Bồi dưỡng năng lực cảm thục văn học cho học sinh lớp 4-5 qua dạy học tập đọc - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ NA
BåI D¦ìNG N¡NG LùC C¶M THô V¡N HäC
CHO HäC SINH LíP 4 - 5 QUA D¹Y HäC TËP ®äC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ NA
BåI D¦ìNG N¡NG LùC C¶M THô V¡N HäC
CHO HäC SINH LíP 4 - 5 QUA D¹Y HäC TËP §äC
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:
TS. CHU THỊ HÀ THANH
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4-5
qua dạy học Tập đọc” nhằm đề cập đến một số vấn đề dạy và học cảm thụ
văn học. Đây là mảng kiến thức mà các giáo viên cũng như các em học sinh
còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình dạy và học môn Tiếng Việt. Với
mong muốn nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy
học phân môn Tập đọc nói riêng, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu nghiên cứu
và phân tích thực trạng dạy học bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, đặc biệt
là bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học qua phân môn Tập đọc. Đồng thời
trực tiếp trao đổi, tham khảo và tiếp thu những ý kiến của một số thầy cô giáo

1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢM THỤ VĂN HỌC 13
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.2. Các cấp độ của tác phẩm và cảm thụ tác phẩm 14
1.2.3. Mục tiêu của việc bồi dưỡng năng lực CTVC cho HS tiểu học 16
1.3. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4-5 18
1.3.1. Nội dung chương trình phân môn Tập đọc lớp 4 18
1.3.2. Nội dung chương trình phân môn Tập đọc lớp 5 20
1.4. ĐẶC TRƯNG CỦA CẢM THỤ VĂN HỌC Ở LỨA TUỔI HỌC
SINH LỚP 4 - 5 21
1.4.1. Đặc điểm nhận thức 21
1.4.2. Đặc điểm tình cảm của học sinh lớp 4 - 5 24
1.4.3. Cơ chế tâm lý của việc hình thành năng lực cảm thụ văn học 25
1.5. ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC 27
1.5.1. Tính nhân văn 27
1.5.2. Tính chủ quan của tác phẩm văn học 28
1.5.3. Tính biểu trưng, hình tượng, độc đáo của tác phẩm văn học 30
1.5.4. Tính nghệ thuật ngôn từ của tác phẩm văn học 31
1.6. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC VÀ NĂNG LỰC
CẢM THỤ VĂN HỌC 32
Kết luận chương 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN
HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4 – 5 QUA DẠY HỌC TẬP ĐỌC 37
2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG 37
5
2.1.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng 37
2.1.2. Điạ bàn khảo sát 37
2.1.3. Nội dung nghiên cứu thực trạng 37
2.1.4. Phương pháp nghiên cứu thực trạng 37
2.2. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC
TRẠNG 38

Kết luận chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1. Kết luận 105
2. Kiến nghị 106
6
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 110
DANH MỤC VIẾT TẮT
BT : Bài tập
BTTV : Bài tập Tiếng việt
CTVH : Cảm thụ văn học
GD - ĐT : Giáo dục - đào tạo
GD : Giáo dục
GV : Giáo viên
HĐ : Hoạt động
HS : Học sinh
HTL : Học thuộc lòng
ND : Nội dung
Nxb : Nhà xuất bản
PGS : Phó giáo sư
PP : Phương pháp
SGK : Sách giáo khoa
T : Tập
TB : Trung bình
TP : Thành phố
Tr : Trang
TS : Tiến sĩ
TT : Thứ tự
TV : Tiếng Việt
VD : Ví dụ

tiếp tục học lên bậc cao hơn. Do đó, phải có sự đổi mới nội dung dạy học một
cách toàn diện.
1.2. Cùng hoà chung vào sự đổi mới của tất cả các môn học thì việc đổi
mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở môn Tiếng Việt
cũng đang diễn ra một cách sôi động. Vấn đề phát triển và gìn giữ sự trong
sáng của Tiếng Việt luôn được các cấp, các ngành quản lý giáo dục hết sức
quan tâm, việc phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh tiểu học luôn đi
cùng với nội dung dạy học môn Tiếng Việt. Trong môn Tiếng Việt thì phân
môn Tập đọc có một vị trí rất quan trọng, đó chính là sự kết hợp, tổng hoà kiến
thức của các phân môn Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn
Văn học có khả năng tác động kỳ diệu đến đời sống tâm hồn của con
người. Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
(CTVH) cho học sinh nhằm chiếm lĩnh các giá trị nghệ thuật của tác phẩm là
hết sức cần thiết. Ở đó các em sẽ thấy được vẻ đẹp của ngôn từ, tác dụng sâu
sắc của nó đến đời sống nội tâm cũng như bồi dưỡng tâm hồn trong sáng cho
9
các em. Ở bậc tiểu học, hoạt động CTVH hình thành và thể hiện qua các kỹ
năng đọc, tìm hiểu từ ngữ, xác định hình ảnh chi tiết nghệ thuật Ngoài ra,
giáo viên còn phải hướng dẫn học sinh quan sát ở các góc độ, qua đó, lột tả và
phân tích, nắm được các đặc điểm nghệ thuật, biết sử dụng từ ngữ súc tích,
giàu hình ảnh để viết lên, nói lên những cảm xúc, rung động của mình, đó là
từng bước giúp các em phát triển năng lực CTVH. Dưới sự hướng dẫn của
giáo viên, các em được cảm thụ những tác phẩm văn học trong sách giáo
khoa, từ đó, sẽ mở mang tri thức, phong phú về tâm hồn. Có năng lực CTVH
tốt, học sinh sẽ hứng thú hơn khi viết văn, càng thêm yêu quý Tiếng Việt và
có ý thức gìn giữ sự trong sáng của Tiếng Việt.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, để bồi dưỡng năng lực CTVH cho
học sinh theo mức độ yêu cầu của chương trình Tiếng Việt hiện hành, đồng
thời, phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh khá giỏi về môn Tiếng Việt,
chúng tôi lựa chọn đề tài “Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học

trạng dạy bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh để phát hiện
những vấn đề cần nghiên cứu, tìm ra các giải pháp.
7.3. Phương pháp thống kê Toán học nhằm xử lí kết quả điều tra, kết
quả thực nghiệm.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng năng lực CTVH thông cho học sinh
lớp 4-5 qua dạy học Tập đọc
Chương 3: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh lớp 4-5 qua dạy học Tập đọc
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Nghiên cứu về cảm thụ văn học
Vấn đề bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS không phải là một đề tài
mới mẻ. Đã từ lâu và cũng rất đông đảo các nhà chuyên môn quan tâm nghiên
cứu tới vấn đề này. Trước những năm 90 của thế kỉ XX, nhóm tác giả Trịnh
Mạnh, Đặng Anh, Nguyễn Đức Bảo đã đặt vấn đề nghiên cứu dạy CTVH
cùng với việc dạy đọc hiểu và đọc diễn cảm. Tuy nhiên, trong những năm
đầu, lí luận về dạy đọc hiểu cũng như lí luận về dạy CTVH mới được đặt ra
như một vấn đề độc lập cần được nghiên cứu, tiêu biểu là các tác giả: Hoàng
Hoà Bình, Nguyễn Thị Hạnh, Phan Trọng Luận, Trần Mạnh Hưởng, Đinh
Trọng Lạc.
Những công trình nghiên cứu kể trên đã có đóng góp rất lớn vào vấn đề
bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS. Nhóm tác giả Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt
Nga, Phạm Đức Minh với “Cảm thụ văn tiểu học 4, Cảm thụ văn tiểu học 5”
đã dựa vào các văn bản bài đọc Tập đọc ở lớp 4,5 để gợi ý hướng dẫn theo

học sinh tiểu học theo hướng tích cực hoá hoạt động” in trên Tạp chí giáo
dục quý I/2002 đã đưa ra một số biện pháp tích cực để rèn luyện kỹ năng đọc
cho học sinh tiểu học.
- “Dạy học đọc hiểu ở lớp 4-5” [3, 99], đã đề cập đến vấn đề sử dụng
hệ thống câu hỏi và bài tập để rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cho học sinh tiểu
học, xem đó là phương tiện chủ chốt để thực hiện quan điểm dạy học mới -
quan điểm dạy học hướng vào người học.
- “Rèn kĩ năng cảm thụ văn học qua các bài tập đọc ở lớp 4-5” [16, 100]
13
Các tác giả đã hướng dẫn cách đọc, nêu các câu hỏi gợi ý để hướng dẫn
học sinh cảm thụ một số bài Tập đọc trong chương trình lớp 4-5.
- Ngoài ra, một số khoá luận của khoá trước cũng đề cập đến một số biện
pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ cho học sinh tiểu học.
Qua việc tìm hiểu các tài liệu trên đây, chúng tôi nhận thấy các tác giả
đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ cho học sinh dưới nhiều
khía cạnh khác nhau nhưng đều thống nhất ở việc khẳng định sự cần thiết của
việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trong dạy học. Như vậy, vấn đề rèn
luyện năng lực cảm thụ cho học sinh không phải là vấn đề mới nhưng nó có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp thiết, vì chưa có tài liệu nào đi sâu nghiên
cứu. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu có trước,
chúng tôi đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh lớp 4-5 thông qua dạy học Tập đọc.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢM THỤ VĂN HỌC
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
- Cảm thụ tức là “nhận biết được bằng cảm tính, giác quan” [19, 100].
- Hoặc cảm thụ là “nhận biết được cái tế nhị bằng cảm tính tinh vi”
[11, 99].
CTVH là sự hiểu và cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu
sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm thơ văn. Như vậy
CTVH cũng có nghĩa là khi đọc, nghe, hoặc thấy một câu chuyện, một bài thơ

cho tư tưởng sống động của tác giả gây được ấn tượng trong lòng người đọc.
Cảm thụ phương diện ngữ âm của tác phẩm cần chú ý đến chủ ý tả
cảnh tả tình của tác giả qua việc sắp xếp chuỗi liên tục những âm thanh khác
nhau thành vần, điệu, tiết tấu.
15
+ Cảm thụ phương diện từ vựng của tác phẩm cần chú ý đến nghĩa của
từ, cái hay cái đẹp của từ trong so sánh từ đồng nghĩa hay trái nghĩa. Cảm thụ
từ vựng của tác phẩm còn phải chú ý đến từ cổ, từ mới, từ thuần Việt, từ Hán
Việt, từ phổ thông, từ địa phương. Vì vậy muốn hiểu tác phẩm học sinh trước
hết phải vượt qua được những trở ngại về từ ngữ này. Nhưng khó hơn là các
em phải hiểu được dụng ý của tác giả khi dùng những lớp từ khác nhau. Bởi
vì những lớp từ lại gợi những cảm giác riêng. Ví dụ từ Hán Việt thường được
dùng khi cần diễn đạt một cách trang trọng, còn từ thuần Việt lại gợi cảm giác
thân mật gần gũi.
+ Cảm thụ phương diện ngữ pháp
Là chú ý đến những hiện tượng đặc biệt trong cấu trúc câu, như đảo
ngữ, điệp ngữ… Chú ý đến sự đan xen của các kiểu câu tả, kể, cảm thán…
các kiểu lời nói trực tiếp, gián tiếp… Thể hiện được tính đa thanh của
ngôn ngữ.
Cảm thụ cấu trúc ngữ pháp của tác phẩm còn phải chú ý đến ngữ nghĩa
của câu, hàm ý trong câu, tức là điều tác giả muốn thông báo nhưng lại thông
báo bằng những cách đặc biệt. Chú ý đến hàm ý ấy người đọc mới hiểu đúng
nội dung thông báo là gì.
Ngoài việc nắm chắc được các cấp độ cảm thụ tác phẩm đã nêu trên,
chúng ta còn phải nắm được các cấp độ cảm thụ cao hơn như: Cảm thụ hình
tượng, cảm thụ ý nghĩa của hình tượng (ý nghĩa của tác phẩm), cảm thụ tư
tưởng của tác phẩm. Bởi vì, chính cái làm nên sự nổi bật nội dung tác phẩm là
hình tượng trong tác phẩm và tư tưởng của tác phẩm đó. Tuy nhiên, do đặc
điểm nhận thức của học sinh tiểu học còn hạn chế cho nên chúng ta không đi
vào phân tích mổ xẻ một cách cụ thể chi tiết dẫn đến cứng nhắc, thiếu đi sự vô

dưỡng năng lực CTVH. Bằng những cách thức và PP nào đó, GV phải giúp
17
HS phát hiện được những câu, những từ ngữ, hình ảnh, nhân vật… Gây ấn
tượng và cảm xúc mạnh nhất.
1.2.3.3. Bồi dưỡng năng lực CTVH giúp HS hình thành một số kĩ năng
sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS, nhà trường tiểu học không yêu cầu
các em phải phân tích, đánh giá tác phẩm văn chương. Tuy nhiên để tạo tiền
đề cho các cấp học tiếp theo, những thao tác phân tích, đánh giá đó cần phải
được giới thiệu từng bước, giúp các em làm quen. Việc hình thành những kĩ
năng sơ giản đó được lồng ghép trong hệ thống câu hỏi và bài tập. Yêu cầu
HS tìm các khía cạnh của nội dung và hình thức, nêu ý nghĩa của từ ngữ, hình
ảnh giàu tính nghệ thuật, khái quát các ý nhỏ thành ý lớn hơn… Đó thực chất
là những bước đi ban đầu của thao tác phân tích, tổng hợp, đánh giá đối với
nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
1.2.3.4. Bồi dưỡng năng lực CTVH giúp HS hình thành và phát triển
tình cảm, tâm hồn và nhân cách
Việc hình thành và phát triển tình cảm, tâm hồn cho HS có ý nghĩa cực
kì quan trọng. Bồi dưỡng CTVH chính là nhiệm vụ gắn liền với bồi dưỡng
tâm hồn, nhân cách cho HS.
Thông qua việc giúp HS nhận thức về nội dung và nghệ thuật tác phẩm
văn học, môn Tiếng Việt sẽ dần dần xây dựng được những tâm hồn, nhân
cách theo mục tiêu giáo dục đề ra.
Như vậy, mục tiêu bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS tiểu học so với
mục tiêu bồi dưỡng năng lực CTVH của HS cấp trên có gì khác? Do đặc điểm
tâm lí lứa tuổi quy định, HS tiểu học so với đối tượng HS các cấp THCS và
THPT thì mục tiêu bồi dưỡng năng lực CTVH có những tính chất khác nhau.
Trong khi cùng định hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực CTVH
cho HS thì nội dung chương trình môn Tiếng Việt của bậc học tiểu học được
xây dựng trên những cơ sở ban đầu, có tính chất nền tảng cho các bậc học sau,

- Măng mọc thẳng.
- Trên đôi cánh ước mơ.
- Có chí thì nên.
- Tiếng sáo diều.
- Người ta là hoa đất.
- Vẻ đẹp muôn màu.
- Những người quả cảm.
- Khám phá thế giới.
- Tình yêu cuộc sống.
Tìm hiểu về câu hỏi và bài tập sử dụng sau mỗi bài Tập đọc trong SGK
TV4 và sách BT TV4, chúng tôi có nhận xét như sau:
Thứ nhất: Tính tích hợp giữa các phân môn trong môn TV là rất cao,
có mối liên quan mật thiết với nhau, cùng sử dụng chung một số văn bản để
hình thành kiến thức, kĩ năng cho HS. Vì vậy những câu hỏi, bài tập được sử
dụng sau mỗi bài Tập đọc nhằm giúp HS học tốt phân môn Tập đọc, rèn luyện
các kĩ năng thì cũng giúp HS học tốt các môn học khác và ngược lại.
Thứ hai: Nhiều câu hỏi, bài tập yêu cầu sự hồi đáp của HS. Điều đó
cho thấy các tác giả khi biên soạn đã quan tâm đến bước hồi đáp văn bản
trong dạy đọc hiểu của HS, giúp HS từng bước có nhu cầu CTVH và biết cách
CTVH.
Thứ ba: Trong vở BT TV4 không có các câu hỏi, bài tập dành cho
phân môn Tập nên việc giúp HS đọc - hiểu, đọc diễn cảm, cảm thụ thông qua
hệ thống bài tập gặp không ít những khó khăn.
Thứ tư: Trong cả 2 quyển SGK TV4 (T1 và T2) có tổng cộng 264 câu
hỏi, bài tập tìm hiểu bài sau các bài Tập đọc. Có thể chia các câu hỏi, bài tập
này thành các loại như sau:
20
1.3.2. Nội dung chương trình phân môn Tập đọc
lớp 5
Chương trình SGK TV lớp 5 được đưa vào giảng dạy chính thức từ

việc đó thì chưa đáp ứng được. Như chúng ta đã biết, việc thực hành các bài tập
có vị trí rất quan trọng trong việc hiểu văn bản của HS, đặc biệt là văn bản
nghệ thuật. Hơn nữa hầu như tất cả các bài Tập đọc của lớp 4, lớp 5 đều là văn
bản nghệ thuật (tổng số có 122 bài mà có tới 116 bài là văn bản nghệ thuật).
Thông thường GV Hướng dẫn HS đọc diễn cảm sau khi đọc hiểu.
Nhưng thực tế giảng dạy thì lại không có câu hỏi, bài tập hướng dẫn HS cách
đọc bài này như thế nào? Cần nhấn mạnh từ ngữ nào? Tốc độ đọc nhanh,
chậm ra sao? Thái độ khi đọc ra sao? Hay hệ thống câu hỏi, bài tập rèn kĩ
năng cảm thụ bài đọc thì chưa được quan tâm một cách đúng mực. Những nội
dung trên không được thể hiện trong SGK TV4 và TV5, trong vở bài tập TV
cũng không có. Vì vậy, chúng tôi thấy việc xây dựng một hệ thống bài tập
giúp HS đọc - hiểu, đọc diễn cảm và CTVH cho HS lớp 4, lớp 5 trong giờ Tập
đọc là hết sức cần thiết, nhằm giúp GV và HS có những hoạt động cụ thể, chi
tiết nâng cao chất lượng của giờ Tập đọc góp phần bồi dưỡng năng lực CTVH
cho HS.
1.4. ĐẶC TRƯNG CỦA CẢM THỤ VĂN HỌC Ở LỨA TUỔI HỌC
SINH LỚP 4 - 5
1.4.1. Đặc điểm nhận thức
1.4.1.1. Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chung chung, mang tính tổng
thể. Ở lứa tuổi này, khi tri giác, sự phân tích có tính chất định hướng, có tổ
chức và sâu sắc của trẻ em còn chưa rõ ràng. Khi tri giác một sự vật thì các
22
em phải làm cái gì đó cụ thể với sự vật như: Cầm, nắm, sờ, mó Những gì
phù hợp với nhu cầu, gần gũi, thân thuộc, được chỉ dẫn trực tiếp thì các em
mới tri giác tốt.
Để tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, phức tạp và sâu
sắc, cần phải có vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên. Giáo viên sẽ là
người tổ chức quá trình hoạt động giúp HS tri giác những đối tượng, những
thuộc tính, bản chất của sự vật hiện tượng một cách có hệ thống và kế hoạch.

tư duy ngôn ngữ.
Từ Việc phân tích, tìm hiểu những đặc điểm trên, trong quá trình dạy
học, giáo viên cần tổ chức dạy học theo hướng cho học sinh quan sát các sự
vật, hiện tượng, cụ thể cũng như cho học sinh làm các dạng bài tập mở giúp
học sinh phát triển tốt hơn trí tưởng tượng của mình.
1.4.1.5. Tư duy
Tư duy cũng là một qúa trình tâm lý. Khác với qúa trình nhận thức cảm
tính, nó phản ánh dấu hiệu, mối liên hệ bản chất của các sự vật hiện tượng
khách quan.
Sự phát triển tư duy của học sinh tiểu học diễn ra theo hai giai đoạn cơ
bản. Đó là giai đoạn tư duy trực quan cụ thể và giai đoạn tư duy trừu tượng
khái quát. Học sinh tiểu học khi tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát…
thường căn cứ vào đặc điểm bề ngoài, cụ thể, trực quan. Nhất là đối với học
sinh đầu bậc tiểu học lớp 1-3, tới lớp 4-5 các em đã có thể thoát khỏi ảnh
hưởng chủ quan của dấu hiệu trực tiếp, hoàn toàn dựa vào những tri thức và
những khái niệm đã được hình thành trong quá trình học tập. Sự kết hợp các
thao tác tư duy là cơ sở của việc hình thành khái niệm. Trẻ đã có thể thoát
24
khỏi ảnh hưởng chủ và hoàn toàn dựa và những tri thức, khái niệm đã được
hình thành trong quá trình học tập.
Từ đó, ta thấy rằng trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải sử
dụng phù hợp các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực trí tuệ
cũng như nhằm bồi dưỡng những phẩm chất của hoạt động trí tuệ cho học
sinh. Có như vậy, mới nâng cao chất lượng và hiệu qủa trong dạy học.
1.4.2. Đặc điểm tình cảm của học sinh lớp 4 - 5
Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng, gắn
liền nhận thức với hành động của học sinh. Xúc cảm, tình cảm của các em gắn
liền với đặc điểm trực quan hình ảnh cụ thể, sinh động. Ví dụ: Khi thấy GV
minh họa bài học bằng một bức tranh đẹp, các em reo lên “Ồ, đẹp quá!”. Do đó
bài học của HS tiểu học luôn cần có sự mới mẻ, sinh động, tránh sự khô khan,

giáo viên, các em được tự do trong cách nghĩ, cách viết, tự do bộc lộ suy nghĩ
của mình. L.X.Vưgotxki đã nói: “Trong công tác giáo dục, hiểu một cách
đúng đắn và khoa học hoàn toàn không có nghĩa là áp đặt một cách giả tạo
từ ngoài vào cho các em những lý tưởng, cảm xúc hoặc tinh thần hoàn toàn
xa lạ với các em. Công tác giáo dục đúng đắn chính là ở chỗ thức tỉnh trong
trẻ em những gì vốn có trong nó, giúp cho cái đó phát triển và hướng dẫn sự
phát triển đó theo một hướng nhất định”. Còn theo quan điểm các nhà tâm lý
học thì trẻ em không phải là một tờ giấy trắng mà người lớn muốn vẽ gì lên
đó cũng được. Chính giáo dục là môi trường, là điều kiện để các em bộc lộ
những gì còn tiềm ẩn trong đó và đó mới là một nền giáo dục nhân văn. Vì
vậy, mà cơ chế để hình thành được năng lực CTVH ở học sinh tiểu học nó

Trích đoạn Nguyờn nhõn khỏch quan Nhúm biện phỏp rốn luyện kỹ năng đọc hiểu Nhúm biện phỏp rốn luyện kỹ năng đọc diễn cảm Khỏi quỏt về thử nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status