ĐỀ tài bồi DƯỠNG NĂNG lực cảm THỤ văn học CHO học SINH GIỎI lớp 5 - Pdf 25


0
P
P
H
H
Ò
Ò
N
N
G
GG
G
I
I
Á
Á
O
OD
D


C
C



U
U
Y
Y
Ê
Ê
N
NT
T
R
R
Ư
Ư


N
N
G
GT
T
I
I


M
Ư
Ư


N
N
G
GT
T
H
H
A
A
N
NT
T


K
K
H
H


Năm thực hiện: 2012 - 2013 1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa ông cha ta đã khẳng định: "Ngôn ngữ là công cụ của tư duy".
Ngôn ngữ của con người phát triển chứng tỏ tư duy phát triển. Để giúp học sinh
có tư duy phát triển thì hiện nay trong nhà trường Tiểu học môn Tiếng Việt càng
được coi trọng cả về nội dung và phương pháp giảng dạy. Để học sinh có được
các kĩ năng trên thông qua các giờ Từ ngữ, Ngữ pháp, Tập làm văn thì chưa đủ
mà học sinh cần được bồi dưỡng về năng lực cảm thụ văn trong các giờ tập đọc

khi cảm thụ văn học.
* Đối với học sinh:

2
+ Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ.
+ Tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học.
+ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học.
IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
- Học sinh có hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ.
- Có những kiến thức cơ bản, những khái niệm đơn giản khi cảm thụ văn học.
- Có kỹ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học.
- Bổ trợ cho dạy tập làm văn có hiệu quả.

PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đưa ra định hướng về công tác
giáo dục là: "Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung
phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục thực
hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá "
- Thực hiện "Giáo dục cho mọi người" và "Cả nước trở thành một xã hội
học tập".
- Tại Hội nghị lần thứ VI của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
vẫn tiếp tục khẳng định: "Giáo dục là quốc sách hàng đầu".
- Căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành, của bậc
Tiểu học và của Phòng giáo dục và đào tạo Than Uyên.
- Dựa vào các tài liệu tham khảo về bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
cho học sinh như: Để học tốt Tiếng Việt, Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi
Tiếng Việt Tôi thấy cần Giúp học sinh hiểu “cảm thụ văn học là gì? ”: Cảm
thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế
nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (bài văn, bài thơ) hay một bộ

không cô đọng, chưa biết bám sát vào nội dung và các giá trị nghệ thuật chứa
trong mỗi văn bản nghệ thuật đó.
- Các em chưa thấy được mỗi bài văn, bài thơ là một văn bản nghệ thuật,
dù dài hay ngắn thì nó cũng chứa lượng thông tin nhất định về ngôn từ, hình
ảnh, sự kiện, tình cảm, cho nên những thông tin đó tác động vào tâm hồn ngây
thơ hiếu động của các em bị hạn chế.
- Bên cạnh đó còn có một số ít giáo viên giảng dạy chưa coi trọng việc
hướng dẫn học sinh cảm thụ nội dung và nghệ thuật qua các bài tập đọc. Cho
nên chưa phát triển được năng lực cảm thụ bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ
hay câu văn, câu thơ cho học sinh.
- Trong các tiết tập đọc có thể học sinh phát hiện được các biện pháp nghệ
thuật xong chưa hiểu được tác dụng của tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật đó
có tác dụng gì?
- Giáo viên dạy chưa tạo điều kiện để học sinh cảm thụ văn học tốt thông
qua các giờ dạy tập đọc.
- Dẫn đến các tiết viết bài tập làm văn của học sinh chưa vận dụng được
khả năng cảm thụ văn học làm cho các bài văn miêu tả chưa hay, chưa sinh
động, khả năng bộc lộ cảm xúc của học sinh còn hạn chế. Chính vì vậy tôi thấy
trong các nhà trường Tiểu học việc "Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh giỏi lớp 5" là vấn đề cấp bách.
- Trước những thực trạng về việc dạy và học cảm thụ văn học cho học
sinh như vậy tôi thấy mình cần phải đầu tư thời gian nghiên cứu về nội dung và
phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt, đặc biệt là phương pháp bồi dưỡng cảm
thụ văn học cho học sinh, đồng thời tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao khả năng

4
cảm thụ văn học các em bị hạn chế như vậy, để từ đó đề ra được một số biện
pháp khắc phục, vận dụng vào thực tế quá trình giảng dạy nhằm nâng cao chất
lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt nói riêng và kĩ năng viết văn
miêu tả nói chung. Từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm khi vận dụng dạy bồi


T. số

Tỉ lệ

12

3

25%

4

33,3%

5

41,7%
41,7% học sinh không hiểu thế nào là hình ảnh đẹp, các em chỉ lung tung
như là: cơn bão qua, bầu trời xanh.
25% học sinh đưa ra được hình ảnh " Nắng mới" trong câu " Mẹ về như
nắng mới, Sáng ấm cả gian nhà" nhưng không hiểu được cái hay.
Nhìn vào số liệu khảo sát về khả năng cảm thụ văn học của học sinh tôi
thực sự lo lắng.Vì tôi thấy các em còn rất bỡ ngỡ kiểu bài này, chưa hiểu một số
khái niệm về: Các biện pháp nghệ thuật, hình ảnh đẹp, từ đắt, Do đó các em
không hứng thú, suy nghĩ còn nông cạn dẫn đến bài viết còn tản mản sai lệch
hẳn ý nghĩa của bài. Các em chỉ quen với việc trả lời câu hỏi có tính gợi mở mà
chưa quen với những câu hỏi có tính khái quát.
* Nguyên nhân:


của nó được tác giả sử dụng trong các tác phẩm văn học.
- Các biện pháp nghệ thuật thường gặp trong các bài văn, bài thơ ở bậc
Tiểu học là: ( So sánh, nhân hóa, điệp từ và đảo ngữ.)
- Để cảm thụ các tác phẩm văn học thông qua việc khai thác các biện pháp
nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ. Học sinh cần thực hiện tốt các yêu câu sau đây.
- Hiểu được thế nào là biện pháp nghệ thuật: So sánh, nhân hóa, điệp từ và
đảo ngữ , (thông qua phân môn Luyện từ và câu.)
- Xác định đúng những biện pháp nghệ thuật trong bài văn, bài thơ. (thông
qua môn tập đọc).
- Xác định đúng những từ, cụm từ, hình ảnh thể hiện biện pháp nghệ thuật.

6
- Cảm nhận được giá trị nghệ thuật làm tăng giá trị nội dung, ý nghĩa của
bài văn, bài thơ.
- Một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu thường gặp trong các bài tập đọc
ở chương trình bậc Tiểu học.
1.1 Biện pháp nghệ thuật so sánh:
- Trước hết tôi cho các em hiểu thế nào là nghệ thuật so sánh rồi hướng
cho các em tìm nêu những câu văn hoặc thơ có sử dụng nghệ thuật so sánh.
- So sánh là đối chiếu hai đối tượng khác nhau nhưng có chung đặc điểm
nào đó để làm nổi bật đối tượng đem so sánh.

Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành
Đối tượng đem so sánh Từ quan hệ Đối tượng chuẩn để so sánh

Ví dụ : “ Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày…”

- Ở câu 2 tác giả so sánh bà với gì?

- So sánh ấy đúng ở chỗ nào?
- So sánh như vậy hay ở chỗ n
ào?
- Học sinh đọc kĩ đề bài.
- Chỉ ra cái đúng, cái hay của việc so sánh.
- Trẻ em- búp trên cành.
- Trẻ em và búp non đều đang lớn, đang
phát triển.
- Hình ảnh đưa ra làm chuẩn để so sánh
(búp trên cành) rất đẹp và ý nghĩa, giúp ta
liên tưởng đến trẻ em chan chứa hy vọng.
- Bà - quả ngọt chín
- Bà và quả ngọt đều có lâu rồi, già r
ồi.
- Hình ảnh đưa ra làm chuẩn để so Sánh (quả
ngọt chín rồi) giúp ta liên tưởng đến hình ảnh
bà r
ất đáng quý có ích cho cuộc sống.
b. Học sinh làm bài:
Trong cách so sánh trên rất đúng. Vì ở câu a "Trẻ em" và "búp trên cành"
đều còn bé mới có. Vì "bà" và " quả ngọt chín" đều đã có từ lâu. Hay vì "búp
trên cành" rất đẹp và đang phát triển, rất đẹp, thơ ngây. Đúng vì ở câu b "bà" và
"quả ngọt chín rồi" đều đã có lâu. Hay vì quả ngọt rất quý cho đời, giúp ta liên
tưởng bà rất kính trọng.
c. Giáo viên sửa chữa, uốn nắn cho học sinh:

được gợi tả trong đoạn thơ trên.
+ Học sinh xác định được :
Nghệ thuật được sử dụng : Nghệ thuật nhân hóa
Hình ảnh nhân hóa : ôm lấy núi.
+ Cảm nhận được :
Rừng mơ bao quanh núi được nhân hóa (ôm lấy núi) cho thấy sự gắn bó
gần gũi, thân mật và thắm đượm tình cảm của cảnh thiên nhiên. Hoa mơ nở
trắng như mây trên trời đọng (kết) lại. Gió chiều đông nhè nhẹ (gờn gợn) đưa
hương hoa mơ lan tỏa đi khắp nơi.
Có thể nói, đoạn thơ trên đã vẽ ra bức tranh mang vẽ đẹp của đất trời hòa
quyện trong rừng mơ Hương Sơn.
- Sau đó tôi cho các em vận dụng làm bài tập:
Bài tập:
Bài 1: Cho đoạn thơ sau:
Cô dạy em tập viết
Gió đưa thoảng hương nhài
Nắng ghé vào cửa lớp
Xem chúng em học bài.
(Nguyễn Xuân Sanh)
Biện pháp nhân hoá được tác giả biểu hiện qua từ nào? Nêu rõ cái hay
của biện pháp đó?
a. Hướng dẫn học sinh làm bài:
- Giáo viên đọc và chép đề lên b
ảng
- Đề yêu cầu làm gì?

- Học sinh đọc kĩ đề bài
- Chỉ rõ từ dùng để nhân hoá và nêu rõ

cái hay của nó.

Những cậu Tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn Cò trắng
Khiêng nắng qua sông
Cô Gió chăn Mây trên đồng
Bác Mặt Trời đạp xe qua đỉnh núi
( Trần Đăng Khoa)
a. Hướng dẫn học sinh làm bài:
- Giáo viên đọc và chép đề lên b
ảng

- Bài yêu cầu ta l
àm gì?

- Đoạn thơ có những sự vật nào được
nhân hoá?
- Nhân hoá bằng cách n
ào?

- Học sinh đọc lại đề bài
- Chỉ ra được sự vật được nhân
hoá,cách nhân hoá, tác d
ụng
- Lúa, Tre, Cò, Gió, Mặt Trời.

- Dùng các danh từ chung chỉ người để
gọi tên sự vật, dùng các động từ chỉ hoạt

10

- Nhân hoá có tác dụng g


và cho biết tác dụng của nó.
Mồ hôi mà đổ xuống đồng
Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương
Mồ hôi mà đổ xuống vườn
Dâu xanh lá tốt vấn vương tơ tằm
Mồ hôi mà đổ xuống đầm
Cá lội phía dưới, rau nằm phía trên.
(Thanh Tịnh)

11
a. Hướng dẫn học sinh làm bài:
- Giáo viên đọc và chép đề bài lên
- Bài này yêu cầu gì?
- Từ "mồ hôi" được dùng theo nghĩa
nào chỉ về cái gì?
- Trong bài trên từ nào được nhắc lại?
- Lặp lại như thế có tác dụng g
ì?
- Học sinh đọc lại đề bài
- Chỉ rõ từ nào được lặp lại và nêu tác dụng.
- Dùng theo nghĩa bóng chỉ công sức
lao động.
- Cụm từ "mồ hôi mà đổ xuống"
- Nhấn mạnh giá trị to lớn của những
giọt mồ hôi - công s
ức lao động
b. Học sinh làm bài:
Đoạn thơ có cụm từ "mồ hôi mà đổ xuống" được lặp lại 3 lần giúp ta cảm
nhận được giá trị của công sức lao động, có lao động thì có kết quả.

- Giáo viên chép đề bài lên b
ảng.
-Bài hỏi gì?

- Đảo ngữ là như thế nào?
- Trong những câu trên, câu nào có
trật tự như vậy? (lên bảng xác định) - HS nhận xét: Người ta diễn đạt như
vậy có tác dụng gì?

- Trong khung cảnh như vậy giúp người ra
trận có cảm giác như thế nào?

- Học sinh đọc lại.
- Chỉ ra các đảo ngữ và nêu tác dụng
của nó.
-Vị ngữ đứng trước, chủ ngữ đứng sau
Ngân nga // tiếng suối
VN CN

Vi vu // gió ngàn
VN CN
Nở vàng // hoa mai
VN CN
- Nhấn mạnh âm thanh (ngân nga, vi


2.2. Tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học:
Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức có ảnh hưởng bởi vốn sống của
mỗi người. Cảm thụ văn học diễn ra ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau
do nhiều yếu tố như: Vốn sống, vốn hiểu biết, năng lực và trình độ kiến thức yếu
tố di truyền. Tình cảm và thái độ khi tiếp xúc với văn học được thể hiện qua hoạt
động và quan sát cuộc sống hàng ngày.
Trong các giờ học Tiếng Việt giáo viên luôn luôn chú ý đến liên hệ thực
tế cuộc sống với văn học để các em hình thành được kĩ năng vận dụng thực tế
cuộc sống với văn học, đồng thời qua đó giúp các em tích luỹ được vốn hiểu biết
về thực tế cuộc sống với văn học.
Ngoài ra còn giúp học sinh quan sát thường xuyên bằng nhiều các giác
quan. Quan sát kĩ chẳng những giúp các em viết được bài văn hay mà còn tạo
điều kiện cho các em cảm nhận được vẻ đẹp của thơ văn một cách tinh tế và sâu sắc.
Bên cạnh vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, các em còn cần tích luỹ cả
vốn hiểu biết về văn học thông qua việc đọc sách thường xuyên. Giúp cho các
em mở rộng tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ và cảm xúc, góp phần
khơi dậy năng lực cảm thụ văn học.
2.3. Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, những khái niệm
đơn giản khi cảm thụ văn học:
Ví dụ:
- Nắm vững kiến thức về ngữ âm và chữ viết tiếng Việt thì mới dễ dàng
cảm nhận vẻ đẹp của câu thơ.
- Ngoài ra cần nắm vững kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp để cảm nhận được
nét đẹp về nội dung của thơ, văn.
- Qua các giờ tập đọc, kể chuyện, tập làm văn các em còn được làm quen
và cảm nhận bước đầu về một số kiến thức liên quan đến cảm thụ văn học như:
hình ảnh (là toàn bộ đường nét, màu sắc, đặc điểm của người, vật, cảnh bên
ngoài được ghi trong tác phẩm nhờ đó ta có thể tưởng tượng ra); chi tiết (là điểm
nhỏ, ý nhỏ trong nội dung); bố cục (là sự xếp đặt, trình bày các phần để tạo nên

trong đề bài.
- Đọc : Đọc diễn cảm, đúng ngữ điệu (có thể đọc thành tiếng hoặc đọc
thầm). Việc đọc đúng, đọc diễn cảm sẽ giúp mạch thơ, mạch văn thấm vào tâm
hồn các em một cách tự nhiên, gây cho các em những cảm xúc, ấn tượng trước
những tín hiệu nghệ thuật xuất hiện trong đoạn văn, đoạn thơ.
- Tìm hiểu: Dựa vào yêu cầu cụ thể của bài tập như cách dùng từ, đặt câu,
cách dùng hình ảnh, chi tiết, cách sử dụng biện pháp nghệ thuật quen thuộc như
so sánh, nhân hoá, cùng với những cảm nhận ban đầu qua cách đọc sẽ giúp các
em cảm nhận được nội dung, ý nghĩa đẹp đẽ, sâu sắc toát ra từ câu thơ (câu văn).

*Bước 3: Viết đoạn văn về cảm thụ văn học (khoảng 5-7 dòng) hướng
vào yêu cầu của đề bài. Đoạn văn có thể bắt đầu bằng một câu “mở đoạn” để
dẫn dắt người đọc hoặc trả lời thẳng vào câu hỏi chính; tiếp đó, cần nêu rõ các ý
theo yêu cầu của đề bài: cuối cùng, có thể “kết đoạn” bằng một câu ngắn gọn để
“gói” lại nội dung cảm thụ.
Đoạn văn có nội dung về cảm thụ văn học ở Tiểu học cần được diễn đạt
một cách hồn nhiên, trong sáng và bộc lộ cảm xúc; cần tránh mắc các lỗi về
chính tả, dùng từ, đặt câu; tránh diễn giải dài dòng hoặc sa vào phân tích quá kĩ.
Để làm được một bài tập về cảm thụ văn đạt kết quả tốt, các em cần thực hiện
đầy đủ các bước sau:

15
Ta có thể trình bày đoạn cảm thụ văn theo 2 cách sau:
- Cách 1: Ta mở đầu bằng một câu khái quát (như nêu ý chính của một
đoạn thơ hoặc đoạn văn trong bài tập đọc). Những câu tiếp theo là những câu
diễn giải nhằm làm sáng tỏ ý mà câu khái quát (câu mở đoạn) đã nêu ra. Trong
quá trình diễn giải, ta kết hợp nêu các tín hiệu, các biện pháp nghệ thuật được
tác giả sử dụng để tạo nên cái hay, cái đẹp của đoạn thơ (đoạn văn).
- Cách 2: Ta mở đầu bằng cách trả lời thẳng vào câu hỏi chính (Nêu các
tín hiệu, các biện pháp nghệ thuật góp phần nhiều nhất tạo nên cái hay, cái đẹp


16

Trong quá trình thực hiện và khảo sát kết quả đạt như sau: Điểm Giỏi

Điểm Khá

Điểm T.bình

Điểm yếu

T.
số
HS



4 33,4%

2 16,6% 2 16,6%
12 Lần III 5 41,6%

4 33,4%

3 25% 0 0%
12 Lần IV 7 58,3%

5 41,7%

0 0% 0 0%

Bằng những biện pháp nói trên tôi đã vận dụng các biện pháp đó vào việc
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt trong hai năm học và đạt được kết quả
như sau:

Thi cấp trường Thi cấp huyện
Năm học
Số HS
dự thi
Số HS
đạt giải
Tỷ lệ đạt
giải
Số HS
dự thi
Số HS

học ngoại khoá để trao đổi thêm các bài tập dạng này.
- Kiểm tra thường xuyên đánh giá kết quả học tập về phần cảm thụ văn
học ở học sinh để có biện pháp khắc phục và uốn nắn cho các em.
- Giáo viên đọc đúng và diễn cảm, nhiệt tình trong giảng dạy, chịu khó
nghiên cứu tài liệu và phải có khả năng cảm thụ tốt.
- Trong các giờ tập đọc thường xuyên bồi dưỡng cho các em năng lực
cảm thụ văn học.
- Phát hiện và khai thác tốt các ngữ liệu thể hiện biện pháp nghệ thuật để
cảm nhận được giá trị nội dung, ý nghĩa và nghệ thuật của tác phẩm.
- Cần khai thác tốt nội dung tác phẩm, giúp học sinh cảm nhận được
những điểm sâu sắc của văn học .
II
. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
- Trong các giờ tập đọc, tập làm văn học sinh hứng thú học tập, say mê
trong môn học.
- Học sinh kiên trì trong học tập.
- Trong các bài tập làm văn, kĩ năng dùng từ của học sinh được chú ý, các
câu văn khi viết học sinh đã vận dụng các biện pháp nhân hoá, so sánh, các từ
ngữ gợi tả có hình ảnh. Câu văn thể hiện cảm xúc.
- Trong các bài tập đọc không những cảm thụ được nội dung của bài mà
học sinh còn có kĩ năng phân tích thấy được cái hay qua cách sử dụng nghệ
thuật. Từ đó cảm nhận được tình cảm của tác giả.
- Trau dồi được vốn hiểu biết về cuộc sống và văn học bằng những hiểu
biết của bản thân, bằng những kĩ năng quan sát, bằng việc đọc trong các giờ tập đọc
III.
Khả năng ứng dụng, triển khai
Đề tài được ứng dụng thực tế vào giảng dạy bồi dưỡng 12 học sinh giỏi
môn Tiếng Việt của lớp 5 trường Tiểu học số 1 xã Mường Than và được triển
khai trong trường Tiểu học Số 1 xã Mường Than.



19

TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 - NXBGD, Trần Mạnh Hưởng (chủ biên)

- Tiếng Việt nâng cao lớp 5 - NXBGD, Lê Phương Nga (chủ biên)
- Luyện tập cảm thụ văn Tiểu học - NXBGD, Trần Mạnh Hưởng (chủ biên)


9 III. Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề 5
10 IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
11 PHẦN KẾT LUẬN 17
12 I. Những bài học kinh nghiệm 17
13 II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 17
14 III. Khả năng ứng dụng và triển khai 17
15 IV. Những kiến nghị, đề xuất 18
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status