có thể nói,
tiết trả bài Tập làm văn là thuộc một trong số những cụm bài khó và để việc soạn
giảng thành công một tiết trả bài Tập làm văn phần lớn phụ thuộc vào ý thức, tinh
thần trách nhiệm cũng như năng lực, sự sáng tạo và phương pháp sư phạm của mỗi
giáo viên.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi thấy rằng việc trao đổi kinh nghiệm trong việc soạn
giảng tiết trả bài Tập làm văn là rất cần thiết và đây cũng là một chuyên đề thu hút rất
nhiều sự quan tâm của quý thầy cô giáo. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Phương pháp để
dạy tốt tiết trả bài Tập làm văn” làm đề tài nghiên cứu để cùng anh chị em đồng
nghiệp trao đổi nhằm nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn trong trung tâm.
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1. Cơ sở lý luận:
Yêu cầu đặt ra đối với bộ môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói
riêng là phải rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản ( nói – viết ). Mà Tập
làm văn là một phân môn có tính chất tổng hợp các kiến thức và kĩ năng đã được hình
3
thành từ các phân môn Tiếng Việt và Đọc văn. Nội dung chương trình Làm Văn gồm
hai phần: lý thuyết và thực hành. Trong đó, về thực hành chương trình chú trọng đến
các giờ luyện tập, các bài viết. Song song với tiết làm bài viết thì tiết trả bài Tập làm
văn đóng một vai trò rất lớn trong việc thực hiện yêu cầu này. Vì vậy trong hệ thống

coi trọng giờ trả bài, chưa dành nhiều thời gian cho việc chuẩn bị, chưa đầu tư đúng
mức từ khâu chấm bài đến khâu thiết kế giáo án và cuối cùng là khâu thực hiện việc
giảng dạy (trả bài) trên lớp. Cụ thể như sau:
- Việc chấm bài chưa chu đáo, chưa kĩ lưỡng. Được thể hiện cụ thể qua ba vấn đề:
+ Vấn đề thứ nhất: Nhiều thầy cô giáo chấm bài chỉ ghi điểm số bài làm mà
không có những nhận xét, sửa chữa cần thiết hoặc chấm “qua loa”, bỏ qua nhiều lỗi
4
của học sinh trong bài làm, nếu có nhận xét cũng chỉ là những lời phê chung chung.
Như thế học sinh sẽ không thể nhận ra được những ưu điểm, nhược điểm cụ thể từ bài
làm của mình để rút kinh nghiệm.
+ Vấn đề thứ hai: Có những thầy cô chấm bài viết của học sinh (đối với những
bài viết chữ xấu hoặc trình bày cẩu thả) với thái độ bực dọc, thiếu trân trọng và đánh
giá còn mang tính chất cảm tính. Như thế học sinh sẽ không thể đánh giá đúng năng
lực của bản thân hoặc không có động lực để phấn đấu hoặc dễ sinh ra tâm lí chán nản,
không muốn học môn Văn.
+ Vấn đề thứ ba: Trong quá trình chấm bài, thầy cô quên ghi nhận và phân loại
lỗi sai trên bài làm của học sinh ra cuốn sổ riêng hoặc không chú ý đến việc chọn lựa
những bài viết tốt, những đoạn viết hay mà theo chúng tôi đó sẽ là cơ sở quan trọng
cho việc soạn giáo án và nhận xét, sữa lỗi trên lớp. Bởi khâu chấm bài kỹ lưỡng và
khoa học là cơ sở để có một tiết trả bài hiệu quả.
- Việc soạn giáo án chưa được đầu tư đúng mức. Có thể vì ba nguyên nhân sau đây:
+ Nguyên nhân thứ nhất: Khác với các tiết học khác, tiết trả bài Tập làm văn
thường không có mô hình bài soạn mẫu để tham khảo; các tài liệu hướng dẫn cũng
không thống nhất; hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn chưa dành nhiều thời gian cho
việc trao đổi thảo luận về chuyên đề này. Vì không có một quy định chuẩn mực chung
nên cách thiết kế giáo án cho tiết trả bài Tập làm văn giữa các giáo viên đôi chỗ chưa
thống nhất.
Ví dụ cách soạn thứ nhất, ở phần nội dung lên lớp chỉ gồm các phần việc sau:
. Ghi lại đề bài
. Nội dung đáp án

+ Nguyên nhân thứ hai: Quan niệm ở một số thầy cô giáo cho rằng: “ giáo án
chỉ là một hình thức đối phó” mà không thấy hết được ý nghĩa, tầm quan trọng của
việc thiết kế giáo án (cơ sở để giáo viên thực hiện ), có vai trò rất lớn trong trong việc
quyết định sự thành công của giờ trả bài trên lớp. Cho nên có nhiều thầy cô giáo xem
nhẹ việc thiết kế giáo án, thiếu sự đầu tư, ít tìm tòi sáng tạo. Chỉ soạn cho có để đối
phó.
+

Nguyên nhân thứ ba: Như đã nói ở trên, các cơ sở dữ liệu cần thiết để phục
vụ cho việc thiết kế giáo án là từ khâu chấm bài. Thế nhưng vì khâu chấm bài không
đầu tư thỏa đáng dẫn tới việc thiết kế giáo án thiếu cơ sở và không có chiều sâu.
- Cách thức tổ chức thực hiện việc trả bài trên lớp chưa hợp lí, chưa khoa học
hoặc sử dụng phương pháp chưa phù hợp. Thực tế qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận
thấy Tổ chuyên môn chưa dành nhiều thời gian để trao đổi thảo luận bàn về phương
pháp thực hiện chuyên đề này. Vì vậy có một số tiết trả bài thầy cô ít quan tâm, thực
hiện còn nhiều lúng túng và thường không đạt được hiệu quả của tiết dạy. Cụ thể qua
khảo sát tình hình thực tế, chúng tôi nhận thấy:
+ Có một số thầy cô thường lên lớp với tâm lí “trả bài cho học sinh, vào điểm là
xong nhiệm vụ” nên dạy đơn giản hóa, chưa đảm bảo nội dung kiến thức, chưa đáp
ứng được mục đích yêu cầu của một tiết trả bài ( không rèn cho học sinh những kỹ
năng cần thiết: phân tích đề, tìm ý và lập dàn ý; diễn đạt ý, từ, câu, đoạn; chỉ ra những
lỗi sai cơ bản, phân tích nguyên nhân sai, sữa lỗi ) hoặc không có phần đọc mẫu hay
chỉ ra và bình những “lời hay ý đẹp” trong một số bài làm của học sinh mà theo tôi là
rất quan trọng để các em học tập, rút kinh nghiệm. Từ đó giúp học sinh biết cách sử
dụng tiếng Việt không những đúng mà còn sử dụng hay (có nghệ thuật) trong giao
tiếp, tư duy, học tập đạt hiệu quả.
6
+ Có thầy cô không xác định đúng trọng tâm bài học nên có tiết thì nặng về lí
thuyết mà không chú trọng rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hành. Có tiết nặng về
nêu ưu điểm nên học sinh chưa nhận thức được lỗi sai của mình và lần sau các em vẫn

tiết dạy của giáo viên (như đã phân tích ở trên), một phần do phương pháp lên lớp của
giáo viên không phù hợp, chưa điều khiển được học sinh hoặc còn áp đặt khiến học
sinh thụ động tiếp thu, cũng có thể do giáo viên chưa động viên hoặc chưa tạo điều
kiện cho học sinh phát huy khả năng và vai trò của mình…
III Tổ chức thực hiện
1. Giải pháp thực hiện
7
Để thực hiện một tiết trả bài trên lớp được thành công, mỗi thầy cô giáo cần phải
thể hiện được năng lực chuyên môn, lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm và tâm
huyết đối với nghề nghiệp cũng như đối với học sinh qua ba công việc sau đây:
1.1. Công việc chấm bài:
- Thầy cô giáo cần chấm bài với một tinh thần, thái độ nghiêm túc, khách quan,
vô tư; bám sát yêu cầu của đề và đáp án ghi điểm chính xác; phần nhận xét ghi rõ
ràng, cụ thể những ưu điểm và hạn chế của bài làm, giúp học sinh nhận ra được
những ưu điểm, nhược điểm của bản thân về kiến thức và kỹ năng từ bài làm văn này;
từ đó rút kinh nghiệm cho bài làm văn tiếp theo đạt kết quả cao hơn.
- Song song với việc chấm bài kỹ lưỡng thì giáo viên cần có thêm một cuốn sổ
riêng – tạm gọi là “sổ chấm bài”. Sổ này dùng để ghi nhận lại những lỗi sai cơ bản
của học sinh . Tùy vào tình hình thực tế sau mỗi bài viết, thầy cô chỉ cần chọn lọc
một số lỗi sai cơ bản về kiến thức và kĩ năng mà học sinh hay mắc nhiều nhất để làm
cơ sở cho việc soạn giảng, các lỗi còn lại thầy cô phê trên bài làm của học sinh. Vì
thời lượng có hạn thầy cô không nhất thiết ghi lại tất cả các lỗi sai của tất cả học sinh.
Bởi như thế sẽ không đảm bảo về mặt thời gian và chất lượng của giờ dạy. Sau đó,
giáo viên chuẩn bị sẵn phần này trên máy chiếu hoặc trên bảng phụ.
- Sau khi chấm bài xong, giáo viên nên có một cái nhìn tổng quát để chọn bài
viết tiêu biểu (một bài viết tốt nhất) hoặc bài làm có cách dùng từ, viết câu hay, dựng
đoạn tốt hoặc những “ lời hay ý đẹp” ( thường là dài, không có thời gian ghi chép lại
vào sổ), giáo viên nên đánh dấu trên bài làm của học sinh, có thể chụp hình lại và đưa
lên máy chiếu. Đây cũng là một việc không thể thiếu trong quá trình lên lớp góp phần
tạo nên hiệu quả giáo dục tích cực của tiết trả bài. Bởi tâm lí con người ai cũng vậy,

vấn, trả lời câu hỏi, thảo luận, sửa lỗi
1.2. Phương tiện dạy học: Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 12,
chuẩn kiến thức.
2. Học sinh: SGK, sách tham khảo, soạn bài theo hệ thống câu hỏi trong SGK.
C/Hoạt động dạy học
1.Ổn định lớp.
2.Kiểm tra bài cũ: Thông qua
3.Bài mới: ( Lời vào bài …)
9
Họat động của GV &
HS
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Tạo tâm
thế cho học sinh tham gia
tiết trả bài
- Giới thiệu qua cấu trúc
bài học
Hoạt động 2: Gọi HS
nhắc lại đề và GV ghi đề
lên bảng, phân tích đề
- Yêu cầu HS phân tích
đề: HS làm việc cá nhân
trả lời, GV nhận xét, chốt
ý.
Hoạt động 3: Lập dàn ý:
Sử dụng hình thức vấn -
đáp tại chỗ ( từ 3- 5 HS).
- HS nhắc lại thế nào là
lập dàn ý? Xác định luận
điểm, luận cứ. Cách lựa

-> Gợi ấn tượng về cuộc sống lam lũ, vất vả, bất hạnh.
10
- Cuối cùng GV tổng hợp
ý kiến của HS rồi nhận
xét, bổ sung để hoàn
chỉnh dàn ý theo bố cục 3
phần: mở bài, thân bài,
kết bàià (trình chiếu dàn
ý lên bảng phụ ).
Hoạt động 4: Nhận xét
chung:
- Giáo viên nhận xét cụ
thể bài làm của học sinh
về ưu điểm, khuyết điểm.
2. Số phận:
- Cuộc sống nghèo khổ, lam lũ.
- Nạn nhân của nạn bạo hành gia đình.
+ Bị bạo hành về thể xác.
+ Bị giày vò về tinh thần.
3. Vẻ đẹp tâm hồn:
a. Tâm hồn sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời:
- Hiểu được sự khó nhọc, nguy hiểm của nghề đi biển.
- Hiểu được thiên chức của người phụ nữ
- Hiểu được nỗi khổ của chồng.
b. Tấm lòng nhân hậu, bao dung: Trong cách nhìn nhận,
đánh giá người chồng.
c. Vẻ đẹp của tình mẫu tử:
- Thể hiện ở đức hi sinh.
- Tình mẫu tử không chí thể hiện qua nước mắt mà còn
thể hiện qua niềm vui dẫu hiếm hoi, ít ỏi – niềm vui chắt

- Một số bài còn thiếu ý, ý không rõ, sắp xếp ý không hợp
lí.
3. Thống kê kết quả cụ thể:
LỚP SS
GIỎI KHÁ TB YẾU KÉM
S
L
% SL % SL %
S
L
%
S
L
%
12
A
29 2
5,
5
%
10
38,
9%
12
44,5
%
5
1
1,
1

thảo luận theo nhóm: chỉ
ra lỗi sai ở từng nhóm
(chính tả, dùng từ, viết
câu), phân tích nguyên
nhân sai, sửa lại cho
đúng.
- GV giám sát quá trình
hoạt động nhóm, sau 5
phút lần lượt gọi đại diện
mỗi nhóm (hoặc cũng có
thể gọi bất kì một HS
trong nhóm) trình bày kết
quả thảo luận, yêu cầu
HS dưới lớp theo dõi,
+ Tên riêng không viết hoa: nguyễn minh châu.
- Cách sửa: Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
(4). Chiếc thuyền ngoài xa là 1 trong những tác phẩm xuất
sắc của Nguyễn Minh Châu. - Lỗi sai: viết số: 1
- Cách sửa: Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những
tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu.
2. Từ ngữ:
(1). Nguyễn Minh Châu là nhà văn tài ba, xuất chúng
của văn học Việt Nam sau năm 1975.
- Lỗi sai: dùng từ sáo rỗng: tài ba, xuất chúng
- Cách sửa: Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu
của văn học Việt Nam sau năm 1975.
3. Ngữ pháp
(1). Từ đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX chuyển sang cảm
hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và chiết lí nhân

tiêu biểu hoặc những “
lời hay ý đẹp”
Hoạt động 7: Trả bài –
vào điểm.
viết về đề tài này như Nguyễn Minh Châu, Đặng Trần
Côn, Nguyễn Du, Quang Dũng
- Lỗi sai:
+ Luận cứ lộn xộn, không theo trình tự thời gian:
Nguyễn Minh Châu, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Quang
Dũng
+ Nhà thơ Quang Dũng không viết về đề tài người
phụ nữ.
- Cách sửa: Từ xưa đến nay, vẻ đẹp và số phận của
người phụ nữ luôn là đề tài chủ đạo trong thơ văn. Nhiều
tác giả đã viết về đề tài này như Đặng Trần Côn, Nguyễn
Du, Nguyễn Minh Châu
(2). Người đàn bà trạc ngoài 40, cao lớn với những đường
nét thô kệch. Khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy
hai con mắt.
- Lỗi sai: Nhầm lẫn với ngoại hình của nhân vật cô vợ
nhặt ( trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân )
- Cách sửa: Người đàn bà trạc ngoài 40, cao lớn với
những đường nét thô kệch. Khuôn mặt mệt mỏi sau một
đêm thức trắng để kéo lưới, tái ngắt và dường như
đang buồn ngủ.
V. Đọc bài mẫu cho học sinh tham khảo
VI. Phát bài-vào điểm .
4. C ủng cố: Nhắc lại những ưu khuyết điểm để học sinh rút kinh nghiệm.
5. D ặn dò : Chuẩn bị bài Ông già và biển cả - Hê-minh-êu.
RÚT KINH NGHIỆM SAU BÀI DẠY

2. Hiệu quả đạt được:
Sau một thời gian áp dụng nghiêm túc quy trình chấm - trả bài làm văn trên,
tôi vừa thực hiện vừa ghi nhận kết quả trong từng tiết trả bài. Điều quan trọng đầu tiên
tôi nhận thấy đó là tay nghề của người thầy đã được nâng cao hơn. Thứ hai là qua đối
chiếu so sánh, phân tích, tổng hợp, tôi nhận thấy đại đa số học sinh đã có những
chuyển biến tích cực trong việc làm bài viết cũng như trong giờ học tiết trả bài làm
văn, chất lượng dạy - học bộ môn cũng được nâng lên đáng kể. Cụ thể:
Học sinh hào hứng, chủ động, tích cực hơn với giờ trả bài Làm văn cũng như
việc học tập môn Ngữ Văn.
Đã hình thành thói quen phân tích đề, tìm ý và lập dàn ý trước khi làm bài.
Đã vận dụng tương đối tốt các thao tác lập luận trong bài nghị luận.
15
Các lỗi cơ bản đã giảm nhiều, số bài viết bị điểm yếu kém cũng giảm và số bài
đạt điểm từ trung bình trở lên đã tăng dần.
Kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, viết mở bài, kết bài ở nhiều học sinh đã trở nên
thuần thục hơn,… Một số học sinh có khả năng đã viết được những đoạn, những bài
văn hay.
Nói chung sự tiến bộ của các em thể hiện cụ thể qua từng bài viết. Bảng thống
kê điểm số của học sinh qua các bài làm văn dưới đây phần nào thể hiện được hiệu
quả của việc áp dụng đề tài này trong việc dạy môn Ngữ Văn của chúng tôi tại đơn vị.
Bảng thống kê điểm số các bài làm văn trong năm học 2014-2015
Lớp: 11A và 11B Tổng số học sinh: 49
LỚP
BÀI
VIẾ
T
TỐT KHÁ
TRUNG
BÌNH
YẾU KÉM

thực hiện trên lớp ( dù giáo viên có tay nghề vững vàng nhưng thiếu giáo án thì chất
lượng giáo dục cũng sẽ không hoàn toàn đạt hiệu quả).
- Giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong khâu tổ chức các hoạt động trên lớp
và phải có sự phối hợp nhịp nhàng từ hai phía: phía người dạy (giáo viên) và phía
người học( học sinh).
2. Những ý kiến đề xuất:
2.1. Đối với tổ bộ môn và ban chuyên môn nhà trường: Tổ chức Hội thảo
chuyên đề về cách soạn giảng tiết trả bài Tập làm văn.
2.2. Đối với giáo viên:
- Cần tăng cường dự giờ học hỏi rút kinh nghiệm ở các tiết trả bài.
- Cần đầu tư cho khâu chuẩn bị tiết dạy một cách thỏa đáng.
Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi đúc rút được qua nghiên cứu tài liệu và
thực tế giảng dạy. Có thể chưa thực sự sâu sắc và có sức thuyết phục cao, rất mong
được sự góp ý của quý thầy cô.

Thống nhất, ngày 12 tháng 05 năm 2015

Người viết

Cáp Thị Thu Hiền
17
TÀI LIỆU TAM KHẢO
1. Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ Văn lớp 10, 11, 12 (cơ bản và nâng cao)
- Bộ Giáo dục và Đào tạo - Nxb Giáo dục, Hà Nội – 2013.
2. Phương pháp dạy học Tiếng Việt – Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh
Toán - Nxb Giáo dục, Hà Nội – 2001.
3. Phương pháp dạy học Văn Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh
Hùng, Trần Thế Phiệt Nxb ĐHQG, Hà Nội – 2005.
4. Một số vấn đề lý luận và phương pháp trong sách Làm văn lớp 12 CCGD –
Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Quang Ninh, Đỗ Ngọc Thống – Nxb ĐHSP,

cao 
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả 
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình, nay
tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
Xếp loại chung: Xuất sắc  Khá  Đạt  Không xếp loại 
Cá nhân viết sáng kiến kinh nghiệm cam kết và chịu trách nhiệm không sao chép tài liệu của
người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của mình.
Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận đã kiểm tra và ghi nhận sáng kiến kinh nghiệm này đã
được tổ chức thực hiện tại đơn vị, được Hội đồng chuyên môn trường xem xét, đánh giá; tác giả
không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của
chính tác giả.
Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của tác giả và người có
thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.
19
BM04-NXĐGSKKN
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status