Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục Lục
Lời mở đầu........................................................................................................................3
1. Nguồn cung của thị trờng vàng trang sức .................................................................4
1.1 Tình hình cung trong thị trờng vàng trang sức ............................................................4
1.1.1 Tình hình chung ngành kinh doanh vàng ở Việt Nam ............................................4
1.1.2 Tình hình cung tại thị trờng Hà Nội.........................................................................8
1.2 Các dịch vụ cung cấp tại thị trờng vàng....................................................................11
1.3 Sản phẩm, giá cả, chất lợng, quảng cáo truyền thông................................................12
1.3.1 Sản phẩm.................................................................................................................13
1.3.2 Giá cả......................................................................................................................14
1.3.3 Chất lợng................................................................................................................16
1.3.4 Quảng cáo, truyền thông.........................................................................................16
2. Nhu cầu tiêu dùng vàng trang sức ...........................................................................19
2.1 Thói quen tiêu dùng vàng trang sức của ngời Hà Nội ...............................................19
2.2 Cách tiêu dùng theo từng cách phân loại thị trờng....................................................21
2.2.1 Theo độ và nghề nghiệp..........................................................................................21
2.2.2 Theo thu nhập.........................................................................................................24
2.2.3 Các yếu tố khác......................................................................................................25
3. Xu hớng phát triển của thị trờng vàng trang sức ...................................................27
Kết luận..........................................................................................................................30
Tài liệu tham khảo.........................................................................................................31
Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển của đời sống vật chất, nhu cầu làm đẹp dần trở thành
một nhu cầu không thể thiếu của con ngời. Từ thời nguyên thuỷ, con ngời đã biết sử
dụng các loại đá xâu chuỗi lại với nhau và đeo lên ngời làm đồ trang sức. Càng ngày ng-
ời ta càng phát hiện ra nhiều loại nguyên liệu có thể dùng để tạo ra đồ trang sức cho
mình. Trang sức vàng đợc phát hiện và trở thành biểu tợng cho sự giầu có và "đẳng cấp"
của những ngời sử dụng nó. Trớc đây, chỉ có vua chúa, quan tớng, hoàng hậu, công n-
ơng..., những ngời thuộc tầng lớp quí tộc mới đeo trang sức bằng vàng.
Ngày nay, vàng trang sức đã trở nên phổ biến, bất kì ai có nhu cầu và đủ khả
15 năm qua, thị trờng vàng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của Bảo Tín Minh Châu,
SJC.., sự xuất hiện của Công ty vàng bạc đá quý Phú Quý, Bảo Tín Thanh Vân.., và sự ra
đi của một số thơng hiệu lớn nh Kim Quy...
Trong mấy năm gần đây, thị trờng vàng trang sức Việt Nam có nhiều tiến
bộ với việc giành đợc một số giải thởng của Hiệp Hội vàng Thế giới về thiết kế và chế
tác các mẫu sản phẩm trang sức (Bộ Lạc Việt của công ty SJC và bộ Chất sống của
PNJ). Tuy đây chỉ là những sáng tác ban đầu thể hiện khả năng sáng tạo của các nghệ
nhân Việt Nam trong thiết kế tạo mẫu trang sức dành cho nhóm khách hàng tiêu dùng
bậc cao trên thị trờng; nhng những kết quả đó là sự đánh giá, chứng nhận cho tiềm năng
phát triển của ngành vàng trang sức Việt Nam. Năm 2003, cả nớc có hơn 7000 doanh
nghiệp kinh doanh vàng lớn nhỏ - phần lớn tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong
đó có 10 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Năm 2004, Việt Nam là nớc tiêu dùng
vàng lớn thứ 4 châu á (sau Trung Quốc, Thái Lan và ấn Độ) - theo thống kê của Hiệp
hội vàng Thế giới. Cả nớc có 2-3 công ty có số công nhân 1.500.000 đến 2.000.000 ng-
ời, một số công ty khoảng vài trăm ngời, còn lại là các công ty nhỏ, có vốn từ 2-3 tỉ đến
30-40 tỉ đồng Việt Nam. Các doanh nghiệp kinh doanh nhỏ thờng là có vốn tự tích luỹ,
cộng với vay ngân hàng (hoặc bằng hình thức làm đại lý cho Ngân hàng) để đợc tạo điều
kiện về vốn. Tuy nhiên, "ngành vàng Việt Nam còn cha phát triển tơng xứng với tiềm
năng, cha phát huy đợc thế mạnh cần thiết để đáp ứng xu thế hội nhập". Nguyên nhân có
nhiều nh nguồn vốn qúa ít ỏi trong khi để phát triển đợc ngành này cần một nguồn vốn
lớn; thứ hai là do công nghệ còn lạc hậu, kĩ thuật thô sơ không đủ điều kiện nâng cao
chất lợng sản phẩm; thứ ba là do trình độ công nhân còn yếu, năng suất lao động kém;
ngoài ra còn có các nguyên nhân khác nh chính sách thuế có nhiều bất cập gây khó khăn
cho các doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình,... Đây
cũng chính là những nguyên nhân khiến sản phẩm vàng trang sức của Việt Nam bị cạnh
tranh ngay tại thị trờng nội địa. Khi Việt Nam hội nhập AFTA giá thuế nhập khẩu các
3
mặt hàng nói chung - có mặt hàng vàng trang sức - đều giảm, các sản phẩm của Việt
Nam sẽ không thể cạnh tranh nổi với sản phẩm của nớc ngoài do sản phẩm của Việt
Nam thua kém cả về chất lợng, mẫu mã, thậm chí giá cũng cao hơn do năng suất lao
nhiều kiểu dáng mẫu mã phù hợp với giới trẻ; các loại vàng miếng, vàng lá. Cùng với
việc sản xuất và chế tác các sản phẩm, các công ty này còn xây dựng hệ thống phân phối
4
tại các cửa hàng bán lẻ tại khắp các tỉnh thành trong cả nớc. Chỉ tính riêng công ty PNJ
đã có tới 5 cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội; tơng tự, công ty SJC cũng có một số chi nhánh tại
các thành phố lớn trên khắp cả nớc. Trong số này, Bảo Tín Minh Châu là công ty t nhân
đầu tiên thành công và trở thành cây đại thụ trong ngành; một công ty đợc coi là chịu
chơi, sẵn sàng đầu t công nghệ mới, tung ra thị trờng những sản phẩm mang đặc trng
của mình. Bảo Tín Minh Châu cũng là một công ty rất có uy tín, giá vàng niêm yết tại
công ty đợc dịch vụ trả lời giá cả thị trờng qua điện thoại sử dụng và trở thành giá chung
cho thị trờng Hà Nội. Các công ty khác đang tìm cách thu hút nguồn vốn đầu t để mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và vơn ra ngoài biên giới.
Về phía ngời tiêu dùng, đánh giá về thị trờng vàng trang sức Việt Nam, cụ thể
là về dịch vụ cung cấp vàng trang sức hiện nay, ở mức trung bình. Lí do là mẫu mã cha
phong phú, chất lợng không đảm bảo (cả về màu sắc lẫn tuổi vàng), đôi khi thái độ phục
vụ không tốt, các dịch vụ phụ trợ (khuyễn mãi, rửa hay si bóng đồ trang sức ) kém.
Ngời tiêu dùng ít dùng sản phẩm do Việt Nam sản xuất mà vẫn thích các sản phẩm nhập
từ nớc ngoài (vàng ý, vàng ý cao cấp ), tuy đắt nh ng mẫu mã đẹp; những ngời không
có đủ tiền mua vàng ý thì dùng vàng tây (70%, 75%) do các công ty ở TP HCM sản
xuất. Hiện nay thị trờng xuất hiện một số sản phẩm của Thái Lan, Trung quốc, Đài Loan
mẫu tơng đối đẹp mà giá rẻ khoảng 300.000đ-400.000đ một món, rất thu hút ngời tiêu
dùng.
Nhìn nhận một thực tế, ngành kinh doanh vàng trang sức của Việt Nam còn t-
ơng đối yếu. Các sản phẩm cha đáp ứng đợc hết nhu cầu của khách hàng. Khách hàng
thờng xuyên đi xem và muốn có thêm nhiều mẫu mã để lựa chọn, trong khi hầu hết mẫu
mã đợc chế tác và bày bán trên thị trờng Việt Nam là những mẫu đợc copy của nớc
ngoài, một số ít là do các công ty t nhân thiết kế, còn rất nghèo nàn, trùng lặp, thiếu
sáng tạo. Đấy là cha kể vấn đề chất lợng vàng (tuổi vàng) cha đạt tiêu chuẩn quốc tế
(theo thông tin từ báo "Sài Gòn tiếp thị", báo 24h.com, cùng một số báo tạp chí, trang
web khác). Thị trờng trong nớc còn cha đáp ứng đợc nên việc xuất khẩu mặt hàng này
có tiềm năng, đang phát triển và tiến bộ. Hi vọng ngày càng có nhiều sáng kiến cũng nh
những kết quả mới tốt đẹp của ngành vàng trang sức Việt Nam.
1.1.2 Tình hình cung trên thị trờng vàng trang sức Hà Nội
Trên địa bàn Hà Nội hiện nay, có khoảng trên 400 doanh nghiệp kinh doanh
vàng trang sức bán lẻ lớn nhỏ, cung cấp kịp thời các sản phẩm đến ngời tiêu dùng tại các
khu vực khác nhau. Mỗi doanh nghiệp có một mô hình và quan điểm kinh doanh riêng,
tạo nên sự phong phú đa dạng của ngành kinh doanh này. Các cửa hàng quy mô trung
bình tại Hà Nội có số vốn khoảng 2.53 tỉ đồng, có từ 2- 3 công nhân chế tác hoặc gia
công sản phẩm, hoạt động chính của họ là bán hàng và trao đổi ngoại tệ. Các công ty
này thuê một số lợng nhân viên không nhiều, tính cả nhân viên và giám đốc là khoảng 8-
10 ngời.
Trong đó, doanh thu trong một ngày đợc gọi là có hiệu quả ở khoảng trên dới
10 triệu đồng, cha kể những ngày ế ẩm do giá vàng cao hoặc thời tiết xấu không có
khách đến xem hàng. Sau khi tính giá gốc, lợi nhuận thu đợc mỗi ngày là khoảng
800.000đ-1.200.000đ. Con số này là cao nhất trong trờng hợp các sản phẩm bán đợc là
trang sức vàng nhập hoặc vàng tây, nếu là vàng mỹ nghệ 9999 thì con số này là khoảng
300.000đ-400.000đ. Nh vậy, lợi nhuận của ngành vàng không lớn: lãi suất kinh doanh
vàng nguyên chất khoảng 1%-2% (giá vàng mua vào bán ra chênh lệch từ 20.000đ-
30.000đ_tuỳ từng cửa hàng), vàng 70% - 75% (nói chung) có lãi suất cao hơn (con số cụ
thể không đợc cung cấp). Tại Hà Nội , một số doanh nghiệp lớn thờng đợc nhắc đến nh
Công ty vàng bạc Bảo Tín Minh Châu, các chi nhánh của Công ty PNJ, công ty kinh
doanh Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam , một số công ty mới có vốn lớn nh công ty Vàng bạc Đá quý
Phú Quý , trong đó Công ty Vàng bạc Bảo Tín Minh Châu là một công ty lớn có thị
phần chiếm trên dới 20% thị trờng Hà Nội , các công ty khác hầu nh là các cửa hàng có
đăng kí kinh doanh với t cách pháp nhân của một công ty, tuy nhiên hoạt động kinh
doanh còn nhỏ lẻ và cha có khả năng phát triển mạnh.
Có rất nhiều doanh nghiệp đã bớc vào kinh doanh vàng trang sức vì nhìn thấy
khả năng tiềm tàng với nhu cầu đang phát triển hiện nay. Mô hình kinh doanh của họ
hầu hết là cung cấp các sản phẩm trang sức đơn chiếc, chế tác một số sản phẩm do
vàng nhập một số mẫu của các hãng này nhằm làm phong phú thêm cho các mặt hàng
của mình, chờ đón cơ hội thị trờng và một bộ phận khách hàng chơi sang. Các sản
phẩm này sẽ hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới.
Hiện nay có rất nhiều trung tâm mua bán, siêu thị mọc lên và là cơ hội để trng
bày và bán sản phẩm. Vàng trang sức đợc bày bán nhiều nhất tại ba trung tâm là Tràng
Tìên Plaza (đờng Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm), Hà Nội Tower (đờng Hai Bà Trng,
Hoàn Kiếm) và Vincom (đờng Bà Triệu, quận Hai Bà Trng). Tại đây hầu hết là các sản
phẩm cao cấp, mẫu mã đẹp, giá bán cao. Những trung tâm nh thế này đã gây đợc sự chú
ý của ngời dân bởi quy mô và sự đảm bảo về chất lợng của các sản phẩm đợc bày bán.
Ngoài ra còn có một số trung tâm khác nh BigC (Khu đô thị Trung Hoà Nhân Chính),
Star Bowl (đờng Phạm Ngọc Thạch)... tuy lợng hàng còn ít nhng cũng đã tạo cơ hội cho
khách hàng đợc ngắm và chọn mua một số sản phẩm trang sức mà mình thích khi đi siêu
thị. Tuy nhiên, với nhiều ngời thì các trung tâm mua bán, các siêu thị vẫn là những nơi
có giá tơng đối cao và họ chỉ đến ngắm, đến xem cho biết. Do vậy, một số công ty cho
trng bày sản phẩm tại đây phần nhiều để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tên tuổi của
mình.
Ngoài các trung tâm, các hiệu vàng trang sức thờng tập trung tại những khu dân
c đông đúc, có nhu cầu mua sắm và làm đẹp, nh khu phố Cầu Gỗ, phố Hàng Bạc, Hàng
Bông; khu phố Trần Nhân Tông (nơi "đại bản doanh " của cửa hàng vàng trang sức Bảo
Tín Minh Châu), Khâm Thiên, đờng Giảng Võ... Tại những khu này, hoạt động mua bán
vàng trang sức, trao đổi, thanh toán diễn ra khá sôi nổi và thờng xuyên. Đặc biệt, có một
số cửa hàng luôn luôn đông khách, điển hình nh cửa hàng Bảo Tín Minh Châu tại số 29
Trần Nhân Tông. Tại cửa hàng này, lợng khách hàng có mặt trung bình 25-30ngời/1h.
Trên phố cổ, hoạt động mua bán còn sôi nổi hơn do đây là nơi có nghề truyền thống về
chạm khảm chế tác đồ trang sức bằng các loại chất liệu nên gây đợc sự chú ý của công
chúng từ khá lâu nay; việc hình thành các tuyến phố đi bộ cũng khiến hoạt động mua
bán ở đây trở nên sầm uất
8
hơn do ngời đi bộ có thể dễ dàng tạt vào một cửa hàng xem rồi hứng thú sẽ
mua, đồng thời thờng xuyên có lợng nhất định khách du lịch nớc ngoài mua bán trang
vàng trang sức mang những đặc thù riêng biệt, không có ở bất cứ thị trờng nào khác.
Nhìn nhận những đặc điểm, nhu cầu thị trờng, những cơ hội mới và khả năng có đợc của
mỗi doanh nghiệp, chọn cho mình một hớng đi thích hợp tạo tiền đề cho sự phát triển và
mở rộng: đó là việc mà mỗi doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức cần làm trong giai
đoạn hiện nay.
1.2 Các hình thức kinh doanh vàng trang sức
Dịch vụ chủ yếu của thị trờng vàng trang sức hiện nay bao gồm bán, mua, trao
đổi các loại vàng trang sức: vàng ý, ý cao cấp, vàng Nga, vàng mĩ nghệ (làm từ vàng
9999), vàng tây (vàng 70%, 75% thờng gọi là vàng Sài Gòn), vàng công nghệ Italy, vàng
trắng, vàng Hàn Quốc, vàng Thái... Mới đây trên thị trờng có một số sản phẩm đợc giới
thiệu là vàng Trung Quốc, vàng Đài Loan... Đây là những dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu
chính của công chúng về sản phẩm này.
Trớc đây, khi cha hình thành một thị trờng với đầy đủ các nhu cầu và nguồn
cung nh hiện nay, các hoạt động này chỉ phục vụ cho một phần nhỏ thị trờng, dới góc độ
của một nghề truyền thống: nghề chạm bạc. Ngày nay, với xu thế phát triển, mọi hoạt
động đều chịu sự điều chỉnh của thị trờng, phụ thuộc thị trờng, cần có sự phong phú đa
dạng về các loại hình dịch vụ đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ khác
nh chế tác các mẫu sản phẩm do khách hàng yêu cầu, t vấn tiêu dùng, hớng dẫn lựa chọn
và bảo quản trang sức, si bóng, khắc chữ, sửa chữa các sản phẩm...hình thành trong quá
trình phát triển. Tất cả các hoạt động này đều là các hoạt động phụ trợ nhằm thúc đẩy
hiệu quả kinh doanh, tạo thiện cảm và uy tín đối với khách hàng. Bên cạnh các yếu tố
về chất lợng sản phẩm, mẫu mã, giá cả thì những dịch vụ này hiện nay rất cần thiết. Một
nhu cầu không mới nhng phải đến bây giờ những nhu cầu nh thế này mới đợc một số
cửa hàng quan tâm và cũng chỉ có một số làm tốt. Các cửa hàng chỉ có thể cạnh tranh
nhau qua các dịch vụ này. Tuy vậy, nói chung các dịch vụ này ở Hà Nội cha thực sự tốt,
các doanh nghiệp cần đa thêm nhiều tiện ích mới, dịch vụ mới , mở rộng nhu cầu của
ngời tiêu dùng mới có thêm nhiều khả năng để tăng lợi nhuận. Theo điều tra, rất nhiều
khách hàng mong muốn có đợc sản phẩm độc đáo do mình tự thiết kế. Đây là một yêu
cầu tơng đối khó cho các cửa hàng nhỏ khi không có những thợ gia công đủ trình độ, vì
10
Missing System 9 12.9
Total 70 100.0
Bảng 1
1.3 các chính sách Marketing - mix của các doanh nghiệp kinh
doanh vàng trang sức
11
Một cách tổng quan, sản phẩm giá cả và chất lợng của vàng trang sức trên thị
trờng hiện nay ở mức trung bình. Dù không mong muốn nhng đây là một thực tế không
thể phủ nhận. Các doanh nghiệp vẫn đang cố gắng rất nhiều nhằm cải thiện tình hình.
1.3.1 Sản phẩm
Sản phẩm bao gồm dây đeo cổ, nhẫn, hoa tai, vòng, lắc, kiềng, mặt (dùng kèm
với dây); trong đó dây, nhẫn và hoa tai là nhiều nhất. Đây là những sản phẩm quen thuộc
với ngời tiêu dùng và đợc sử dụng nhiều nhất. Chất liệu bao gồm: các loại vàng 9999,
vàng 70%, 75%, vàng 58.5% (vàng Nga). Sau một thời gian lên cơn sốt về việc ngời dân
thi nhau mua vàng 9999 về đeo, xu hớng này ngày nay đã nhờng chỗ cho các sản phẩm
làm từ vàng 70%, 75% vừa rẻ vừa nhiều màu sắc để chọn lựa. Hiện nay trên thị trờng có
xuất hiện một số loại vàng đợc kí hiệu là vàng 68%, 67%, 66%... nhng cha rõ tiêu chuẩn
do cơ quan nào cung cấp. Vấn đề tuổi vàng đã và đang là vấn đề đau đầu của những nhà
quản lí ngành kinh doanh này. Chất lợng sản phẩm là điều khó đánh giá, vì ngời tiêu
dùng chỉ nhìn thấy vẻ ngoài sáng bóng, thấy đẹp là chọn mua, còn vấn đề tuổi vàng vốn
khó xác định, đôi khi chính họ cũng không để ý. Hơn nữa, trong quan điểm của một số
ngời, trang sức chỉ cần thoả mãn một yếu tố là làm đẹp; trong đa số khách hàng yêu cầu
vàng cần đủ chất lợng xứng đáng với số tiền họ bỏ ra. Trong những khách hàng đợc hỏi
có 18.5% số ngời tự cho là có thể phân biệt các loại vàng, 81.5% số còn lại không phân
biệt đợc hoặc còn nhầm lẫn. Đơn giản chỉ là phân biệt các loại nh vàng ta, vàng ý, vàng
Nga hay vàng Sài Gòn đôi khi còn nhầm lẫn, nên việc không thể xác định đợc tuổi vàng
là điều dễ hiểu. Khách hàng mua nhiều có thể nhận ra ở mỗi sản phẩm đều có dấu hiệu
đợc khắc trên mặt, tuy nhiên đây là một dấu hiệu không rõ ràng trong trờng có gian trá
của các hãng kinh doanh. Do tình trạng này, sản phẩm trang sức của Việt Nam bị đánh
giá là không có tiêu chuẩn, và thờng bị đánh bật khỏi thị trờng thế giới. Mới đây, một