Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 29


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Ô KIM DUY
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI
TẠI HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Thái Nguyên, năm 2014

Thái Nguyên, năm 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị
nào. Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng quản
lý sau đại học và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài. Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Ngƣời viết cam đoan Ô Kim Duy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ii
LỜI CẢM ƠN

Ðể hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của giáo
viên hướng dẫn, cơ quan chủ quản. Tôi xin chân thành cảm ơn:
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc tới PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng - Trưởng phòng đào tạo và TS. Trần Trung

4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 7
1.2.3. Tình hình sản xuất ngô vùng Trung du và miền núi phía Bắc 11
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Bắc Kạn 13
1.3. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai trên thế giới và ở Việt Nam 16
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai trên thế giới 16
1.3.2. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai ở Việt Nam 17
Chƣơng 2NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Vật liệu nghiên cứu 25
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.3. Nội dung nghiên cứu 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1. Thí nghiệm so sánh giống 27
2.4.2. Xây dựng mô hình trình diễn 34
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 35
Chƣơng 3KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv
3.1. Khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ xuân và vụ
hè thu 2013 tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 36
3.1.1. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ
Xuân và vụ Hè Thu 2013 tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 36
3.1.2. Đặc điểm hình thái của các giống ngô thí nghiệm 39

.05
: Least significant difference (Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
95%)
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
P : Xác suất
PTNT : Phát triển nông thôn
TGST : Thời gian sinh trưởng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Sản xuất ngô thế giới giai đoạn 1961 - 2013 5
Bảng 1.2. Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2013 6
năm 1975 - 2013 10
Bảng 1.4.Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vùng Đông Bắc từ 2011 – 2013 12
Bảng 1.5. Sản xuất ngô của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001 - 2013 13
Bảng 1.6. Sản xuất ngô của huyện Pác Nặm giai đoạn 2001 - 2013 15
Bảng 3.2. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống thí nghiệm vụ Xuân
và vụ Hè Thu 2013 tại Pác Nặm - Bắc Kạn 39
Bảng 3.3. Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm vụ
Xuân và vụ Hè Thu 2013 tại Pác Nặm - Bắc Kạn 41
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm sâu bệnh của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và vụ Hè
thu 2013 tại Pác Nặm - Bắc Kạn 43
Bảng 3.5. Tỷ lệ gãy thân, đổ rễ của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và vụ Hè
thu 2013 tại Pác Nặm - Bắc Kạn 45
Bảng 3.6. Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô tham gia

trồng phổ biến khắp cả nước, nhiều nhất là ở miền núi. Ngô là nguồn thực phẩm có giá
trị dinh dưỡng cao. Những bộ phận trên cây ngô có tác dụng rất lớn trong nhiều lĩnh
vực. Hạt ngô ăn trộn với gạo, dùng nấu rượu, làm tương; thân lá tươi làm thức ăn cho
gia súc
Từ đầu những năm 1990 đến nay, sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước
tiến nhảy vọt , gắn liền với việc mở rộng giống lai và cải thiện các biện pháp kỹ thuật
canh tác. Năm 1991, diện tích trồng giống lai chưa đến 1% trên hơn 400 nghìn ha
trồng ngô, số liệu thống kê sơ bộ cho thấy năm 2013 giống lai đã chiếm khoảng 95%
trong số hơn 1 triệu ha. Diện tích 1.172,6 nghìn ha, năng suất 44,3 tạ/ha, sản lượng
5,2 triệu tấn (Tổng cục Thống kê, 2014)[26]. Tuy nhiên, năng suất ngô của nước ta
vẫn thấp hơn trung bình thế giới, năm 2013 đạt 80,25% (44,3/55,2 tạ/ha) (FAOSTAT,
2014)[35].
Ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, ngô là cây lương thực chính chỉ đứng sau
cây lúa. Việc mở rộng diện tích được tưới chủ động cho cây trồng ở vùng núi cao là
vấn đề khó khăn vì địa hình canh tác trên nền đất dốc, nương rẫy và sườn nú
lớn hơn nhiều so với vùng đồng bằng. Như vậy, chủ yếu diện tích ngô trong vùng được
trồng ở vùng cao nhờ nước trời, chỉ có một phần nhỏ diện tích ở vùng thấp là có tưới.
Vì vậy, giải pháp tối ưu cho việc nâng cao năng suất và sản lượng ngô ở vùng này là sử
dụng các giống ngô lai chịu hạn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới. Do đó, cần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2
phải chọn tạo được những giống ngô cho năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt,
phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng. Để tìm ra được những giống ngô ưu việt
nhất đưa vào sản xuất đại trà, cần tiến hành quá trình nghiên cứu, đánh giá, loại bỏ
những giống không phù hợp, giúp cho quá trình đánh giá và chọn tạo giống đạt hiệu
quả cao nhất.
Bắc Kạn là tỉnh miền núi vùng cao phía Bắc, nằm ở tọa độ địa lý 21

cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số
giống ngô lai tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn”.
2. Mục tiêu của đề tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 3
Nhằm chọn được giống ngô lai trung ngày phù hợp với điều kiện sinh thái của
tỉnh Bắc Kạn để đưa vào cơ cấu cây trồng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ngô.
3. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi khả năng của sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai.
- Theo dõi đặc điểm hình thái của một số giống ngô lai.
- Theo dõi khả năng chống chịu sâu, bệnh của một số giống ngô lai.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống ngô lai.
- Xây dựng mô hình trình diễn giống ngô lai triển vọng.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho công tác chọn giống ngô lai vùng Trung du và
miền núi phía Bắc.
- Bổ sung thêm dữ liệu khoa học về các giống ngô lai phù hợp với điều kiện sinh
thái vùng Đông Bắc.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài đã lựa chọn được 1 giống ngô lai có khả năng sinh trưởng phát triển tốt,
chống chịu tốt, cho năng suất cao và ổn định, thích nghi với điều kiện tỉnh Bắc Kạn,
góp phần mở rộng diện tích các giống ngô mới làm tăng hiệu quả sản xuất.
- Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, tăng năng suất và hiệu quả
sản xuất ngô, khai thác tiềm năng đất đai, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập
cho các hộ nông dân vùng miền núi.


thái khác nhau là vấn đề rất quan trọng góp phần đưa nhanh các giống ngô tốt vào sản
xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất, sản lượng ngô.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 5
Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước, trong những
năm qua Bộ Nông nghiệp và PTNT đã xét công nhận được nhiều giống ngô lai mới,
các giống này đã phát huy hiệu quả tốt trên đồng ruộng.
Đề tài nghiên cứu một số giống ngô tại Bắc Kạn và một số tỉnh miền núi phía Bắc
nhằm đánh giá một cách khách quan, kịp thời, có cơ sở khoa học về tính khác biệt, độ
đồng đều, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng
chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng như tiềm năng cho năng
suất của các giống ngô lai.
Xuất phát những cơ sở khoa học trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài này.
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, mặc dù chỉ đứng
thứ hai về diện tích sau lúa nước và lúa mì, nhưng ngô lại dẫn đầu về năng suất và sản
lượng, là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương
thực chủ yếu.
Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnh
vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin
học vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997) [24]. Do vậy diện
tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây.
Bảng 1.1. Sản xuất ngô thế giới giai đoạn 1961 - 2013
Năm
Diện tích
(triệu ha)

51,64
820,53
2010
164,07
52,83
850,44

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 6
2011
170,39
51,87
883,46
2012
178,55
48,88
872,79
2013
184,24
55,17
1016,43
Nguồn: FAOSTAT, 2014 [35]
Qua bảng số liệu trên cho thấy, năm 1961, năng suất ngô trung bình của thế giới
chỉ đạt sấp xỉ 20 tạ/ha nhưng đến năm 2004 năng suất ngô trên thế giới đã đạt 49,40
tạ/ha. Năm 2013 diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới đều tăng so với
năm 2012 khi đạt 184,24 triệu ha và 1016,43 triệu tấn. Chính từ điều nay mà càng
khẳng định thêm vai trò và vị trí của cây ngô. Diện tích trồng lúa mỳ năm 1961 đạt
204,20 triệu ha, năng suất đạt 10,88 tạ/ha, sản lượng thu được 222,35 triệu tấn. Năm

13,22
42,12
55,66
Mexicô
6,07
29,06
17,64
Ấn Độ
7,27
29,67
21,57

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 7
Ý
0,99
98,03
9,75
Đức
0,49
106,23
5,19
Hy Lạp
0,18
119,13
2,17
Ixaren
0,003

8
Ở nước ta, ngô là cây trồng nhập nội được đưa vào Việt Nam khoảng 300 năm và
đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực quốc
gia (Ngô Hữu Tình và cs, 1997)[24]. Cây ngô đã khẳng định vị trí trong sản xuất nông
nghiệp và trở thành cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau cây lúa đồng thời là
cây màu số một, góp phần đáng kể trong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người
dân Việt Nam, nhờ những đặc tính sinh học ưu việt như khả năng thích ứng rộng, chịu
thâm canh, đứng đầu về năng suất, trồng được ở nhiều vùng sinh thái và ở các vụ khác
nhau trong năm, từ đó diện tích trồng ngô nhanh chóng được mở rộng ra khắp cả nước,
đặc biệt là các vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Trong hơn 10 năm trở lại đây, những thành công trong công tác nghiên cứu và sử
dụng các giống ngô lai được coi là cuộc cách mạng thực sự trong ngành sản xuất ngô ở
Việt Nam. Những thành tựu nghiên cứu về cây ngô đã thay đổi sâu sắc tập quán trồng
ngô ở Việt Nam và đã có những đóng góp nhất định cho mục tiêu phát triển cây ngô ở
nước ta.
1991, diện tích trồng ngô lai ở nước ta chỉ đạt 1% tổng diện tích
trồng ngô, nhưng đến năm 2013, giống ngô lai đã chiếm khoảng 95% trong tổng số
hơn 1 triệu ha trồng ngô. Trong đó giống được cung cấp do các cơ quan nghiên cứu
trong nước chọn tạo và sản xuất chiếm khoảng 50 - 55%, còn lại là của các công ty hạt
giống ngô lai hàng đầu thế giới. Một số giống ngô lai được dùng chủ yếu ở vùng núi
hiện nay như LVN10, LVN4, LVN61, DK888, DK999, B9698, NK54, NK4300,
NK66, NK67, VN8960
Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế giới
trong suốt hơn 20 năm qua. Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34% so với
trung bình thế giới, năm 1990 bằng 42%, năm 2000 bằng 59,8%, năm 2005 bằng
74,4% và năm 2013 đạt 80,8%. Năm 1990, sản lượng ngô vượt ngưỡng 1 triệu tấn,
năm 2000 vượt ngưỡng 2 triệu tấn, và đến năm 2013 Việt Nam đạt diện tích, sản lượng
ngô cao nhất từ trước cho đến nay (diện tích đạt 1.172,6 nghìn ha và sản lượng 5.193,5
triệu tấn).


1985
392,2
14,90
584,9
1990
431,8
15,50
671,0
1995
556,8
21,30
1.184,2
2000
730,2
27,50
2005,9
2004
991,1
34,6
3430,9
2005
1.052,6
36,00
3787,1
2010
1.126,9
40,90
4.625,7
2011
1.117,2

nghiên cứu ra những giống ngô va biện pháp kỹ thuất canh tác hiệu quả để nâng cao
năng suất và chất lượng của sản xuất ngô Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của
ngành nông nghiệp Việt Nam (FAOSTAT, 2014) [35].
Sự phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng như các nước
trong khu vực đánh giá cao. Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ
nghiên cứu tạo giống ngô lai và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao (công nghệ
gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu Tình, 2003)[25].
Một thực trạng đặt ra hiện nay là mặc dù diện tích, năng suất và sản lượng ngô
của nước ta đều tăng nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giới năng suất ngô
nước ta còn rất thấp, mặt khác nhu cầu sử dụng ngô của Việt Nam ngày càng lớn.
Vấn đề này đặt ra nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết cho các cơ quan nghiên cứu
chọn tạo giống là tạo ra các giống ngô có năng suất cao, chống chịu tốt đồng thời đáp
ứng được cả yêu cầu về chất lượng.
1.2.3. Tình hình sản xuất ngô vùng Trung du và miền núi phía Bắc
Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ bao gồm 14 tỉnh (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc
Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ,
Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình) là một trong các vùng trồng ngô có diện tích
lớn ở Việt Nam. Diện tích trồng ngô năm 2013 của vùng này là 505,8 nghìn ha, sản
lượng đạt cao nhất 1.904,2 nghìn tấn, tuy diện tích lớn nhưng phân bố rải rác, đất
trồng ngô có địa hình phức tạp, chủ yếu là đất phiên bãi, thung lũng, thềm sông suối,
độ cao so với mặt nước biển thay đổi từ vài trăm mét (Lạng Sơn) đến hơn nghìn mét
(cao nguyên Đồng Văn – Lạng Sơn) nên năng suất đạt thấp nhất so với các vùng khác
trong cả nước đạt 37,6 tạ/ha. Khí hậu của vùng thường khắc nghiệt, hạn và rét kéo
dài, lượng mưa không phân bố không đều trong năm, đã ảnh hưởng không nhỏ đến
sản xuất ngô của vùng.
Mặc dù sản lượng ngô của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ chiếm tới 36,66%
sản lượng ngô cả nước nhưng mới chỉ cung cấp được cho nhu cầu ngô của vùng, sản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


49,9
52,5
53,0
31,1
31,8
33,7
155,3
167,2
178,5
2
Cao Bằng
39,0
39,3
39,0
32,0
32,5
33,8
124,8
127,7
131,7
3
Bắc Kạn
16,9
16,5
16,4
38,3
37,2
40,9
64,7
61,4

47,6
100,7
104,3
104,8
7
Quảng Ninh
6,3
6,0
5,8
37,8
37,3
38,6
23,8
22,4
22,4
8
Bắc Giang
10,8
8,6
9,3
37,7
39,1
38,8
40,7
33,6
36,1
9
Phú Thọ
21,4
17,4

vùng ngô khác.
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Bắc Kạn
Cùng với sự phát triển ngô trong cả nước, tỉnh Bắc Kạn trong những năm gần đây
tỉnh cũng rất quan tâm phát triển sản xuất ngô và đã thu được nhiều kết quả nhất định
nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, được nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào
sản xuất ngô cho nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên địa bàn toàn tỉnh tăng
nhanh trong những năm gần đây.
Bảng 1.5. Sản xuất ngô của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001 - 2013
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(nghìn tấn)
2001
10,2
23,6
24,1
2002
11,1
24,8
27,5
2003
13,2
26,5
35,0
2004
13,6
26,6

16,5
37,2
61,4
2013
16,4
40,9
67,0

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 14
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2014 [5]
Qua bảng 1.5 cho thấy: Từ năm 2001 đến năm 2013 diện tích ngô của tỉnh Bắc
Kạn tăng từ 10,2 nghìn ha đến 16,9 nghìn ha. Năng suất ngô của tỉnh tăng đều từ 23,6
tạ/ha năm 2001 lên 40,9 tạ/ha vào năm 2013, tăng 17,3 tạ/ha so với năm 2001. Sản
lượng tăng từ 24,1 nghìn tấn năm 2001 lên 67,0 nghìn tấn vào năm 2013, tăng 42,9
nghìn tấn so với năm 2001. Năng suất ngô của tỉnh Bắc Kạn bằng 92,3% năng suất
ngô của cả nước. Năm 2013, tuy diện tích trồng có giảm nhẹ nhưng năng suất và sản
lượng đều tăng và đạt cao nhất từ trước tới nay, năng suất đạt 40,9 tạ/ha, sản lượng
đạt 67,0 nghìn tấn. Điều này chứng tỏ trong những năm gần đây tỉnh Bắc Kạn cây
ngô đã được Đảng bộ và chính quyền tỉnh đặc biệt chú trọng quan tâm và đầu tư phát
triển đã đạt được những thành tựu như vậy đó chính là nhờ áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như: Sử dụng các giống mới, kỹ thuật canh tác.
Tuy nhiên sản xuất ngô ở Bắc Kạn cần được quan tâm và đầu tư phát triển
nhiều hơn, mạnh hơn nữa như: Tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo
trồng ngô trên đất đồi, đất bãi ở vụ Hè Thu. Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng
suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của tỉnh.
Ngoài việc thâm canh ngô lai ở những vùng thuận lợi, cần tăng cường sử dụng
các giống ngô thụ phấn tự do cải tiến ở nhưng vùng khó khăn, nhằm tăng năng suất,

(tấn)
2004
1879
26
4885
2005
2038
25,18
5132
2006
2177
26,20
5704
2007
2282
30,94
7061
2008
2340
31,18
7296
2009
2387
33,05
7877
2010
3584
23,68
8487
2011

DK 888, NK 66, C 919, DK 9901, DK 9955 các giống này đã được áp dụng và đưa
vào sản xuất trên địa bàn toàn huyện.
1.3. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai trên thế giới
Lợi dụng ưu thế lai đã có từ lâu trong sản xuất nông nghiệp đối với cây ngô, từ xa
xưa những người thổ dân da đỏ ở Châu Mỹ đã biết cách gieo các giống ngô khác nhau
bên cạnh nhau, cho lai tự nhiên để nâng cao năng suất.
Trong quá trình nghiên cứu và sản xuất hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô được các
nhà khoa học quan tâm từ rất sớm. Thực hành tạp giao đầu tiên ở ngô với mục đích
nâng cao năng suất hạt có lẽ là John Lorain, năm 1812 ông đã nhận thấy rằng việc trộn
lẫn các loài ngô khác nhau như người da đỏ đã làm sẽ cho năng suất ngô cao. Tuy
nhiên người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hiện tượng ưu thế lai là Charles Darwin vào
năm 1871. Bằng cách nghiên cứu hàng loạt các cá thể giao phối và tự phối ở nhiều loài
khác nhau như đậu đỗ, ngô, ông nhận thấy sự hơn hẳn của các cây giao phấn với các
cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nẩy mầm của hạt, số quả trên cây và cả sức
chống chịu với điều kiện bất thuận và năng suất hạt.Sử dụng ưu thế lai trong tạo giống
ngô lai được nhà nghiên cứu Wiliam, Janes Beal người Mỹ bắt đầu nghiên cứu từ năm
1876, Ông thu được những cặp lai hơn hẳn các giống bố mẹ về năng suất từ 10 - 15%.
Shull là nhà khoa học dẫn chứng và nêu khái niệm về ưu thế lai khá hoàn chỉnh trên
ngô. Năm 1904 ông đã tiến hành tự thụ cưỡng bức ở ngô để thu được các dòng thuần
và tạo ra các giống lai từ các dòng thuần này. Năm 1913, nhà khoa học này đã chính
thức đưa ra thuật ngữ “Heterosis” để chỉ ưu thế lai, những công trình nghiên cứu về
ngô lai của Shull đã đánh dấu bắt đầu thực sự của chương trình chọn tạo giống ngô
(Hallauer, 1988) [38].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 17
Ngoài Shull, các nhà khoa học người Mỹ như East, Heyes cũng đã nghiên cứu ưu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status