Sáng kiến kinh nghiệm DẠY VĂN HỌC SỬ KHÓ NHƯNG DỄ - Pdf 29

Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VĨNH CỬU
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY VĂN HỌC SỬ - KHÓ NHƯNG DỄ
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HÀ
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục: …………………… 
- Phương pháp dạy học bộ môn: 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: Công tác chủ nhiệm lớp 
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2014 - 2015
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 2
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ HÀ
2. Ngày tháng năm sinh: 20 – 7 - 1979
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: KP 3 – Trảng Dài – Biên Hòa – Đồng Nai
5. Điện thoại: (CQ)/ (NR); ĐTDĐ: 0914932119
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn Ngữ văn, Chủ nhiệm lớp 10A2
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Vĩnh Cửu
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Dù quan niệm giáo dục hiện đại lấy người học làm trung tâm, thì thực tế ở
trường phổ thông cho thấy thầy cô giáo vẫn là nhân tố quyết định thành công của sự
nghiệp cải cách. Trong nhân tố này có vấn đề tầm nhìn, kiến thức, phương pháp và kỹ
năng. Đặc biệt là khi dạy những bài văn học sử trong chương trình, giáo viên sẽ thể
hiện đầy đủ nhất về năng lực chuyên môn nhằm giúp học sinh tiếp cận những tri thức
tưởng chừng rất khô khan, khó nhớ.
Trong phạm vi bài viết này, tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm dạy những bài
văn học sử trong chương trình mà tôi đã thực hiện có hiệu quả nhất, để mỗi tiết học
văn học sử - khó nhưng dễ.
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 4
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
a) Dạy văn học sử - rất khó. Đây là điều mà những giáo viên đều cảm thán. Trong
chương trình môn văn ở phổ thông có ba loại giờ học: phân tích tác phẩm, dạy bài văn
học sử, dạy bài lí luận văn học. Mỗi loại bài có đặc điểm riêng, do vậy phương hướng
giảng dạy, cách khai thác bài học cũng có những yêu cầu riêng. Quá trình thiết kế bài
học không phải là quá trình giáo viên cung cấp kiến thức mà là quá trình giáo viên
hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức. Vì vậy giáo viên luôn luôn phải hình dung ra
những hình thức hoạt động cụ thể sẽ tiến hành trong lớp học để giúp học sinh tham gia
tích cực vào quá trình tìm hiểu kiến thức.
Dạy văn học sử khác với dạy tác phẩm văn học ở điểm: tác phẩm văn chương
trong sách giáo khoa chỉ là một văn bản, tác phẩm nói cái gì, giáo viên dạy cái gì hoàn
toàn phụ thuộc vào khả năng cảm thụ và sự hiểu biết của giáo viên. Trong bài văn học
sử (bài lý luận văn học cũng vậy) kiến thức chủ yếu nằm ngay trong bài, nhiệm vụ của
giáo viên không phải là cho học sinh chép lại sách giáo khoa mà là chọn lựa, phân
loại những vấn đề chủ yếu, thứ yếu và bằng sự hiểu biết của mình lý giải, phân
tích, chứng minh làm sáng tỏ vấn đề.
Trong khi đó, dạy văn học sử như thế nào cho hay, cho hấp dẫn học sinh phụ
thuộc nhiều vào kĩ năng sư phạm của mỗi giáo viên đứng lớp. Rất ít có những sách
nghiên cứu chỉ ra cụ thể là giáo viên phải làm như thế nào, ra sao.
b) Ở ngôi trường tôi đang công tác, dạy văn học sử như thế nào cho hấp dẫn học

lịch sử văn học cho học sinh lên một bước so với chương trình trung học cơ sở. Từ đó,
luyện cho học sinh khả năng vận dụng tri thức đó. Văn bản lịch sử văn học mang đến
cho bộ môn Ngữ Văn tính chất khoa học. Ngoài nhiệm vụ trang bị tri thức khái quát về
lịch sử phát triển của văn học Việt Nam cho học sinh, các văn bản lịch sử văn học còn
chi phối hoạt động đọc hiểu các loại văn bản trong chương trình Ngữ văn theo quan
điểm, lịch sử, thể loại. Bên cạnh đó lịch sử văn chương không chỉ cung cấp cho học
sinh tri thức về lịch sử sáng tạo và tiếp nhận văn chương của một dân tộc mà còn giúp
cho học sinh hiểu được lịch sử, văn hóa, xã hội,… trong sự phát triển của dận tộc.
Đồng thời bồi đắp cho các em lòng yêu nước và lòng nhân ái trong cuộc sống hiện đại.
Tổng thể các bài văn học sử trong chương trình Ngữ văn THPT như sau:
Lớp Ngữ Văn cơ bản Ngữ văn nâng cao
10
1. Tổng quan về Văn học Việt Nam.
2. Khái quát về văn học dân gian
Việt Nam.
3. Ôn tập Văn học dân gian Việt
Nam.
4. Khái quát Văn học Việt Nam từ
thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX.
5. Truyện Kiều của Nguyễn Du
1. Tổng quan về Văn học Việt Nam.
2. Khái quát về Văn học dân gian Việt
Nam.
3. Ôn tập Văn học dân gian Việt Nam.
4. Khái quát Văn học Việt Nam từ thế
kỉ X đến XIX.
5. Nguyễn Trãi.
6. Nguyễn Du
11
1. Ôn tập Văn học trung đại Việt

- Bài khái quát về tác giả văn học.
Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn bao gồm những sự kiện lịch sử, xã hội, văn
học; trào lưu văn học; những tác gia, tác giả và tác phẩm tiêu biểu, thành tựu văn học.
Do vậy, kiến thức của bài văn học sử có những đặc điểm sau:
a. Tính khái quát:
- Là những bài học tổng kết cả một thời kỳ văn học, giai đoạn văn học, trào lưu
văn học, tổng kết sự nghiệp sáng tác của một tác gia nên kiến thức văn học sử có tính
khái quát, trừu tượng cao. Bài văn học sử vì vậy mà khó dạy, khó học. Tính khái quát
trong kiến thức văn học sử thể hiện ở nhiều cấp độ. Cấp độ 1: thời kì văn học, cấp độ
2: giai đoạn văn học, cấp độ 3: tác gia, cấp độ 4: tác phẩm
+ Kiến thức trong bài thời kỳ văn học là sự tổng hợp, khái quát những vấn đề
của các giai đoạn văn học, các tác gia, tác giả, tác phẩm.
+ Kiến thức trong bài giới thiệu về một tác gia là sự tổng kết cuộc đời và sự
nghiệp của tác gia đó với những tác phẩm tiêu biểu.
+ Phần giới thiệu tác phẩm là sự đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của một
tác phẩm lớn, sau đó trong phần giảng văn, học sinh chỉ học một trích đoạn của tác
phẩm.
- Như vậy, mỗi luận điểm, luận cứ trong bài khái quát chứa đựng những khối
lượng kiến thức lớn, có tính khái quát cao.
Ví dụ: Về giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX,
sách giáo khoa lớp 10, tập I viết:
“Văn học thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX chứng kiến sự xuất hiện của trào
lưu nhân đạo chủ nghĩa. Nổi bật lên trong sáng tác văn học giai đoạn này là tiếng nói
đòi quyền sống, đòi hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người, trong đó có phần
con người cá nhân, nhất là người phụ nữ. Những tác phẩm tiêu biểu là Chinh phụ
ngâm – nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm
(?), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, thơ Hồ Xuân Hương, thơ bà Huyện
Thanh Quan, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Nguyễn Du với các tập
thơ chữ Hán và đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều được coi là đỉnh cao nhất của văn học
trung đại Việt Nam.”

và tập II của cả 3 cấp lớp 10,11,12. Tương ứng với phần văn học dân gian ở lớp 10,
tập I, học sinh sẽ học văn học dân gian Hy lạp, Ấn Ðộ , tương ứng với thời kỳ văn
học trung đại Việt Nam ở lớp 11, tập I, học sinh sẽ tiếp xúc với văn học cổ điển thế
giới
c. Tính tổng hợp:
- Văn học của bất cứ thời kỳ nào bao giờ cũng vận động và phát triển trong sự
gắn bó chặt chẽ với chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa của một thời kỳ lịch sử
nhất định. Do vậy kiến thức của giờ văn học sử là kiến thức mang tính tổng hợp về lịch
sử, xã hội, văn hóa, triết học, tôn giáo, chính trị
Ví dụ: Trong văn học trung đại Việt Nam có hiện tượng tam giáo
đồng nguyên, tức có sự giao hòa của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo. Nếu giáo viên
không có những hiểu biết nhất định về lịch sử, về Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo thì
không thể hiểu sâu văn học nhà Nho cũng như không thể hiểu tại sao trong Truyện
Kiều lại có yếu tố định mệnh, tại sao Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ lại có tình thần
nhập thế rất mạnh mẽ.
Văn học giai đoạn 1930 - 1945 phân hóa thành 3 trào lưu: lãng mạn, hiện thực
phê phán và cách mạng. Nguyên nhân của sự phân hóa này là do sự xuất hiện của
Ðảng Cộng sản, của tầng lớp trí thức Tây học, tầng lớp tư sản, tiểu tư sản trong xã
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 8
hội, do sự giao lưu với văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp Phải hiểu
những đặc trưng lịch sử, văn hóa, xã hội của thời kỳ này mới có thể hiểu được những
thành tựu văn học của nó.
2. Nhưng dễ:
a. Giải pháp 1:
- Chọn lựa, phân loại các luận điểm, luận cứ được trình bày trong sách giáo
khoa sau đó sử dụng phương pháp diễn giảng kết hợp với giải thích, phân tích, chứng
minh bằng những dẫn chứng cụ thể: dẫn chứng về sự kiện văn học, về tác giả, tên tác
phẩm hoặc một vài câu văn, câu thơ tiêu biểu. Nên tập trung vào những sự kiện liên
quan đến tình hình văn học, sáng tác của tác giả và lý giải cho học sinh thấy phong
cách nghệ thuật của tác gia được hình thành trong điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội

- Sử dụng các loại biểu bảng, sơ đồ giúp học sinh nắm được những nội dung
chính của bài học:
Ví dụ: Những bảng biểu này sẽ giúp học học sinh tóm tắt được một cách khái
quát và có hệ thống kiến thức trong bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX
đến Cách mạng tháng 8 năm 1945, Văn học 11:
Mẫu 1:
Hiện đại hóa văn học
ĐK để
HĐH
Các giai đoạn HĐH
Giai đoạn
1
Giai đoạn
2
Giai đoạn
3
Mẫu 2:
Sự phân hóa văn học
Văn học công khai Văn học không công
khai
Mẫu 3:
Tốc độ phát triển nhanh chóng
Biểu hiện Nguyên nhân
Đòi quyền sống
Đòi hạnh phúc
Đấu tranh giải
phóng con người,
nhất là người phụ
nữ.
Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm

nắm vững kiến thức của bản thân.
Chú ý: Bài văn học sử được học như một bài mở đầu cho một thời kỳ, giai đoạn
văn học. Học sinh học trong điều kiện chưa có những hiểu biết cụ thể về tác giả, tác
phẩm của thời kỳ, giai đoạn văn học đó. Do vậy bài giảng cần được cụ thể hóa bằng
những dẫn chứng. Sau đó, khi học tác phẩm, cần thông qua tác phẩm củng cố lại
những kiến thức khái quát đã học trong giờ văn học sử, giúp học sinh có cái nhìn hệ
thống với vấn đề đã học.
2. Giải pháp 2: Dùng hệ thống câu hỏi tốt để giúp học sinh tìm hiểu vấn đề.
- Thế nào là hệ thống câu hỏi tốt? Là câu hỏi có thể cung cấp đầy đủ những
kiến thức một cách cơ bản và chính xác nhất của một bài học, đồng thời có tính hấp
dẫn và lôi cuốn học sinh chú ý vào bài học để tham gia xây dựng bài và nắm được nội
dung bài học một cách đầy đủ.
- Ý nghĩa: Câu hỏi tốt thể hiện sự sáng tạo trong sự chuẩn bị câu hỏi của giáo
viên. Giúp học sinh tiếp thu bài một cách dễ dàng nhất, từ đó phát huy được năng lực
cảm thụ và tư duy.
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 11
- Mục đích yêu cầu của hệ thống câu hỏi tốt trong giờ đọc – hiểu văn bản
lịch sử Văn học:
 Về kiến thức: Giúp học sinh hình thành và tích lũy hệ thống tri thức, nắm
được nội dung trọng tâm của bài học và có thể nâng cao sự hiểu biết của mình về kiến
thức bên ngoài.
 Về kĩ năng: Giúp học sinh rèn luyện được kĩ năng, năng lực cảm thụ tư duy
sáng tạo (đọc sách giáo khoa, phát hiện luận điểm, lập dàn ý, minh họa…)
 Về thái độ: Giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh (về truyền thống yêu
nước, về chủ nghĩa nhân văn…)
- Các loại câu hỏi thường sử dụng trong giờ đọc hiểu văn bản lịch sử Văn
học: Trong giờ đọc hiểu văn bản lịch sử văn học thường sử dụng các loại câu hỏi sau:
câu hỏi tái hiện, câu hỏi phát hiện, câu hỏi phân tích – khái quát, câu hỏi phân tích –
minh họa, câu hỏi so sánh – khái quát… Giúp học sinh phát huy được đầy đủ năng lực
cảm thụ và trí tuệ, tạo sự hứng thú và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh

khác nhau, chứa đựng bao nhiêu khái niệm cần giải thích, nhiều định nghĩa phải minh
họa, nhiều mối quan hệ logic trong câu cần phân tích và giải thích. Vì vậy, dùng
phương pháp diễn giảng là phù hợp nhất đối với một bài văn học sử. Đây là phương
pháp truyền thống và phổ biến hiện nay.
- Cách thực hiện:
 Giáo viên phân tích, trình bày các tri thức kết hợp với ghi bảng, còn học sinh
thì nghe, hiểu và ghi chép vào vở riêng.
 Giáo viên sử dụng phương pháp diễn giảng có thể thực hiện phương pháp này
theo hai cách sau:
 Diễn giảng theo hình thức quy nạp, tức là đi từ các hiện tượng văn học sử
đến nhận định văn học sử.
 Diễn giảng theo hình thức diễn dịch, tức là đi từ nhận định văn học sử đến
các hiện tượng văn học sử.
Hoặc có thể kết hợp cả hai hình thức trên.
Ví dụ: Trong bài tác gia Xuân Diệu ở chương trình Ngữ Văn 11 có nhận định
rằng: “ Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong tất cả các nhà thơ mới ” ( Hoài Thanh ).
Để giúp cho học sinh hiểu được nhận định trên, giáo viên có thể áp dụng phương pháp
diễn giảng theo hình thức diễn dịch về các vấn đề sau: Đặc điểm nội dung và nghệ
thuật thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, sau đó đưa ra một vài tác phẩm tiêu
biểu của ông ở giai đoạn này để chứng minh cho sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật
trong thơ ca ông.
 Diễn giảng phải dựa vào sách giáo khoa nhưng không phải là đọc, là chép
sách giáo khoa hay nói lại theo sách giáo khoa mà là giảng giải, minh họa để giúp học
sinh hiểu sách giáo khoa, hiểu các khái niệm, nhận định và dẫn chứng. Đây là một
thách thức đối với giáo viên đứng lớp. Bởi không chỉ đòi hỏi giáo viên phải có kiến
thức sâu rộng về nhiều vấn đề tích hợp, mà còn phải có kĩ năng chọn lựa phương cách
phù hợp vấn đề, kết hợp cách pân tích, bình luận…
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 13
 Phải đảm bảo tính truyền cảm để bài giảng có sức thu hút, tránh sự nhàm chán
đối với người nghe.

Bí quyết cá nhân: Để cho phương pháp này phát huy một cách có hiệu quả nhất,
giáo viên có thể kết hợp diễn giảng với việc sử dụng công nghệ thông tin như: Sử dụng
hình ảnh trực quan (hình ảnh tác giả, tác phẩm, minh họa cho các chi tiết trong tác
phẩm), âm nhạc (nhạc nền, những bài hát liên quan đến tác phẩm), đoạn phim trong
bài trình chiếu. Hiệu ứng phông chữ: in đậm, tô màu, chữ to tạo hiệu ứng cho những
nội dung kiến thức quan trọng.
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 14
Ví dụ: Khi dạy bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
trong sách văn học 10, tập 1, tôi thường làm như sau:
+ Với mục các giai đoạn phát triển của văn học: Đây là một phần khá dài, tổng
hợp nhiều kiến thức của các phân môn khác nhau. Để giúp học sinh không bị nhàm
chán về dung lượng kiến thức khô khan, ở mỗi một giai đoạn phát triển, tôi sẽ đưa ra
những tranh ảnh minh họa về hoàn cảnh lịch sử của giai đoạn đó: ví dụ ảnh những
chiếc cọc gỗ trên sông Bạch Đằng và hỏi học sinh: “Em có biết về hình ảnh này
không? Trận chiến này có vai trò quan trọng như thế nào đối với lịch sử của đất nước
và đã tác động như thế nào đến đời sống văn học thời kì đó?”…………
Hàng nghìn cây gỗ lim, sến đầu được vạt nhọn và bịt sắt cắm xuống sông
thành những hàng dài chắc chắn, đầu cọc hướng chếch về phía nguồn
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 15
Bãi cọc Bạch Đằng được phát hiện tại xã Yên Giang, Quảng Ninh
+ Đối với mục nội dung của văn học thời kì này, khi tìm hiểu về cảm hứng yêu
nước, tôi sẽ minh họa cho học sinh xem ảnh chiếu đời đô. Sau đó đặt câu hỏi: “Em có
biết Chiếu dời đô là của ai không? Chiếu dời đô thể hiện được nội dung gì của văn
học thời kì này? ”. Giáo viên có thể giảng thêm cho học sinh hiểu về ý nghĩa của
Chiếu dời đô:
Nền tảng của Chiếu dời đô là tư tưởng vì nước, vì dân. Chính vì lẽ ấy mà nói
rằng, Chiếu dời đô tràn đầy ý nghĩa văn hóa truyền thống. Việc lựa chọn Thăng Long
làm kinh đô nước Việt sẽ góp điều kiện quyết định sự phát triển văn hóa dân tộc trên
những tầng cao. Muốn cho văn hóa dân tộc phát triển lên những tầng cao thì trước
hết phải bảo vệ độc lập lâu dài vững chắc. Chiếu dời đô đòi hỏi phải chọn đất kinh kỳ

kích thích, khơi gợi của người dạy. Điều này không phải thầy dạy mới có, mà trên cơ
sở hoạt động dạy học những năng lực phân tích, khái quát, tổng hợp đã “mai phục sẵn”
ở người học sinh được phát triển.
- Điều quan trọng nhất của dạy học Văn học sử là phải lý giải được mối quan hệ
biện chứng và lịch sử của các hiện tượng văn học từ tổng hợp khái quát đến cụ thể.
Vì sao Văn học dân gian Việt Nam lại gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc sâu sắc như vậy? Vì sao những tư tưởng triết học dân chủ của cha ông in
đậm nét trong văn học truyền miệng của dân tộc? Học sinh phải tự hiểu được rằng
trong chế độ quân chủ chuyên chế, “khi một dân tộc bị mất dân quyền và nhân quyền,
thì văn học là diễn đàn duy nhất để dân tộc đó thể hiện tâm hồn và tư tưởng của mình”
(Gherxen). Vì sao tư tưởng Phật, Lão lại được lưu hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa
yêu nước trong thơ Lý, Trần? Vì sao giai đoạn lịch sử Lê mạt – Nguyễn sơ vấn đề số
phận con người với tự do công bằng lại đặt ra một cách dữ dằn như vậy? Vì sao các
trào lưu văn học giai đoạn 1930-1945 lại phát triển đăc biệt như vậy? Điểm khác nhau
cơ bản giữa văn học trung đại và hiện đại, giữa văn học trước và sau 1975?
Nếu không hiểu được những vấn đề khái quát tối thiểu thì dù tư liệu có phong
phú đến đâu cũng không thể giải quyết tốt những vấn đề cụ thể của việc phân tích tác
phẩm sau này. Vấn đề phát triển kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát là vô cùng
quan trọng trong dạy học Văn học sử. Thông tin về Kinh tế, Chính trị, Tôn giáo, các
hiện tượng văn học, …các hình thái ý thức khác…cũng quan trọng. Nhưng quan
trọng hơn là xử lý được các thông tin trong mối quan hệ giữa chúng với nhau và với hạ
tầng cơ sở. Và cũng không thể không lý giải những nét riêng đặc thù của văn học so
với các hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng khác. Mối quan hệ với các dòng
Thiền Trúc Lâm, Quan Bích, Nam Phương của thơ ca Lý Trần, chất sám hối để linh
hồn con người được cứu rỗi trong văn chương của Nguyên Hồng, Nam Cao, Hàn Mặc
Tử … các nhà văn nhà thơ theo dạo Thiên Chúa.
- Với thời kì văn học rất cần phân tích sự biến động của Lịch sử, của Triết học,
Mĩ học, Tôn giáo, Kinh tế, Chính trị trong suốt một thời kì lịch sử dài đằng đẵng kéo
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 17
theo sự ra đời phát triển của các trào lưu, các trường phái, các thể tài mới mẻ. Không

diện nội dung và hình thức nghệ thuật; cũng cần nắm được những hạn chế nhược điểm
và nguyên nhân. Cần ghi nhớ những nhận định quan trọng có ý nghĩa soi sáng cho việc
tiếp nhận tri thức tác phẩm văn học cụ thể.
Ví dụ: Nhận định về đặc điểm nổi bật của giai đoạn văn học Việt Nam 1945 -
1975 là: đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn sẽ có ý nghĩa quan trọng khi
đi vào những tác phẩm cụ thể và các thể loại ra đời trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ.
- Một vài ví dụ cụ thể về cách dạy văn học sử theo hướng tích hợp liên môn:
 Bài Tổng quan văn học Việt Nam, Văn học 10: Cần tóm tắt lịch sử Việt Nam
từ nguồn gốc đến nay: từ nguồn – 1858; 1858 – 1919; 1919 - 2000
 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu: cần liên hệ đến Triều Nguyễn Việt Nam cuối thế
kỉ XIX, khi Pháp đánh Nam Kì (1861) và chiếm cả Bắc Kì…
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 18
 Bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng thánh 8
năm 1945, Văn học 11: cần nêu được tình hình lịch sử Việt Nam trong giai đoạn đó,
để lí giải vì sao, văn học ở thời kì này có sự phát triển mạnh mẽ về ý thức cái tôi cá
nhân nhiều như thế.
 Khi dạy bài tác giả Tố Hữu, Hồ Chí Minh, giáo viên không thể không tích
hợp liên môn lịch sử về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác, về phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc mà hai tác giả đó tham dự…
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 19
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay tình trạng dạy học Văn học sử vẫn nghiêng về chứng minh các luận
điểm bằng luận chứng, luận cứ, nhiều hơn việc chú ý phát triển năng lực khái quát,
tổng hợp, suy luận. Trong quá trình phát triển những năng lực trên cũng cần kích thích
năng lực liên tưởng khi gắn với tư liệu lịch sử. Cố gắng huy động tổng hợp các hoạt
động liên ngành, liên môn tạo cho giờ học Văn học sử một sự sinh động sâu sắc cần
thiết.
Trên thực tế không có một hoạt động dạy học nào chỉ sử dụng duy nhất một
phương pháp, mà luôn có sự kết hợp giữa các phương pháp lại với nhau trong một

Học sinh sẽ hào hứng tìm hiểu vấn đề, tranh luận nhau về nội dung của khổ thơ
và như vậy kiến thức về tác giả đó sẽ tự đi sâu vào trong tâm hồn của mỗi học sinh.
Tài năng sư phạm, cách dẫn dắt vấn đề của giáo viên sẽ là điều kiện tiên quyết
để biến những kiến thức trong bài văn học sử khô khan, khó nhớ trở nên dễ dàng hơn,
rung động hơn trong mỗi giờ học. Từ đó, học sinh dễ tiếp thu bài hơn.
HS sẽ khó có thể đạt hiệu quả cao trong học tập nếu không có thái độ và sự
nhận thức tích cực về việc học. Ðể học sinh không bị nhàm chán, ức chế tinh thần,
giáo viên phải chú ý tạo sự thoải mái trong lớp học bằng thái độ vui vẻ, hài hước, bằng
việc cho học sinh có sự tự do nhất định trong việc chọn cách trình bày bài tập, và có
quyền trao đổi với giáo viên những vấn đề còn khúc mắc Tuy nhiên, mọi hành vi của
học sinh trong lớp học không vượt quá những nguyên tắc, nội quy được chấp nhận
trong lớp học. Sự trật tự còn đồng nghĩa với môi trường học tập an toàn. Học sinh tin
rằng họ được giáo viên và bạn bè bảo vệ khi cần thiết. Đây cũng là một điều mà giáo
viên khi đứng lớp cần quan tâm.
Bảng thống kê sự tiến bộ của học sinh qua kết quả kiểm tra đánh giá
Năm học Lớp TB HKI TB HKII
2013 - 2014
10A1 49 % 62%
10A2 51% 70%
10A8 39% 57%
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 21
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Trên đây là một số kinh nghiệm tôi đã vận dụng có hiệu quả trong quá
trình giảng dạy văn học sử. Tin chắc là vẫn còn nhiều thiếu sót, cho nên tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp trong cơ quan và
trong ngành, các cấp lãnh đạo, để chất lượng giáo dục ngày được nâng cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
NGUYỄN THỊ HÀ

nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc
sống: Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành

- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
Xếp loại chung: Xuất sắc  Khá  Đạt  Không xếp loại 
Cá nhân viết sáng kiến kinh nghiệm cam kết và chịu trách nhiệm không sao chép tài liệu
của người khác hoặc sao chép lại nguyên văn nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của mình.
Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận đã kiểm tra và ghi nhận sáng kiến kinh nghiệm
này đã được tổ chức thực hiện tại đơn vị, được Hội đồng chuyên môn trường xem xét, đánh
giá; tác giả không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nguyên văn nội dung
sáng kiến kinh nghiệm cũ của chính tác giả.
Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của tác giả và
người có thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh
nghiệm.
Dạy văn học sử - khó nhưng dễ. Trang 23
NGƯỜI THỰC HIỆN
SKKN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
NGUYỄN THỊ HÀ
XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
LÊ CAO HẠNH
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status