Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai tại huyện tương dương, tỉnh nghệ an - Pdf 29


i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT
TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG
NGÔ LAI TẠI HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG,
TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

NGHỆ AN, 2014

tại khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại học Vinh.
Tôi xin bày tỏ sự chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS- Trần
Anh Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Nông - Lâm -
Ngư, trường Đại học Vinh đã trực tiếp giảng dạy, trang bị những kiến thức bổ
ích, những góp ý chân thành giúp tôi trong suốt quá trình học.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn bè đã
tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, ngày tháng năm 2014
Học viên Trần Thị Phương iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
3.2. Phạm vi và nội dung nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa của đề tài 3
4.1. Ý nghĩa khoa học 3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.3. Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu 34
2.3.2. Thời gian tiến hành thí nghiệm 34
2.3.3. Bố trí thí nghiệm 34
2.3.4. Quy trình thí nghiệm 35
2.3. Phương pháp xử lý số liệu 38
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm 39
3.1.1. Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ 40
3.1.2. Giai đoạn từ gieo đến tung phấn, phun râu 41
3.1.3. Khoảng cách tung phấn- phun râu 42
3.1.3. Giai đoạn từ gieo đến chín sinh lý 42
3.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây 43
3.2.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây trên đất màu bãi 43
3.2.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây trên đất màu đồi 45
3.3. Động thái ra lá của các giống ngô tham gia thí nghiệm 47
3.3.1. Động thái ra lá của các giống ngô tham gia thí nghiệm trến đất màu 48
3.2.2. Động thái ra lá của các giống tham gia thí nghiệm ở đất gò đồi 49
3.4. Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá ( LAI) 51
3.5. Các đặc trưng hình thái của các giống ngô tham gia thí nghiệm 53
3.5.1 Chiều cao cây cuối cùng 53
3.5.2. Chiều cao đóng bắp 54
3.6. Màu sắc và hình thái một số tính trạng của các giống ngô thí nghiệm 56
3.6.1. Màu sắc hạt 56
3.6.2. Dạng hạt 56
3.6.3. Màu lõi 56
3.7. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô tham gia thí
nghiệm 57
3.7.1. Trạng thái cây 57
3.7.2. Độ bao bắp 58


vi DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Diễn giải
1.
CIMMYT
Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế
2.
CT
Công thức
3.
CSDTL
Chỉ số diện tích lá
4.
CV%
Coefficient of variation - Hệ số biến động
5.
ĐK
Đường kính
6.
FAO
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liện Hiệp Quốc
7.
H/B
Hạt/bắp
8.

TL CB/CC
Tỷ lệ cao bắp/cao cây vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần hóa học của hạt ngô và gạo 4
Bảng 1.2. Giá trị dinh dưỡng của ngô rau và một số loài rau khác 5
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 13
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2013 14
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô một số nước năm 2013 15
Bảng 1.6. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 16
Bảng 1.7. Tình hình sản xuất ngô Việt Nam giai đoạn 1961-2013 17
Bảng 1.8. Sản xuất ngô ở Nghệ An trong những năm gần đây 19
Bảng 1.9. Tình hình sản xuất ngô ở Tương Dương 2005-2013 21
Bảng 2.1. Danh mục các giống tham gia thí nghiệm 33
Bảng 3.1. Thời gian sinh trưởng của các giống ngô thí nghiệm 39
Bảng 3.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống thí nghiệm
trên đất màu bãi 43
Bảng 3.3. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống thí nghiệm
trên đất màu đồi 45
Bảng 3.4. Động thái ra lá của các giống ngô trên đất màu bãi 48
Bảng 3.5. Động thái ra lá của các giống ngô thí nghiêm trên đất gò đồi 49
Bảng 3.6. Số lá và chỉ số diện tích lá của các giống tham gia thí nghiệm 52
Bảng 3.7. Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, tỷ lệ chiều cao cây/chiều
cao đóng bắp 53
Bảng 3.8. Màu sắc và hình thái một số tính trạng của các giống ngô 56
Bảng 3.9. Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp của các giống ngô
57

Cây ngô (Zea may L.) là một trong những cây ngũ cốc, có năng suất cao,
giá trị kinh tế lớn, góp phần giải quyết vấn đề lương thực cho 1/3 dân số trên
toàn thế giới. Các nước như Mexico, Ấn Độ và một số nước Châu Phi khác, ngô
làm lương thực chính, giúp giải quyết nạn đói thường xuyên đe dọa.
Bên cạnh đó, ngô còn là nguồn thức ăn gia súc, gia cầm vì thành phần
chính cây ngô là tinh bột và đường chiếm tới 80% trong chất khô nên gia súc
gia cầm tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡng trong hạt ngô. Những năm gần đây
ngô còn là cây thực phẩm được ưa chuộng như ngô bao tử làm từ ngô có giá trị
dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao; ngô nếp, ngô đường được dùng làm quà, ăn
tươi hoặc đóng hộp làm thực phẩm cao cấp. Ngoài ra, ngô còn là nguyên liệu
cho các ngành sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu, bánh kẹo. Đặc biệt hiện nay ngô
còn là nguyên liệu của hoạt động sản xuất nhiên liệu sinh học- Ethanol.
Diện tích, năng suất và sản lượng ngô không ngừng tăng lên trong những
năm gần đây. Năm 1980 diện tích trồng ngô khoảng 121,6 triệu ha với tổng sản
lượng đạt 376,9 triệu tấn, năm 2000 diện tích trồng ngô là 137 triệu ha, sản
lượng 591 triệu tấn, đến năm 2010 diện tích ngô đạt 161,8 triệu ha sản lượng đạt
844,4 triệu tấn [27].
Nhờ ứng dụng thành công ưu thế lai các nhà nghiên cứu đã tạo nên các
giống ngô lai vào thế kỷ X. Đây là một thành tựu cực kỳ quan trọng trong nông
nghiệp, nhờ ứng dụng thành công ưu thế lai mà các giống ngô lai lần lượt ra đời.
Sự ra đời của ngô lai đã tạo nên bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng, góp
phần cung cấp lương thực cho nhân loại toàn cầu.
Ở Việt Nam, cây ngô là cây lương thực quan trọng sau cây lúa. Cây ngô
là cây trồng nhập nội khoảng trên 300 năm nhưng diện tích trồng ngô nước ta
tăng lên nhanh chóng. Năm 1996 diện tích trồng ngô của nước ta là 615 nghìn
ha, năng suất 2,5 tấn/ha, sản lượng 1,5 triệu tấn. Đến năm 2012 diện tích trồng
ngô là 118,2 nghìn ha, năng suất 43 tạ/ha, sản lượng 4803,2 nghìn tấn trong đó

4. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp các dẫn liệu khoa học về khả năng sinh trưởng, phát triển của
các giống ngô lai được trồng trên một số chân đất tại huyện Tương Dương, tỉnh
Nghệ An.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài tuyển chọn một số giống ngô lai thích hợp với điều kiện tự nhiên
của Tương Dương góp phần làm phong phú nguồn giống ngô phục vụ cho nhu
cầu sản xuất của địa phương.

4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vai trò của cây ngô trong nền kinh tế
1.1.1. Ngô làm lương thực cho con người
Ngô là cây ngũ cốc nuôi 1/3 dân số toàn cầu. Tất cả các nước trồng ngô
đều ăn ngô ở mức độ khác nhau. Toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm
lương thực cho con người. Ở các nước Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi sử dụng
ngô làm lương thực chính. Ở các nước Đông Nam Phi sử dụng 72% sản lượng
ngô làm lương thực, Tây Trung Phi 66%, Bắc Phi 45%, Tây Á 23%, Nam Á
75%, Đông Nam Á và Thái Bình Dương 43%, Đông Á 12%, Trung Mỹ và
Caribe 56%, Nam Mỹ 9%, Đông Âu và Liên Xô cũ 7 %, Tây Âu, Bắc Mỹ và
các nước phát triển khác 4% ( Ngô Hữu Tình, 2003) [22].
Ngô là cây lương thực quan trọng, có thành phần dinh dưỡng cao. Ở Việt
Nam, cây ngô làm lương thực chiếm 15-20% sản lượng.
Bảng 1.1. Thành phần hóa học của hạt ngô và gạo
(Phân tích trên 100g)

vitamin C là cao nhất. Về nhiệt lượng của ngô cao hơn gạo trắng là 10%. Qua
đó cho thấy ngô là cây lương thực có giá trị dinh dưỡng cao.

5
1.1.2. Ngô làm thức ăn chăn nuôi
Ngô là thức ăn gia súc quan trọng nhất hiện nay. Hầu như 70% chất dinh
dưỡng trong thức ăn tổng hợp của gia súc là từ ngô. Ngoài việc cung cấp chất
tinh, ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc. Ở các nước
phát triển có tỷ lệ dùng ngô làm thức ăn chăn nuôi cao như Mỹ 76%, Bồ Đào
Nha 91%, Italia 93%, Croatia 95%, Latvia: 97%, Trung Quốc 76%, Malaixia
91%, là từ ngô Thái Lan 96%,…[22].
Ở Việt Nam nhu cầu thức ăn chăn nuôi rất lớn, và cũng dùng ngô làm
thức ăn chăn nuôi chính (90%) song tỷ lệ ngô trong tổng số chất tinh chỉ khoảng
50%, ngoài ra ta còn dùng thêm gạo gãy, bột sắn,… Nhu cầu ngô sẽ ngày một
gia tăng vì ngành chăn nuôi đang phát triển rất mạnh, bên cạnh đó ngành chăn
nuôi thủy sản ngày càng tăng cần một lượng thức ăn cho tôm, cá.
1.1.3. Ngô làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh
Bảng 1.2. Giá trị dinh dưỡng của ngô rau và một số loài rau khác
(phân tích trong 100 g)
Thành phần
Ngô rau
Su lơ
Cải bắp
Cà chua
Dưa chuột
Độ ẩm ( %)
89,10
90,30
92,10
94,10

19,00
Photpho ( mg)
86,00
50,00
26,00
18,00
12,00
Sắt ( mg)
0,10
1,00
0,70
0,80
0,10
Vitamin ( IU)
64,00
95,00
75,00
735,00
0,00
Thiamin( mg)
0,05
0,06
0,05
0,06
0,02
Riboflavin ( mg)
0,08
0,80
0,05
0,04

1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vào thế kỷ XVI và XVII, người Châu Âu biết đến cây ngô sau chuyến
thám hiểm phát hiện ra Châu Mỹ của Columbus. Ở Châu Mỹ người dân da đỏ
trồng rộng rãi khắp châu lục làm lương thực. Sau khi được Columbus đưa về
trồng, người Châu Âu đã nhanh chóng nhận ra được giá trị của cây ngô nhưng
cũng chưa có cơ sở đi xa hơn những người da đỏ làm được.
Năm 1716, Cottin Matther, là người đầu tiên tiến hành nghiên cứu về giới
tính cây ngô và ông đã quan sát được sự thụ phấn chéo ở cây ngô tại
Massachusetts. Trên ruộng ngô được trồng một hàng bằng giống đỏ và xanh da
trời, ông nhận thấy giống ngô vàng có sự thay đổi về màu hạt gây ra bởi giống
đỏ và giống xanh.
Tám năm sau Matther và Paul Dudly đã đưa ra nhận xét về giới tính của
cây ngô và cho rằng gió đã giúp cây ngô thụ phấn [22]
Năm 1760, nhà bác học người Nga Koelreiter đã quan sát và mô tả hiện
tượng ưu thế lai giữa Nicotinana tabacum và N.robusa. Năm 1766, Koeleviter
lần đầu tiên miêu tả hiện tượng tăng sức sống của con lai ở cây ngô, khi tiến

7
hành lai các cây trồng thuộc chi Nicotiana, Dianthus, Vurbascum, Mirabilic và
Datura với nhau [31]
Hiện tượng ưu thế lai của cây ngô được các nhà khoa học quan tâm từ rất
sớm. Vào năm 1812, John Lorain là người đầu tiên tiến hành tạp giao ở ngô với
mục đích nâng cao năng suất hạt, ông nhận thấy rằng việc trộn lẫn các loài ngô
khác nhau như người da đỏ sẽ làm cho ngô năng suất cao hơn.
Năm 1876, Charler Dawin tiến hành thí nghiệm với hàng loạt cá thể giao
phối và tự thụ phấn ở nhiều loại khác nhau như đậu đỗ, ngô, ông đã quan sát
thấy giữa các cây giao phấn và các cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nảy
mầm của hạt, số bắp trên cây, sức chống chịu với điều kiện bất thuận và năng
suất hạt. Năm 1877 ông đã đưa ra kết luận: “ Chiều cao cây ở dạng ngô giao

(0,11 %), Lysine (0,475%), Protein (11%) cao hơn rất nhiều so với ngô thường
(tỷ lệ này ở ngô thường là 0,05: 0,225: 9,0). Từ năm 1997, ngô QPM đã được
chuyển giao đến người nông dân và người tiêu dùng. Ngô chất lượng protein
cao được sử dụng làm lương thực chống suy dinh dưỡng cho người nghèo, hiệu
quả lớn khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, góp phần vào việc xóa đói giảm
nghèo cho các nước đang phát triển.
Ngô lai là một thành tựu khoa học cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế
giới. Có thể nói, ngô lai là “một cuộc cách mạng xanh” của nửa thế kỷ 20. Ngô
lai đã tạo nên bước nhảy vọt về sản lượng trước lúa mỳ nhiệt đới hàng thập kỷ,
nhưng trong giai đoạn đầu nó chỉ phát huy hiệu quả ở Mỹ và các nước phát
triển. Mỹ là nước mà ngô lai phát triển thành công nhất. Cuối thế kỷ 19, Mỹ đã
có 770 giống ngô chọn lọc, cải lương. Theo E.Rinke (1979) việc sử dụng giống
ngô lai ở Mỹ đã được bắt đầu từ năm 1930, giống lai ba và kép được sử dụng
đến năm 1957, sau đó giống lai đơn cải tiến và lai đơn, chiếm 80-85% tổng số
giống lai [17].
Để tạo ra các giống ngô lai tốt các nhà khoa học đã luôn quan tâm đến vật
liệu khởi đầu trong tạo giống là dòng thuần. Theo kết quả điều tra của Bauman
năm 1981 cho thấy các nhà tạo giống ngô ở Mỹ đã sử dụng 15% quần thể có
nguồn di truyền rộng, 16 % quần thể có nguồn di truyền hẹp, 14% quần thể của
các dòng ưu tú, 39% tổ hợp lai của các dòng ưu tú và 17% quần thể hồi giao để
tạo dòng [26].

9
Các giống ngô lai ngày càng phát triển mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia
trồng ngô. Trong đó có các giống ngô lai đơn có ưu thế lai cao nhưng do quá
trình sản xuất hạt giống cho năng suất thấp nên giá thành hạt giống ngô lai đơn
cao. Vì vậy, người ta tiến hành lai tạo giống ngô lai kép, lai ba cho năng suất hạt
giống cao mà giá thành lại rẻ, ưu thế lai cao.
Những năm gần đây với sự phát triển của khoa học công nghệ, công tác
chọn tạo giống được trợ giúp bởi nhiều kỹ thuật mới như kỹ thuật nuôi cấy mô

liệu nghiên cứu còn nghèo nàn và chưa phù hợp. Và đến những năm đầu của
thập kỷ 90 công tác chọn giống ngô được các nhà khoa học coi là nhiệm vụ
chiến lược và đã thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, đưa nghề trồng ngô của
nước ta đứng và hàng ngũ tiên tiến.
Năm 1973, Trạm nghiên cứu Sông Bôi được thành lập. Các nhà khoa học
đã tiến hành duy trì, đánh giá vật liệu tạo dòng thuần, khảo nghiệm các giống
nhập nội và đã xác định được giống lai đơn MVSC 660, cho năng suất cao, phù
hợp với điều kiện miền Bắc [23].
Từ năm 1991-1995, các nhà khoa học đã nghiên cứu lai tạo và chọn lọc bộ
giống ngô mới có thời gian sinh trưởng khác nhau, thích hợp với các vùng sinh
thái, cơ cấu mùa vụ, chống chịu được các điều kiện bất thuận, cho năng suất
cao, phẩm chất tốt. Trong giai đoạn này chủ yếu sử dụng các giống lai không
quy ước như LS3, LS5, LS6, LS7, LS8 do Viện nghiên cứu ngô lai tạo. Bộ
giống này cho năng suất từ 3-7 tấn/ha nên mỗi năm diện tích ngô lai này tăng
trên 8.000 ha, và năng suất tăng trên 1 tấn/ha so với trồng ngô thụ phấn tự do.
Năm 1992-1993 các công ty Pacific, Bioseed và CP Group đã khảo

nghiệm các
giống ngô lai đơn ở Việt Nam. Trên cơ sở sáng tạo kết hợp, một loạt giống ngô
lai quy ước đã ra đời được công nhận và được phép đưa vào sản xuất như:
LVN14 (Là giống chịu rét, chịu hạn, chịu phèn và có khả năng chống đổ khá,
thích hợp với những vùng khó khăn, LVN5 (là giống có khả năng chống đổ,
chịu rét và chống sâu bệnh khá), LVN10, LVN12 (có đặc điểm chống sâu đục
thân khá, chống bệnh đốm lá, không hở bắp, chống khô vằn trung bình), LVN17
(có khả năng chịu rét, chịu phèn, chống đổ, sâu bệnh tốt), LVN20, LVN23 (ngô
rau). Những giống ngô này có thể cho năng suất từ 5-10 tấn/ha, chất lượng tốt,
tính chống chịu cao, thích hợp với nhiều vùng sinh thái và mùa vụ khác nhau.

11
Năm 1996-2002, các nhà nghiên cứu chọn tạo giống ngô đã chú trọng

lai này có nhiều ưu thế như chịu hạn, chống đổ, ít nhiễm sâu bệnh, chất
lượng và màu dạng hạt tốt hơn.
Các giống ngô lai do Viêt Nam chọn tạo ra có chất lượng tốt, có thể
cạnh tranh được với giống của các công ty nước ngoài, trong đó có 10 giống
ngô được ưa chuộng nhất là LVN10, CP888, B9698, C919, G49, B9681,
P11, LVN4, CP989 với diện tích chiếm khoảng 73% diện tích gieo trồng.
Cùng với việc ứng dụng ưu thế lai trong quá trình tạo chọn giống, việc
nghiên cứu ngô ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả trong công tác chọn
giống bằng công nghệ sinh học như: tạo dòng thuần từ nuôi cấy bao phấn,
dùng chỉ thị phân tử phân tích đa dạng di truyền, phân nhóm ưu thế lai, tạo
dòng kháng khô vằn, lập bản đồ gen chịu hạn, chọn các dòng ưu tú sử dụng
trong tạo giống ngô lai có hàm lượng protein cao (PQM) thông qua kỹ thuật
nuôi cấy bao phấn như: C126, C130, C136, C138, C147,…[4].
Như vậy, ngành sản xuất ngô đã có những bước tiến mới, đạt được
nhiều thành tựu to lớn, chọn tạo được nhiều giống ngô tốt. Tuy nhiên vẫn còn
nhiều tồn tại như nguồn vật liệu tạo giống nghèo nàn, phải nhập từ các nước
tiên tiến và phải mất thời gian dài và đầu tư lớn để chọn lọc cho phù hợp với
điều kiện sinh thái Việt Nam. Sản xuất ngô còn manh mún, nhỏ lẻ. Các
nghiên cứu về kỹ thuật canh tác như khoảng cách, mât độ, phân bón, bảo
quản sau thu hoạch chưa được quan tâm như chọn tạo giống nên năng suất
thực tế còn thấp hơn so với tiềm năng.
1.3. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên sản xuất ngô luôn
được quan tâm và phát triển, nhất là trong hơn 40 năm gần đây. Từ những
năm cuối của thế kỷ XX, nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ ưu thế lai, kỹ
thuật nông học tiên tiến và những thành tựu của các ngành khoa học khác
như công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản và chế biến, cơ khí hóa, vào
sản xuất.


148,96
4,809
706,84
2007
158,31
4,990
789,93
2008
162,87
5,098
830,26
2009
158,84
5,163
820,15
2010
163,82
5,187
849,79
2011
171,78
5,155
885,29
2012
177,00
4,944
875,10
( Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2014[27])
Tình hình sản xuất ngô của thế giới trong những năm gần đây tăng cả
về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2001, diện tích trồng ngô trên toàn

Châu Phi
35,02
2,045
71,61
( Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2014 [27])
Diện tích ngô ở các châu lục có sự chênh lệch khá lớn, trong đó Châu
Mỹ có diện tích trồng ngô lớn nhất chiếm 38,18 % diện tích trồng ngô của
toàn thế giới, bên cạnh đó năng suất và sản lượng ngô cũng đứng đầu thế
giới. Năm 2013 năng suất đạt 7,392 tấn/ha (cao hơn 26,66 % so với trung
bình chung của thế giới), sản lượng ngô đạt 422,96 triệu tấn (chiếm 48,33%
sản lượng ngô của thế giới). Châu Á là khu vực có diện tích lớn thứ 2 sau
Châu Mỹ nhưng năng suất ngô chỉ đạt 5,124 tấn/ha. Châu Phi có diện tích
trồng ngô đứng thứ 3 trên thế giới nhưng năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt
2,045 tấn/ha. Châu Âu là khu vực có diện tích trồng cây ngô ít nhất trên thế
giới tuy nhiên năng suất đạt 6,190 tấn/ha, đứng thứ 2 trên thế giới. Nguyên
nhân của sự phát triển không đồng đều nhau là do sự khác biệt về khoa học
kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế… của từng khu vực. Châu Mỹ
có điều kiện tự nhiện thuận lợi, trình độ khoa học phát triển cao còn ở Châu
Phi thì điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nền kinh tế ở mức thấp, tình hình an
ninh trật tự không đảm bảo đã làm cho sản xuất nông nghiệp tụt hậu so với
các khu vực trên thế giới.
Các nước phát triển có năng suất ngô cao hơn năng suất trung bình
chung của thế giới, còn các nước đang phát triển năng suất ngô thấp hơn. 15
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô một số nước năm 2013
Nước
Diện tích( ha)
Năng suất (tạ/ha)

0,18
11,43
2,00
(Nguồn FAOSTAT,2014,[24])
Mỹ là nước dẫn đầu về diện tích, năng suất và sản lượng ngô. Năm 2013,
diện tích trồng ngô của Mỹ là 35,36 ha, năng suất bình quân 77,44 tạ/ha và tổng
sản lượng 273,83 tấn. Tiếp theo là Trung Quốc với diện tích là 34,97 ha, năng
suất bình quân 59,56 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 208,26. Hai nước này có diện tích
trồng ngô tương đương nhau nhưng năng suất ngô của Mỹ cao gấp gần 1,3 lần
năng suất ngô của Trung Quốc.
Trên thị trường quốc tế ngô đứng đầu trong danh sách những mặt hàng
có giá trị khối lượng hàng hóa giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông lớn,
thị trường tiêu thụ rộng và nhu cầu ngày càng cao. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ
ngô hàng năm trên thế giới trung bình hàng năm từ 702,5 đến 768,8 triệu tấn.
Trong đó, nước Mỹ tiêu thụ 33,52% tổng sản lượng ngô tiêu thụ và các nước
khác chiếm 66,48%
Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng nên nhu cầu về
thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi một lượng ngô lớn để phục vụ
chăn nuôi. Theo nghiên cứu của Euromonitor, tổng doanh số mặt hàng thịt tươi
sống của Trung Quốc dự kiến tăng 3,5 triệu tấn.

16
Bên cạnh đó ngô còn được dùng là nguyên liệu chính để chế biến ethanol
thay cho nguồn dầu mỏ ngày càng cạn kiệt. Năm 2002-2003 Mỹ đã dùng 25,2
triệu tấn ngô để chế biến Ethanol, năm 2005-2006 dùng 40,6 triệu tấn để chế
biến ethanol [7].
Theo dự báo của IGC, sản lượng ngô tồn kho niên vụ 2010/2011 giảm
22% so với cùng kỳ niên vụ trước do nhu cầu tiêu thụ tăng, đặc biệt ở các nước
có nền kinh tế mới nổi ở Châu Á Thái Bình Dương.
Bảng 1.6. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020

Tây và Bắc Phi
18
28
56
Nguồn: IRRI( 2003) [10 ]
Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực Thế giới, năm
2020 tổng nhu cầu ngô trên thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm
lương thực, 69 % dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng là nguyên liệu cho
công nghiệp. Ở các nước phát triển lượng ngô dùng làm lương thực chỉ là 5%
trong khi đó ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 22 %. Năm 2020, nhu cầu
ngô thế giới tăng 45 % so với nhu cầu năm 1997. Vấn đề đặt ra lớn nhất là nhu
cầu ngô tăng lại tập trung ở các nước đang phát triển, nhưng lượng ngô sản xuất
ra ở các nước này chưa đáp ứng được nhu cầu trong khi đó chỉ có 10% sản
lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước đang phát triển
(IRRI, 2003).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status