Dấu ấn văn hóa nam bộ trong ký của lý lan - Pdf 29



*****


 !"!"
"#$%&

'()*+,


*****


 !"!"
 /0123456
7*))*+)+


"#$%&
89:2/9;.8<=.>/?5/01@A$B$B'C
'()*+,
"
D5.8
EF
+B"G<?1/0.HI4J2
+B+B Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của con người, vừa là môi
trường nhân tạo để nuôi dưỡng đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Cùng với thiên nhiên thứ nhất do tạo hóa tạo nên, văn hóa trở thành môi
trường sống của con người, văn hóa được nhìn nhận là động lực của sự tiến
bộ xã hội… Văn học vừa là văn hóa, vừa biểu hiện văn hoá, cho nên văn học

Tường, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Bình Nguyên Lộc, Băng Sơn,
Võ Phiến, Lý Lan không chỉ mang tới cho độc giả những tri thức, nhận
thức mới mẻ, hấp dẫn về văn hóa vùng miền, mà còn góp phần vun đắp tâm
hồn, tư tưởng tình cảm cho họ. Chẳng hạn, đọc Thương nhớ mười hai của
Vũ Bằng, độc giả miền Nam có thêm hiểu biết tường tận về mảnh đất, văn
hóa và tấm lòng của con người xứ Bắc. Tất cả là hồi quang của một thời quá
khứ xa xưa, nhưng khi được biểu đạt bằng giọng văn đằm thắm nghĩa tình,
4

đau đáu nhớ thương, bỗng trở nên lung linh cao quý như những mảnh hồn
thiêng dân tộc, từ đây người đọc càng yêu hơn quê hương, đất nước mình.
+BKB Lý Lan - một nhà văn chuyên nghiệp, từng sống ở Sài Gòn, Nam
Bộ, am hiểu văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ. Tất cả các bài ký, tập ký của bà đều
tập trung về văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ, lấy đây làm đối tượng nhận thức,
phản ánh và thể hiện
Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ
từ khi Việt Nam giành được độc lập vào năm 1945. Nam Bộ là một trong ba
vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
Văn hóa Nam Bộ, có thể chia thành ba tiểu vùng: tiểu vùng Đông Nam Bộ,
tiểu vùng Tây Nam Bộ, và tiểu vùng Sài Gòn. Mảnh đất lành này là nơi có
sự gặp gỡ trọn vẹn và diễn ra sự giao thoa văn hoá của 4 cộng đồng dân tộc
Việt, Hoa, Chăm, Khơ-me tiêu biểu cho cả Nam bộ, trong đó người Việt là
chủ thể chính. Hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước và trên một
vùng đất đa tộc người, văn hoá Nam Bộ có nhiều nét riêng độc đáo
Từng được sống trong môi trường văn hóa Nam Bộ, am hiểu văn hóa
Sài Gòn, Nam Bộ, Lý Lan ấp ủ khát vọng viết về nó với tất cả tấm lòng gắn
bó yêu thương của mình, viết về nó với cảm nhận và cái nhìn riêng của
mình. Chính vì vậy, Văn ho Nam B trong k ca L Lan là vấn đề có ý
nghĩa sâu sắc trên nhiều phương diện…
)BL249M.8.8/2N.1OPQJ82;2/R.1S5HI4J2

Minh, 19910 nhận thấy ở Lý Lan “Cái tươi trẻ, cái bình dân và sự ranh mãnh
của những cô gái trẻ Sài Gòn xưa và nay. Nhất là có phẩm cách” [40; 4]
Khi Mt góc phố Tàu của Lý Lan (Nxb Hội Nhà văn, 2000) ra đời,
Vương Trí Nhàn tuyển chọn và giới thiệu, ông khẳng định phong cách văn
xuôi Lý Lan “chính là nằm trong cái mạch của văn xuôi Nam Bộ. Cây bút
này đã tiếp nhận một cách hồn nhiên kinh nghiệm của người đi trước để rồi
trong hoàn cảnh của mình, thêm vào đó những sắc thái mới, làm nên một
giọng điệu mới…là một tiếng nói điềm đạm, không làm điệu, làm ồn, tự tin
6

ở sự tồn tại của mình, do đó là một tiếng nói dễ gần, dễ thông cảm. Chị đã
viết được đều, viết nhanh, viết khỏe, có thể tin là trước mắt chúng ta một
phong cách đã hình thành, một mạch văn đã khơi nguồn và đang chảy xiết
chứ không phải là một sự “viết cho vui” hoặc ghé qua nghề nghiệp chốc lát
rồi lại bỏ” “Riêng với Lý Lan, do hoàn cảnh riêng là lớn lên ở một miền
đất mà người Hoa sinh sống tập trung, chị lại có dịp nói kỹ về sinh hoạt của
cộng đồng này, từ chuyện làm ăn, một tiệm chạp pô, tiệm nước tới việc viết
chữ ghi lại bút tích ngày xuân… với những con người bảo ban nhau làm ăn,
những con người nghèo nghèo, tội tội, đang vật lộn kiếm sống và kiếm cách
thích nghi với mảnh đất mới”[74; 12-15]. Vương Trí Nhàn đã đặt văn xuôi
của Lý Lan trong mạch văn xuôi Nam bộ cùng với Hồ Biểu Chánh, Lý Văn
Sâm, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Trang Thế Hy v.v Theo Vương Trí
Nhàn, Lý Lan có “lối kể chuyện mộc mạc”; lối hành văn “tự nhiên mà
không bao giờ mang tiếng trau chuốt, đẽo gọt”, “Qua những trang sách
của chị, người ta thấy hiện lên một phần hình ảnh xã hội sau chiến tranh với
những xáo trộn nghiệt ngã, và những đổi thay mà trước đây không ai ngờ
tới. Song cái chính là qua những trang sách ấy, người ta cảm thấy như được
gặp gỡ với một tâm hồn nhạy cảm, biết nhìn đời một cách nhân hậu để tìm
ra những vẻ đẹp và bất chấp mọi sự oái oăm rắc rối, vẫn có được một thái độ
phải chăng, hợp lý, giữ lấy niềm tin cho riêng mình”[74]. Khi đặt Lý Lan

Anh Vân gọi Lý Lan là “người bạn ham chơi, chân thành của chữ nghĩa” và
với chữ nghĩa, Lý Lan có “mối quan hệ quấn quýt như tình nhân”. Tác giả
bài viết cũng nhận ra nét hồn nhiên không chỉ toát ra từ con người mà còn
thể hiện rõ trong giọng văn, ngôn ngữ của Lý Lan” và khẳng định sự trong
sáng, dễ thương đã trở thành một trong những nét riêng hấp dẫn ở giọng
điệu của Lý Lan.
Bài viết “Lý Lan: Tình yêu vẫn còn nguyên vẹn” của Tường Vy đăng
trên báo Saigongiaiphongonline là bài viết ghi lại những hoạt động và đóng
góp của Lý Lan tại buổi Tổ chức Hội sách Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ
5, nhân dịp đón tết Mậu Tý, 2008. Qua bài viết này tác giả cũng hé mở một
8

số chi tiết về cuộc đời của nhà văn thông qua câu trả lời của nhà văn với bạn
đọc.
Tác phẩm của Lý Lan trở thành đề tài nghiên cứu cho một số luận văn
thạc sĩ, như Đặc điểm truyện ngắn L Lan của Lê Thị Huỳnh Lan (Cao học
15 Đại học Vinh), Cảm hứng nữ quyền trong văn xuôi tự sự ca L Lan của
Nguyễn Thị Hà (Cao học 16 Đại học Vinh), Đặc điểm tạp văn ca L Lan
của Lê Tiến Dũng (Cao học 16 Đại học Vinh).
KB)B$"%!&'()*+,-%.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề văn hóa Nam Bộ trong ký Lý Lan thể nói
còn trống vắng. Chỉ có một vài bài viết có đề cập một vài chi tiết về nội
dung và cách viết ký của bà.
Ký là một thể loại được Lý Lan viết nhiều, song thể loại này của bà
chưa thu hút được sự quan tâm cần thiết, đúng mức của giới nghiên cứu.
Những đánh giá chủ yếu dành cho truyện ngắn và đặc biệt cho cuốn tiểu
thuyết mới xuất bản gần đây của bà: Tiểu thuyết đàn bà, còn ký thì mới chỉ
có một vài bài viết lẻ tẻ in trên các báo. Tác giả Việt Bằng trong bài “Đọc
Miên man tuỳ bút của Lý Lan” đăng trên vietbang.com đề cập đến hai nội
dung: “Miên man tùy bút là tập hợp của 11 đoản văn (personal essays,

man tùy bút là cuốn sách “ thật ấm áp tình đời, tình người, có sức quyến rũ
dịu dàng lay động mỗi trái tim người đọc. Nó như một dòng suối mát trong
róc rách giữa ngày nắng hạ mang đến niềm vui, hy vọng và sức mạnh tiềm
ẩn để chúng ta ngẩng cao đầu đi trong cuộc sống”[35].
Các tác giả biên soạn công trình Thơ văn nữ Nam B thế kỷ XX (Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) nhận xét: Lý Lan “viết nhiều về người Hoa,
về con cháu của một dân tộc đã sinh sống, gắn bó, hòa nhập với mảnh đất
này từ bao đời nay…nhưng không thấy hiển hiện nỗi niềm xa xứ, nỗi sầu xứ
mênh mang của một người xa lạ, “thiếu quê hương” (chữ dùng của Nguyễn
Tuân) hay u trầm, huyền bí” mà chỉ thấy vẻ hiền lành, đơn sơ, mộc mạc của
một cộng đồng người giàu đức tính chia sẻ và cảm thông” [1; 686]
10

Nhìn chung, các bài báo nghiên cứu về ký và đặc biệt là vấn đề văn hóa
Nam bộ trong ký của Lý Lan vẫn còn quá ít ỏi, sơ sài, nếu không muốn nói
là chưa có.
,BX1HY1/QJ./236QX.8/2N.1OP
,B+B /0
Qua tìm hiểu, khảo sát dấu ấn văn hoá Nam Bộ trong ký của Lý Lan,
luận văn nhằm xác định đây như là một thành tố quan trọng tạo nên thành
công và nét riêng trong phong cách ký của Lý Lan, cũng từ đây, đề xuất một
số vấn đề về có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về tiếp nhận và nghiên cứu dấu
ấn văn hoá vùng miền, địa phương trong các sáng tác văn học…
,B)B )1* /
4.2.1. Đưa ra một cái nhìn khái quát về Lý Lan và thể loại ký trên
hành trình sáng tạo của nhà văn
4.2.2. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những biểu hiện của văn
hoá Sài Gòn, Nam Bộ trong ký của Lý Lan.
4.2.3. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định nghệ thuật thể hiện văn hoá
Sài Gòn, Nam Bộ của ký Lý Lan.

tại quê mẹ làng Bình Nhâm, huyện Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Hiện
nay, Lý Lan đã lập gia đình với giáo sư Sử học người Mỹ tên là Mart
Stewart và sống ở hai nơi Hoa Kỳ và Việt Nam.
Thuở nhỏ, Lý Lan sống ở quê ngoại. Làng Bình Nhâm là vùng đất nổi
tiếng với những vườn cây trái xum xuê, những làng nghề truyền thống lâu
đời của vùng đông Nam Bộ. Đi đâu, làm gì Lý Lan cũng nhớ về nơi chôn
12

nhau cắt rốn - nơi mà Lý Lan trìu mến gọi đó là quê mẹ, nơi mà ở đó đất và
người đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của bà: “Quê mẹ và tuổi thơ ở
quê mẹ là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm, khát đề tài,
khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy…” [49].
Cha Lý Lan là người Quảng Đông, Trung Quốc. Ông di cư đến Việt
Nam từ nửa đầu thế kỷ XX. Nhà văn là kết quả của mối tình không biên giới
Hoa - Việt. Khi nhắc đến quê nội, Lý Lan không nói về một vùng đất cụ thể
mà là một ký ức, một tiềm thức qua lời kể của cha: “Lối mòn nào Lỗ Tấn đã
đi qua thành đường. Và vầng trăng nào Lý Bạch đã ngẩng đầu nhìn rồi nhớ
cố hương”. Mẹ mất sớm, Lý Lan ở với cha “người đàn ông di dân mù chữ”,
nhưng chính tâm hồn cao thượng của ông đã gợi mở lòng yêu thích học
hành và niềm say mê văn học cho con gái mình. Khi theo cha rời làng Bình
Nhâm vào sống ở Sài Gòn - Chợ Lớn, Lý Lan tiếp tục học tập nhờ sự mưu
sinh nhọc nhằn của người cha. Lý Lan tốt nghiệp đại học Sư phạm, trở thành
nhà giáo rồi thành nhà báo, nhà văn nhà thơ, nhà biên kịch điện ảnh, nhà
dịch thuật nổi tiếng được nhiều độc giả ưu ái, mến mộ.
Những ngôi trường ghi dấu tuổi học trò của nhà văn Lý Lan là trường
tư thục Trung Chánh, trường tiểu học cộng đồng Chợ Quán, trường trung
học Gia Long và trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Lý Lan
đã trưởng thành và gắn bó sâu sắc ở thành phố năng động này. Sài Gòn là
nơi níu giữ tâm hồn nhà văn Lý Lan lâu nhất, bền nhất. Nơi đó, Lý Lan có
“cả tỷ chuyện về Sài Gòn - Chợ Lớn”. Bởi Sài Gòn trong Lý Lan là “một

viết những đề tài nhà giáo, tuổi trẻ hấp dẫn độc giả bằng những trải nghiệm
thực tế. Năm 1984, Lý Lan về dạy ở trường Hùng Vương. Những năm sau
đó là trường Lê Hồng Phong, trường Đại học Văn Lang. Đến năm 1997, Lý
Lan chuyển sang làm báo, dành nhiều thời gian cho viết lách và chấm dứt
hẳn nghề dạy học.
+B+B)B%;<  ": -=!%
Lý Lan bắt đầu sự nghiệp sáng tác bằng truyện ngắn Chàng nghệ sỹ
(tác phẩm ra đời năm 1978 sau chuyến đi lao động thực tế về nông thôn của
14

Lý Lan). Đây chính là thành công bước đầu trong văn nghiệp Lý Lan. Từ
đó, bà tiếp tục sáng tác truyện ngắn đều đặn đăng trên báo Tuổi trẻ, Văn
nghệ, Phụ nữ thành phố Với thế mạnh ở vốn văn hóa, vốn sống phong
phú, một trí tuệ thông minh, một tâm hồn nhạy cảm, Lý Lan đã chứng tỏ tài
năng đa dạng của mình trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, tuỳ
bút, ghi chép, văn học dịch…
Cho đến nay, Lý Lan đã cho xuất bản một khối lượng tác phẩm khá lớn
với nhiều thể loại khác nhau. Trước hết cần nói đến truyện ngắn, có: Cỏ ht
(1983), Chút lãng mạn trong mưa (1987), Chiêm bao thấy núi (1991),
Truyện (1992, in chung, gồm Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Hải
Chi), Đất khch (1995), Dị mng (1999), Qúa chén (2000), Mt góc phố
Tàu (2001), Truyện ngắn bốn cây bút nữ (2002), Người đàn bà kể chuyện
(2006), Hồi xuân (2009).
Truyện viết cho thiếu nhi, có: Ngôi nhà trong cỏ (1984), Hi lồng đèn
(1991), Những người lớn (1992), Mưa chuồn chuồn (1993), Bí mật ca tôi
và thằn lằn đen (1996), Ba người và ba con vật (2002)
Về tiểu thuyết, có: Lệ Mai (1998), Tiểu thuyết đàn bà (2008)
Lý Lan còn viết cả kịch bản phim: Nơi bình yên chim hót (1986), Đất
khch (2000).
Về ký (bao hàm nhiều thể: tạp văn, tùy bút, ghi chép,…), có:

liệt chi phối ngòi bút Lý Lan. Nét riêng trong truyện ngắn, tiểu thuyết của bà
chính là nhà văn luôn thể hiện cuộc sống và con người ở những điều bình
thường, nhỏ nhặt, sâu kín trong tâm hồn, đặc biệt là người phụ nữ. Đó là
những trang viết thấm đẫm tinh thần nhân bản.
Lý Lan để lại dấu ấn trong văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại trên rất
nhiều phương diện nổi bật như: Dân chủ hoá về cảm hứng, đề tài; sáng tạo
nên nhiều tình huống truyện độc đáo; đưa chất thời sự vào tác phẩm, xây
dựng hình tượng nhân vật có chiều sâu… Đặc biệt việc đưa chất thời sự vào
văn chương và góp tiếng nói mạnh mẽ cho phong trào nữ quyền trong văn
học là những đóng góp xuất sắc của Lý Lan. Cùng với Lê Minh Khuê, Y
16

Ban, Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, v.v , Lý Lan đã góp phần
tạo nên một “dòng” văn học nữ khó lẫn trong văn học hiện đại Việt Nam.
Lý Lan còn đóng góp cho văn học Việt Nam một màu sắc Nam Bộ rất
riêng và độc đáo. Trong văn của Lý Lan, người ta không chỉ bắt gặp hình
ảnh bến đò, sông nước, những hình ảnh con người lao động cần cù gắn với
những miệt vườn, những cánh đồng xanh, những cách xưng hô (ổng, cổ,
ảnh), ngôn ngữ cụ thể sinh động (mắc mớ gì, hen, hớ, b mày, chút đỉnh) mà
còn bắt gặp ở đó sự pha trộn văn hoá giữa Đông – Tây, giữa người Hoa và
người Việt trong một lối viết giản dị, gần với văn phong báo chí. Các tác
phẩm đậm màu sắc Nam Bộ của bà đó là: Chị ấy lấy chồng chưa?, Đêm
sao, Diễn viên hạng ba, Đêm thảo nguyên, Ngựa ô, v.v…
Truyện ngắn và tiểu thuyết của Lý Lan góp phần khẳng định tính chất
“mở” của các thể loại tự sự, đưa văn chương gần với cuộc đời. Trong tác
phẩm của Lý Lan, các thể loại luôn có mối quan hệ tương quan với nhau,
đều có sự “cộng sinh” nhất định. Đọc truyện ngắn, tiểu thuyết của Lý Lan,
nếu người đọc tinh ý có thể dễ dàng nhận ra dấu ấn của tuỳ bút, của văn
phong báo chí. Tuỳ bút của Lý Lan gần với truyện ngắn, tiểu thuyết (tính
chất chủ quan trong miêu tả, biểu lộ cảm xúc, tính trữ tình, có nhân vật và

(2002) là truyện dài về ba em nhỏ và ba con vật gồm Bồ Câu, chó Mực và
Gà Trống trong cuộc phiêu lưu quanh vườn. Truyện này gồm chín câu
chuyện nhỏ sử dụng lối viết tả thực, nhân hóa kết hợp với khoa học viễn
tưởng như con người dùng máy nghe loài vật nói chuyện. Ngoài ra, nhà văn
còn nhiều truyện ngắn viết cho bạn đọc nhỏ tuổi đăng rải rác trên các báo.
Với tấm lòng tha thiết vì trẻ nhỏ, Lý Lan kể những câu chuyện cổ tích hiện
đại cho các em nghe nhằm truyền tải những tâm tình, những bài học sâu sắc
cho trẻ thơ. Tuy đối tượng là trẻ em, nhưng cách viết của Lý Lan chứng tỏ
tác giả là một người viết cẩn trọng và có trách nhiệm. Nhà văn Sơn Nam
từng nhận xét về Lý Lan: “Tôi nhớ lần đầu tiên đã ngạc nhiên khi thấy diễn
tả buổi sáng con cào nhảy ra sân cỏ tập thể dục, chuyện dành cho trẻ thơ
18

nhưng người lớn đọc rất thích” [69; 4]. Vì nhà văn nhất quán trong cách
viết, chọn những đề tài bình dị nhưng luôn ẩn chứa sự quan tâm sâu sắc đến
bạn đọc nhỏ tuổi. Đầm chìa vôi, Người xanh l cây, Tự nhiên buồn là
những truyện được thiếu nhi yêu thích.
Tập truyện thiếu nhi đầu tay của Lý Lan Ngôi nhà trong cỏ (Nxb Kim
Đồng, Hà Nội, 1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà Văn
Việt Nam. Gần đây, Nxb Văn học và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông
Tây đã cho tái bản tập truyện. 30 câu chuyện nhỏ xinh gói ghém trong cuốn
sách chỉ ngót 100 trang không khiến cho người đọc cảm giác “đọc nhanh
quá” hay “ngắn quá” mà ở mỗi truyện ngắn, hay chỉ là một mẩu nhỏ của tập
sách đều mang một bài học đạo đức nhỏ vốn rất cần thiết cho lứa tuổi thiếu
nhi còn phải học hỏi thật nhiều ở cuộc đời để hoàn thiện mình. Đọc cuốn
sách nhỏ này, bạn đọc nhỏ tuổi thích tìm hiểu sẽ nhận thấy có một “sàng
khôn” về những kiến thức thiên nhiên: cây cỏ, các loài sinh vật của đồng cỏ,
gió mưa, bốn mùa… Tác giả thổi vào mỗi thứ một linh hồn khiến cỏ cây, kỳ
nhông, cào cào, dế than, nhái bén hay búp bê, chó mèo, mầm cây, lá non
đều trở nên sống động và có tính cách rất riêng. Đôi khi chúng ta cũng bắt

Trong khá nhiều những câu chuyện nhỏ của mình, tác giả Lý Lan dành
cho khoảnh khắc đáng yêu nhất của lứa tuổi nhi đồng đang học đếm số,
những trò như “chơi năm mười”, “chơi hầu cua”, “cá sấu lên bờ”…. Những
trò chơi này có thể nhiều nơi kể cả những miền quê cũng không còn nữa. Đó
chỉ còn là những ký ức đẹp về một thời khi siêu nhân và game online chưa
phổ biến trong cuộc sống sinh hoạt của trẻ em nông thôn. Về điều này phải
kể đến những truyện như Chơi năm mười, Cô gio em, Con rùa lật ngửa,
Gà trống làm gì. Hp bnh tây. Búp bê ca Ti, Cu Búp vẽ tranh, mùa hè
giày đi đâu…
Câu chuyện mà theo lời tác giả thì “định giữ lại cho riêng mình, chép
trong một quyển vở đẹp, để dành khi nào thích ai lắm mới kể cho nghe”,
cuối cùng đã được kể cho một chú thằn lằn đen, vào một đêm khuya. Chỉ vì
một lý do đơn giản: Con thằn lằn đen đang buồn. Chỉ bằng 6 dòng mở đầu
20

tập sách, Lý Lan đã để lại một thông điệp: Hãy biết chia sẻ với những người
xung quanh .Cho dù "tôi" là ai, là tác giả Lý Lan nổi tiếng hay người mẹ
đang kể chuyện cho bé nghe, là một cô bé đang ngồi bên cửa sổ dán mắt vào
cuốn sách này cũng đều đúng cả. Bởi thế giới của ai không có những con
thằn lằn bí mật, củ tỏi củ hành, hạt tiêu ớt đỏ. Quần áo của ai chẳng kêu lên
khi gián lỡ chân mà mất vệ sinh Những mẩu đối thoại đáng yêu nhưng đầy
thú vị bên trong một thế giới khác, ngay cận kề chúng ta cũng rất sinh động
và đáng yêu. "Tôi" vô tình được nghe, vô tình được dẫn dắt vào cuộc phiêu
lưu nơi góc nhà, hộc bàn, ngăn chạn bếp Với tài kể chuyện duyên dáng, Lý
Lan đã dẫn dắt độc giả nhỏ tuổi vào những cuộc phiêu lưu thú vị, nơi mỗi
góc nhà, hộc bàn đều trở thành đối tượng để khám phá. Bí mật giữa tôi và
thằn lằn đen chính là những bài học nâng niu cuộc sống mà tác giả đã truyền
đạt nhẹ nhàng qua những câu chuyện hồn nhiên góp nhặt. Từ những lời mẹ
dạy con “Mẹ sanh con ra cho bầu trời xanh vô tận. Mẹ sanh con ra để đương
đầu với dông tố phũ phàng. Mẹ sanh con ra với năm tháng vô cùng, chỉ bất

+B GUf: là một thể của ký thiên về tự sự, thường ghi chép các sự
kiện, hay kể lại một câu chuyện khi nó mới xảy ra.
)BA/^.8Uf: là một thể ký nổi bật bằng những sự thật xác thực, dồi
dào và nóng hổi, không chỉ đưa tin mà còn dựng lại hiện trường cho mọi
người quan sát, đánh giá, do đó nó nghiêng hẳn về phía tự sự, miêu tả, tái
hiện sự thật. Ở phương Tây đề ra công thức 5W cho phóng sự (What: cái gì
đã xảy ra, Where: xảy ra ở đâu, When: xảy ra khi nào, Who: xảy ra với ai,
Why: tại sao lại xảy ra).
KB/a4>G: là một thể loại ký mang tính chất riêng tư, đời thường
nhiều nhất. Nếu hầu hết các tác phẩm văn học là để giao lưu với người khác,
thì nhật ký lại chỉ để giao lưu với chính mình. Là ghi chép của cá nhân về sự
kiện có thật đã, đang và tiếp tục diễn ra theo thời gian, nhật ký thường bao
gồm cả những đoạn trữ tình ngoại đề và những suy nghĩ có tính chất chủ
quan về sự kiện. Một nhật ký có phẩm chất văn học khi nó thể hiện được
22

một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình cá nhân tác giả giúp
người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại.
,Bg2>G: những ghi chép có tính chất suy tưởng của cá nhân về quá
khứ, một dạng gần như tự truyện của tác giả. Hồi ký cung cấp những tư liệu
của quá khứ mà đương thời tác giả chưa có điều kiện nói được. Khác với
nhật ký, do đặc thù thời gian đã lùi xa, sự kiện trong hồi ký có thể bị nhớ
nhầm hoặc tưởng tượng thêm mà người viết không tự biết.
ZB_4>G: là một thể của ký, nằm trung gian giữa ký sự và tùy bút.
Bút ký thiên về ghi lại một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường
trong các chuyến đi. Bút ký tái hiện con người và sự việc một cách phong
phú, sinh động, nhưng qua đó biểu hiện khá trực tiếp khuynh hướng cảm
nghĩ của tác giả, có màu sắc trữ tình. Kết hợp linh hoạt các phương thức
nghị luận, tự sự, trữ tình nhưng tùy theo độ đậm nhạt khác nhau của các
phương thức mà ta có bút ký chính luận, bút ký tùy bút v.v

Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long chia toàn bộ thư tịch thành "văn" và
"bút", trong đó văn là "vận văn", còn bút là tản văn. Trong văn học cổ các
áng văn xuôi không viết theo văn biền ngẫu như kinh, truyện, sử, tập, biểu,
chiếu, cáo, hịch, phú, minh, luận đều là tản văn. Theo nghĩa hẹp, tản văn là
tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm xúc, giàu khả năng khơi gọi với kết cấu có
sự kết hợp linh hoạt tất cả các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ
thuật, nội dung thường thể hiện đời sống theo kiểu chấm phá và đặc trưng
quan trọng nhất là nó thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của người cầm bút.
Ngoài những thể ký phổ biến nói trên, trong thực tế còn có nhiều thể
ký khác, và trong mỗi thể nói trên cũng có thể bao gồm nhiều tiểu thể loại.
Ranh giới giữa các thể loại ký nói trên cũng không tuyệt đối, luôn có tình
trạng chuyển hóa, thâm nhập lẫn nhau. Trong Người bạn đọc ấy
[2]
, Tô Hoài
nhận xét: Trước kia từ điển văn học phân chia: phóng sự thì chỉ trình bày sự
việc, bút ký thì có những lời bình phẩm của người viết. Bây giờ ta có thể
đọc một bài bút ký trong đó không thiếu những đoạn viết theo lối phóng sự,
lẫn hồi ký, có khi cả thể truyện ngắn. Mà ai dám đánh cuộc: bút ký bây giờ
không bằng ngày trước?". Chỉ trong những cuốn sách lý luận và sách giáo
24

khoa các nhà nghiên cứu mới phân chia thể tài một cách chính xác, trong khi
thực tế văn học luôn diễn ra những yếu tố ngoại biên, mờ nhòe, đặc biệt với
những tác giả văn học có năng khiếu đặc biệt và sự linh hoạt cao độ khi cầm
bút… Còn có rất nhiều những khái niệm khác về thể loại Ký. Tuy nhiên có
thể thấy giữa các ý kiến có những điểm gặp gỡ. Có thể thấy những thể ký
văn học là những hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi, với nhiều
dạng khác nhau: tường thuật, miêu tả, bình luận về những sự kiện và con
người có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc tôn trọng tính xác thực và chú
ý đến tính thời sự của đối tượng miêu tả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status