NGUYỄN THỊ ĐIỆP DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM - Pdf 28

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN THỊ ĐIỆP
DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60 22 34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Phó Giáo sư - Tiến sĩ TRẦN HỮU TÁ
CẦN THƠ 2009
Lời cảm ơn
Sau ba năm học, đến thời điểm hiện tại tôi đã hoàn thành chương
trình Cao học ngành Văn học Việt Nam dưới mái trường Đại học Cần Thơ
nhờ sự giúp đỡ, động viên chân thành của rất nhiều thầy cô, gia đình và
bạn bè; sự tạo điều kiện thuận lợi của trường THPT Nguyễn Hùng Sơn,
Rạch Giá, Kiên Giang - nơi tôi đang công tác. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn
chân thành đến tất cả.
Đồng thời tôi xin đặc biệt gửi lời tri ân đến cố nhà văn Sơn Nam,
người đã tạo ra những tác phẩm và mang đến cho tôi một tình yêu, một sự
say mê đối với mảnh đất, con người và văn học Nam Bộ.
Luận văn “Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn
Nam” là ý tưởng mà tiến sĩ Huỳnh Công Tín đã bồi đắp cho tôi ngay từ
những ngày học đầu tiên. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Huỳnh
Công Tín.
Cuối cùng, thật may mắn cho cá nhân tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt
tình, nghiêm túc, nghiêm khắc và rất khoa học của Phó Giáo sư, Tiến Sĩ
Trần Hữu Tá. Nhờ đó, tôi đã học được cách thức làm việc cẩn trọng, khoa
học và có trách nhiệm. Tôi xin gửi đến thầy Trần Hữu Tá lời cám ơn chân
thành và lời chúc sức khỏe.

2.1.1 Cảnh thiên nhiên trong truyện ngắn Sơn Nam ……………………..….32
2.1.1.1 Thiên nhiên đậm chất hoang sơ, dữ dội .….…….…………………....32
2.1.1.2 Thiên nhiên gần gũi, hiền hòa, gắn bó với cuộc sống của con người
………………………………………………………………………………..37
2.1.2 Cảnh xã hội trong truyện ngắn Sơn Nam …………………………...…41
2.2 Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam ………………………...…49
2.2.1 Hoàn cảnh sống của con người Nam Bộ …………………………...…49
2.2.2 Đặc điểm về con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam ….…..…51
2.2.2.1 Mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên ……………….…51
2.2.2.2 Mối quan hệ giữa con người với xã hội ………………………….…61 4
a. Trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng ……………...…62
b. Trong mối quan hệ giữa con người với con người ……...……….....66
Chương 3:
DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ QUA NGHỆ THUẬT
CỦA TRUYỆN NGẮN SƠN NAM
3.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu……………………….…………….……...……73
3.1.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện …………………………….…………74
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng kết cấu …………………...……………..………84
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật ……………………………………………….90
3.2.1 Thế giới nhân vật phong phú và đa dạng …………………...…………90
3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua yếu tố ngôn ngữ……………..……96
3.2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua yếu tố ngoại hình …………..……101
3.2.4 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật ………………………...……104
3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ …………………………...…………………111
3.3.1 Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam ……………...…...111
3.3.2 Vài nét về cách sử dụng thành ngữ …………………………………..119
3.3.4 Hiện tượng giọng kể chuyện mang đậm sắc thái dân gian Nam Bộ …122
KẾT LUẬN …………………………………………………………………….…127
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………...…131
PHỤ LỤC

hiểu mảng văn học ở vùng đất này. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án thạc sĩ,
luận án tiến sĩ đã có những đóng góp đáng kể. Đó là một hiện tượng đáng mừng và đáng
được ghi nhận.
Tuy không sinh ra ở mảnh đất này, nhưng lớn lên, đã và đang gắn bó trực tiếp với nơi đây
vì vậy được tìm hiểu về văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam là điều thực sự có
giá trị đối với riêng cá nhân tôi. Với ý thức xác định như vậy và với một sự yêu mến kính
trọng sự nghiệp và con người nhà văn Sơn Nam - nhà Nam bộ học, chúng tôi lấy làm thích
thú khi được tìm hiểu, nghiên cứu ở góc độ văn hóa về một mảng nhỏ trong sự nghiệp sáng
tác của ông. Đó là truyện ngắn của Sơn Nam trên phương diện in đậm những nét đặc trưng
về văn hóa Nam Bộ. Trong sự nghiệp của nhà văn, nhà biên khảo Sơn Nam, nhiều nhà
nghiên cứu đã ghi nhận những sáng tác trong khoảng thời gian 20 năm từ 1954 - 1975.
Mảng truyện ngắn là những sáng tác thể hiện được đầy đủ nhất về mảnh đất và con người
Nam Bộ, đồng thời cũng nêu bật lên được giá trị ngòi bút Sơn Nam với tư cách là một
nhà văn.
Ngòi bút Sơn Nam, cuộc đời nhà văn Sơn Nam là sự kết nối những am hiểu sâu rộng từ
những chuyến đi du khảo trong thực tế, những nghiên cứu dưới dạng “điền dã” rồi trở
thành triết lý về văn hóa con người, vùng đất Nam Bộ. Có thể nói những trang viết của Sơn
Nam chứa một dung lượng ngồn ngộn về cuộc sống, về cảnh vật về con người Nam Bộ. Từ
những trang viết ấy, người đọc cảm nhận được tấm chân tình của một nhà văn, của một
người con Nam Bộ như ông đã tâm sự trong một lần trò truyện với phóng viên báo điện tử
Vietnamnet: “Lịch sử Nam Bộ là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực. Ý
thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi. Đời ông nội rồi đời cha tôi lo khẩn hoang
mở đất, nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và là sở trường
của tôi”. Nhiều sáng tác của Sơn Nam đã để lại những giá trị về mặt lịch sử, điạ lý, văn
hóa, xã hội của vùng đất Nam Bộ. Vì vậy nhà văn Sơn Nam được gọi là nhà văn hóa, nhà
Nam Bộ học, hay dân dã hơn là “ông già Nam Bộ” với tất cả lòng kính trọng và yêu quý
của nhiều độc giả, nhà nghiên cứu hay các đồng nghiệp. Từ sự nghiệp của Sơn Nam,
người đọc nhận ra vẻ đẹp của con người Nam Bộ trong cuộc sống, thấy được tấm
lòng của một con người, một nhà văn luôn yêu mến và có ý thức giữ gìn những giá trị tốt
đẹp ấy.

một số luận văn, luận án nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Sơn Nam.
Ngay từ năm 1986, đã có những nhà nghiên cứu chú ý đến truyện ngắn của Sơn
Nam. Khi Nhà xuất bản Trẻ cho ra đời tập sách Hương rừng Cà Mau tập 1, Viễn
Phương, người đầu tiên viết lời tựa cho quyển sách này, nhận định đây là một cây bút
viết truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi Nam Bộ thế kỷ XX và tin tưởng vào sức sống và
giá trị của tập truyện ngắn này. Hơn 20 năm qua, niềm tin của nhà văn Viễn Phương vẫn
còn nguyên giá trị. Cùng năm này, trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, tác giả Hồ Sĩ Hiệp
với bài viết “Vài nét về văn xuôi kháng chiến Nam Bộ” cũng quan tâm và đánh giá cao
những tác phẩm đầu tay của Sơn Nam như Bên rừng cù lao Dung, Tây đầu đỏ, Cây đàn
miền Bắc.
Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyên An trong công trình
Tác gia văn học Việt Nam (NXB Giáo dục, 1992, tập 3) đã dành một vị trí cho nhà văn
Sơn Nam với nhận định Hương rừng Cà Mau là tác phẩm tiêu biểu nhất, đặc sắc nhất
của Sơn Nam và ông xứng đáng là một nhà văn, nhà khảo cứu về mảnh đất cực Nam tổ
quốc của chúng ta. 8
Năm 1994, xuất hiện tập tiểu luận Phê bình, bình luận văn học, NXB Văn nghệ
Tp.HCM do tác giả Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn và giới thiệu. Công trình nhỏ này xoay
quanh các tác phẩm tiêu biểu của ba tác giả Nam Bộ: Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng và
Sơn Nam. Trong đó, phần về Sơn Nam có hai bài một của Viễn Phương như đã giới
thiệu ở trên, một của tác giả Ngân Hà với nhan đề “Gợi ý phân tích giảng văn Bắt sấu
rừng U Minh Hạ”. Năm 1995, khi Bộ giáo dục chủ trương tiến hành phân ban ở cấp phổ
thông trung học, Bắt sấu rừng U Minh Hạ đã được chính thức đưa vào giảng dạy trong
sách giáo khoa 12 ban Khoa học Xã hội, ở ban Tự nhiên được giới thiệu dưới dạng bài
đọc thêm trong sách lớp 11. Qua những tư liệu này, chúng ta thấy được vào đầu những
năm 90, truyện ngắn của Sơn Nam đã được các nhà nghiên cứu, người làm sách giới
thiệu đến bạn đọc như một món ăn tinh thần đặc sản của vùng sông nước Nam Bộ.
Vào thời điểm cuối những năm 1990, cụ thể từ 1997 - 1999 xuất hiện rất nhiều bài
viết, bài nghiên cứu về đất và người Nam Bộ nhân dịp kỷ niệm 300 năm Sài Gòn –
Thành phố Hồ Chí Minh. Với tư cách là nhà Nam Bộ học, những sáng tác, biên khảo
của Sơn Nam đã được nhiều người chú ý đến. Trong tập sách Bình văn của nhóm tác

dáng vẻ và hương sắc riêng” [72, 72]
Trong một vài năm trở lại đây, một số trường đại học ở khu vực phía Nam cũng đã
chú ý đến Sơn Nam và sáng tác của ông. Trong đó có: “Thiên nhiên và con người Nam
Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam”- luận văn cử nhân Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996, tác giả Đoàn Trần Ái Thy khảo sát những đặc điểm
về thiên nhiên và con người trong truyện ngắn Sơn Nam và dừng lại ở góc độ phân tích,
nhận định và tổng hợp vấn đề trên nội dung văn bản. “Từ ngữ trong tập truyện ngắn
Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam”- luận văn cử nhân Ngữ văn Đại học Cần Thơ
năm 2005, tác giả Đinh Ngọc Quyên khảo sát các phương diện khác nhau về mặt từ ngữ
trong tập truyện ngắn này và liệt kê, phân tích một vài nét đặc sắc.
Năm 2003, Lê Thị Thùy Trang trong luận văn cao học đã tìm hiểu “Đặc điểm truyện
ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 – 1975”. Công trình này đã có những đóng góp đáng kể
trong việc khảo sát những cảm hứng chính và những đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai
đoạn 1954 - 1975. Năm 2004, có luận văn cao học “Văn hóa và con người Nam Bộ
trong truyện của Sơn Nam” của Đinh Thị Thanh Thủy, ĐHSP Tp.HCM. Tác giả luận
văn đã có công trong việc sưu tầm những truyện ngắn của Sơn Nam được đăng rải rác
trên các tạp chí và những truyện đã được tập hợp lại thành sách. Đinh Thị Thanh Thủy
khai thác hai mảng văn hóa và con người Nam Bộ trên nền truyện của nhà văn Sơn Nam
bao gồm truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài và cả tiểu thuyết. Luận văn trên ở một góc
độ nào đó đã giúp cho chúng ta thấy được cái nhìn toàn cảnh về sáng tác văn học của Sơn
Nam. Cùng năm 2004, còn có luận văn cao học Đặc trưng truyện ngắn Sơn Nam của 10
Trần Phỏng Diều, Đại học KHXH và NV TP.HCM. Công trình này đã góp phần làm sáng
tỏ đặc trưng truyện ngắn Sơn Nam trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Qua
đây, chúng tôi nhận thấy trong các sáng tác của nhà văn Sơn Nam, truyện ngắn được xem
là thế mạnh vì thế khi tìm hiểu đương nhiên người ta không thể bỏ qua thể loại tiêu biểu
này.
Năm 2007, trong công trình Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp – thể loại,
NXB Giáo dục, Đà Nẵng, nhà nghiên cứu văn học Phan Cự Đệ đã khảo sát những đặc
trưng và thi pháp truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong đó có truyện ngắn của Sơn Nam.
Tác giả nhận định Sơn Nam “là nhà văn, nhà biên khảo tâm huyết về vùng đất và con

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Người đọc biết đến Sơn Nam ở cả hai mảng sáng tác và biên khảo, với hơn 60 đầu
sách đã được xuất bản, ông xứng đáng là một hiện tượng của văn học Nam Bộ, một nhà
văn điển hình của văn phong Nam Bộ. Riêng ở mảng sáng tác, Sơn Nam là một cây bút
khá đa dạng với nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, hồi
ký. Toàn bộ sáng tác của Sơn Nam đều viết về đất và người Nam Bộ ở nhiều phương
diện khác nhau. Trong đó truyện ngắn được nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình, độc
giả trong và ngoài nước chú ý khen ngợi. Và thực sự đây là thế mạnh của nhà văn miệt
vườn này.
Đối tượng khảo sát trực tiếp của luận văn là những sáng tác thuộc thể loại truyện
ngắn bao gồm 85 truyện, trong đó 66 truyện nằm trong tuyển tập Hương rừng Cà Mau
và 19 truyện ngắn nằm trong tập Biền cỏ Miền Tây. Đây là hai tập truyện có sự gần gũi
nhau về đề tài sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung cũng như nghệ thuật. Theo
sự khẳng định của Sơn Nam trong tập hồi ký Từ U Minh đến Cần Thơ, ông đã sáng tác
khoảng 300 truyện ngắn. Trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi chỉ khảo sát
trên
những tác phẩm đã in trong hai tập sách trên. Bên cạnh đó, toàn bộ những sáng tác của
Sơn Nam đều có giá trị hỗ trợ, bổ sung, làm rõ vấn đề đang nghiên cứu. Điều này xét
cho cùng là vì dù biên khảo hay sáng tác và dù sáng tác với thể loại nào thì nội dung bao
trùm lên toàn bộ sự nghiệp của Sơn Nam cũng thống nhất với những tên gọi mà người
ta đặt ra hoặc tôn vinh tên tuổi tác giả - một nhà văn, nhà văn hóa Nam Bộ tiêu biểu.
Trên cơ sở phạm vi giới hạn của tư liệu như trên, chúng tôi tìm hiểu vấn đề trên
phương diện dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam. Đây chỉ là một
phần trong những đóng góp của Sơn Nam trong việc dựng lên bức tranh toàn cảnh Nam
Bộ, nhưng có thể nói đây chính là phần trọng yếu và là tâm điểm của bức tranh ấy. Qua
đó nhằm khẳng định giá trị truyện ngắn Sơn Nam từ góc độ văn hóa, khẳng định tên 12
tuổi của nhà văn Nam Bộ tiêu biểu này. Đó là mong muốn cũng là mục tiêu mà người
viết đặt ra cho luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn có sự kết hợp của nhiều phương pháp:

tác giả thể hiện trên nhiều góc độ với tư cách là người sinh ra, lớn lên, sống trên mảnh
đất này, là người luôn mang bên mình ý thức tìm về với lịch sử khai khẩn Nam Bộ như
có lần nhà văn Sơn Nam đã tâm sự. Và nhiệm vụ của luận văn này là làm rõ được điều
đó.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và các bảng phụ lục, luận
văn gồm ba chương chính:

Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ
1.1 Một số vấn đề về văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
1.2 Đặc điểm về văn hóa Nam Bộ
1.2.1 Nền tảng địa - văn hóa Nam Bộ
1.2.2 Một số nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ
1.3 Nhà văn Sơn Nam với vùng đất Nam Bộ
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp
1.3.2 Ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Sơn Nam

Chương 2:
DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ QUA CẢNH VÀ NGƯỜI
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM
2.1 Cảnh Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
2.1.1 Cảnh thiên nhiên trong truyện ngắn Sơn Nam
2.1.1.1 Thiên nhiên đậm chất hoang sơ, dữ dội
2.1.1.2 Thiên nhiên gần gũi, hiền hòa, gắn bó với cuộc sống của con người 14
2.1.2 Cảnh xã hội trong truyện ngắn Sơn Nam
2.2 Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
2.2.1 Hoàn cảnh sống của con người Nam Bộ

Với tính chất như vậy khó có định nghĩa nào bao quát đầy đủ nội hàm của nó. Theo số liệu
thống kê chưa đầy đủ, đến thời điểm hiện nay có khoảng 500 định nghĩa về thuật ngữ văn
hóa. Vì vậy để tìm ra một khái niệm duy nhất đúng là điều không tưởng, tuy nhiên chúng
ta
vẫn có thể tìm ra những định nghĩa chứa đựng những hạt nhân hợp lý, phù hợp với mục
đích nghiên cứu của mình. Điều đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của đối tượng khi tìm
hiểu vấn đề.
Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng, có mặt thấm
sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người, vì thế có rất nhiều định nghĩa,
cách hiểu cũng như cách khai thác khác nhau về văn hóa. Trong quá trình đi tìm định nghĩa
và nội hàm của văn hóa, đã có những tìm tòi khoa học có giá trị sâu sắc, tiếp sức nhau đạt
tới những nhận thức ngày càng hoàn chỉnh hơn của con người về một lĩnh vực rất độc đáo
do chính con người và chỉ có con người sáng tạo nên.
Sau nhiều năm tìm tòi theo các hướng, các cách tiếp cận khác nhau, đến những năm
70 của thế kỷ XX, cách hiểu phổ biến và gặp nhau nhiều nhất là ở quan niệm coi văn hóa
bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi
hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động. Tiếp đó vào
năm 1982, tại Hội nghị thế giới về các chính sách văn hóa đã thông qua tuyên bố: “Theo
nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn,
vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ
bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ
thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng [10, 264]. Như vậy, theo nghĩa vừa rộng lớn vừa
bản chất, văn hóa là toàn bộ hoạt động tinh thần - sáng tạo, tác động vào tự nhiên, xã hội

con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn để vươn tới sự
hoàn thiện theo khát vọng chân, thiện, mỹ và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát
triển
không ngừng của đời sống xã hội. Đó cũng chính là quan điểm của các nhà văn hóa lớn
Việt Nam như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu.
Khi đặt văn hóa trong một giai đoạn cụ thể của đời sống xã hội và nhìn đời sống ấy

thể nhận thấy vai trò lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa của dân tộc. Chính các sáng
tác văn học đã thể hiện được điều đó và chính các nhà văn, nhà thơ là người giúp cho
người
đọc thấy được điều này qua cảm quan nghệ sĩ của chính mình. Một tác phẩm văn học có
giá
trị luôn chứa đựng bên trong những giá trị đích thực về chính nền văn hóa của quê hương
đất nước mình ở một phương diện cụ thể nào đó.
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Có những quan niệm khác nhau về bản chất, chức năng của văn học, và có những
cách thức khác nhau trong sáng tạo và khám phá văn học, tùy theo hoàn cảnh, mục đích,
trình độ, khuynh hướng nhận thức và hoạt động của con người trong lĩnh vực này. Văn học
có lúc được coi là tiếng nói của con người, có lúc được xác định là một hình thái ý
thức, 17
một công cụ nhận thức, phản ánh, miêu tả thực tại, là hình ảnh, bức tranh của đời sống; rồi
có lúc văn học lại được định danh là một loại hình nghệ thuật đặc biệt dùng ngôn từ làm
phương tiện biểu đạt, là nghệ thuật ngôn từ,… Do đó mà các tác phẩm, cũng như các công
trình nghiên cứu văn chương, được thực hiện theo những hướng và những phương pháp
khác nhau kéo theo ý nghĩa và giá trị cũng có nhiều mức độ. Sự khác biệt này do hàng loạt
yếu tố khách quan và chủ quan quy định nhưng có thể nói một cách khái quát rằng do tác
động của môi trường sống, của thời đại khúc xạ qua lăng kính của từng cá nhân người sáng
tác hay nghiên cứu. Xác định mối quan hệ giữa văn hóa với văn học là một việc làm cần
thiết để đánh giá được sự tác động, bổ sung lẫn nhau giữa hai lĩnh vực vốn có mối liên
quan
mật thiết này.
Nói đến vị trí của văn học trong văn hóa là nói đến hai mặt của một vấn đề. Thứ
nhất, bản thân văn học là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết
định của văn hóa. Thứ hai, là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học; sự tác động
trở
lại của văn học đối với văn hóa [83, 100].
Về mối quan hệ của văn hóa và văn học, cần nhận thấy rằng đối với nước ta văn học

Văn Hạnh xem văn hóa như là “nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương, văn học là
một hình thái đặc biệt của văn hóa, thuộc về ý thức” [23, 26]. “Văn học không chỉ lưu giữ
văn hóa, mà còn là một bộ phận - nếu không nói là nòng cốt - của văn hóa, sáng tạo ra văn
hóa” [58, 12].
Văn học là một hình thái ý thức thuộc nghệ thuật ngôn ngữ, tức là văn học ở trong
văn hóa nghệ thuật. “Nếu vấn đề cốt lõi của văn hóa thể hiện ở các lực lượng bản
chất
người mang tính nhân văn thì văn học chính là hình thái bộc lộ bản chất người rõ nhất, là
nội dung mang tính nhân văn rõ nhất” [58, 11]. Như vậy, có thể khẳng định một nền văn
hóa được xem là tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trước hết phải có nền văn học nghệ
thuật
phản ánh được hiện thực của dân tộc ấy, biểu hiện được truyền thống lịch sử của dân tộc
ấy
và nhất là sáng tạo được những tác phẩm văn học giàu tính nhân văn. Và chính văn học sẽ
phát huy sức mạnh, sở trường của nó vào việc tô thắm các giá trị văn hóa.
Việc xác định mối quan hệ giữa văn hóa và văn học đã được các nhà nghiên cứu
văn hóa và văn học ở nước ta quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, để nhìn nhận vấn đề một
cách có hệ thống và quy mô rộng lớn phải đề cập đến hội thảo khoa học “Văn hóa - mối
quan hệ giữa văn hóa và văn học” đã được Viện văn học đứng ra tổ chức tại Hà Nội vào
ngày 04/06/1998. Hội thảo đã đạt được những kết quả tốt đẹp trong việc xác định vai trò,
vị
trí của văn học trong văn hóa, về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa qua đó nhấn mạnh
vào mục tiêu xây dựng một nền văn hóa mới đậm đà bản sắc dân tộc.
Phương diện văn hóa của văn học ngày càng được quan tâm bởi giữa văn hóa và văn
học có mối liên hệ hết sức mật thiết. Văn học phản ánh đời sống, thực chất là phản
ánh
phương diện văn hóa của đời sống. Văn học phán đoán về hiện thực, thực chất cũng là một
phán đoán văn hóa. Văn hóa là phương diện còn lại lâu dài của tác phẩm, tác giả và cả giai
đoạn văn học. Văn hóa là một phương diện bên trong qui định hành vi, suy nghĩ, cảm nhận
của con người trong từng thời kỳ. Nó bao gồm mọi phương diện văn hóa cụ thể như chính

cao
một chiều, tuyệt đối hóa mặt hình thức kỹ thuật của văn chương, đôi lúc biến văn chương
thành một trò chơi chữ cầu kỳ, trống rỗng.
1.2 Đặc điểm về văn hóa Nam Bộ
1.2.1 Nền tảng địa - văn hóa Nam Bộ
Nền tảng địa - văn hóa của một vùng là khái niệm liên quan trực tiếp đến những vấn
đề về văn hóa và địa lý. “Theo nghĩa hẹp, địa - văn hóa là sự nhìn nhận văn hóa trong mối
quan hệ biện chứng với các yếu tố địa lý, nghĩa là căn cứ trực tiếp vào ý nghĩa của chính
cụm từ này. Theo nghĩa rộng, đó là cách xem xét văn hóa như là một sản phẩm do ý thức
chủ quan của con người sáng tạo ra nhưng đồng thời, đó cũng vừa là những kết quả của
20
nhân tố khách quan do các quy luật của tự nhiên tương tác vào” [98, 197]. Như vậy, khi
nghiên cứu nền tảng địa - văn hóa, cần đặt sinh thái tự nhiên và xã hội tại chỗ trong quan
hệ
tổng hợp với toàn vùng, tìm ra cái riêng trong cái chung, từ đó có thể nhận ra những quy
luật đã, đang và sẽ chi phối sự phát triển của văn hóa địa phương ấy.
Nam Bộ vốn bao gồm hai vùng đất có nét riêng rõ rệt. Đông Nam bộ là vùng đồi núi
thấp với những thềm phù sa cổ. Nơi đây được nhìn nhận như diềm phía nam của đai khối
cao Tây Nguyên, từ đó các dòng Đa Nhim, Đa Dung hợp lưu lại thành sông lớn Đồng Nai,
tiếp nước của La Ngà rồi vượt qua Trị An tới gặp Sông Bé, sông Sài Gòn để đổ ra cửa
Lòng
Tàu. Và Tây Nam bộ tức đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất tiếp nối địa hình bán sơn
địa ấy với một đồng bằng châu thổ phẳng và thấp. Đây là sản phẩm bồi tụ của sông Mê
Kông, con sông dài nhất, nhiều nước và nhiều phù sa nhất Đông Nam Á trên một khuôn
vịnh nông kéo dài từ bồn địa Tông-lê-sáp của Campuchia tới khu vực đồng bằng Sông
Tiền
và sông Hậu [06, 12]. Những cứ liệu về mặt địa lý trên giúp chúng ta xác định vấn đề cụ
thể
về địa - văn hóa Nam Bộ ở đây chính là nói về khu vực Tây Nam bộ (chúng tôi gọi tắt là
Nam Bộ).

học dân gian đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày nay, khu vực này bao gồm mười hai tỉnh và một thành phố. Đồng bằng sông
Cửu Long có đặc điểm địa hình là một châu thổ thấp, bằng phẳng, là sản phẩm bồi tụ của
sông Mê Kông, và là nơi có cửa sông giáp biển nên việc bồi tụ này vẫn diễn ra hàng năm.
Đây là nơi sở hữu một hệ thống kinh rạch chằng chịt với hơn “2500 km sông rạch tự nhiên
và 2500 km sông rạch đào” [06, 14] vì thế đặc điểm nổi bật của văn hóa đồng bằng sông
Cửu Long là văn hóa sông nước, kênh rạch. Điều này được thể hiện qua nền nông nghiệp
lúa nước, tập quán khai thác đánh bắt thủy sản, việc giao thông đi lại đến các lễ hội về
nước
và đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp có liên quan đến sông nước.
Là một vùng văn hóa có tuổi đời trẻ nhất cả nước, văn hóa đồng bằng sông Cửu
Long dù đã được hình thành trong một thời gian dài nhưng vẫn đang ngày được định hình
rõ nét hơn. Nó góp phần tô thắm bức tranh văn hóa đa sắc của đất nước ta nhưng vẫn giữ
được những nét đặc sắc cho riêng mình.
1.2.2 Một số nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ
Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh chia đất nước ta thành 7 vùng văn hóa,
trong đó văn hóa Nam Bộ là vùng thứ bảy và có những đặc điểm của một vùng đất mới.
Việc phân vùng văn hóa được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa văn hóa lịch sử và địa
lý của một vùng và gọi tắt là vùng văn hóa. “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ, có những
tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu có mối quan hệ nguồn gốc
và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã trải qua
các mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại mật thiết, nên từ lâu đã hình thành
những sắc thái văn hóa chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh
thần, có thể phân biệt với những vùng văn hóa khác” [79, 64].
Văn hóa vùng hay văn hóa vùng lãnh thổ được xác định có tính chất liên văn hóa.
Nó cũng chính là văn hóa địa phương, vốn là một thực thể văn hóa, hình thành và tồn
tại
trong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện qua một tập hợp các đặc trưng văn hóa
về
cách thức hoạt động sản xuất; về ăn, mặc, ở, đi lại, vận chuyển; về cách tổ chức xã hội cổ

làm thức ăn cho heo rừng nai, voi… Nai làm mồi cho cọp. Khỉ tha hồ ăn trái cây giữa
rừng,
ven sông. Rừng lâm vồ, sộp, gừa rễ lòng thòng tạo hang động cho cọp sinh sản. Tán lá là
môi trường của nhiều loại chim. Xác thú trôi sông nuôi dưỡng cá tôm. Diều quạ và cá sấu
sinh sản mau trên bãi bùn,… Khó phân biệt đâu là đất bưng, đâu là ao vũng. Bờ biển mơ
hồ
thay đổi hình dạng, cây mắm, cây đước, cây vẹt từ dưới nhô lên. Sông Cửu Long đổ ra
biển
bồi đắp mũi Tây Nam. Mùa mưa nước chảy mạnh, thêm cơn lụt thường niên, cây mé sông
trốc gốc, phù sa tuôn tràn, doi bồi, vịnh lở, có cù lao sụp xuống mất dạng nhưng ở nơi khác
cồn nhỏ lại nhô lên”[46, 16]. Ngày nay, đến với vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú,
màu mỡ ta khó hình dung được thiên nhiên còn đầy vẻ hoang sơ trong buổi đầu khai phá.
Để làm được điều đó phải tìm đến những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, các giai thoại,
23
ca dao dân ca Nam Bộ từ xa xưa truyền lại. Đến với Nam Bộ, những nét vừa quyến rũ vừa
de dọa của thiên nhiên là những mẫu đề chính của truyện cổ và thơ ca dân gian. Sau này,
trong truyện Bác Ba Phi - một loại truyện trạng của văn học Nam Bộ, một món đặc sản
tinh
thần của vùng sông nước thì khung cảnh thiên nhiên giàu có mà hoang sơ vẫn chính là cái
nền, vẫn là dòng chảy chính mang những nỗi niềm tâm sự, những quan hệ giữa con người
với nhau. Và ở thế kỷ XX, Sơn Nam đã tiếp bước truyền thống ấy một cách thành
công
bằng những tác phẩm văn học mang đậm những sắc thái dân gian và hơn hai mươi công
trình khảo cứu có giá trị về đất và người, phong tục tập quán, lịch sử và văn hóa Nam Bộ.
Nam Bộ còn được biết đến là một vùng đất giao hòa của nhiều chủng tộc và văn
hóa.
Những yếu tố văn hóa từ ngoài du nhập vào đồng bằng sông Cửu Long rất rõ nét: văn
hóa Ấn Độ qua người Khmer, văn hóa Trung Quốc qua người Hoa, văn hóa Hồi giáo qua
người Chăm. Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều nguồn gốc địa phương, nhiều tôn giáo
tín

hoạt động nghệ thuật sôi động trong những ngày kết thúc tháng Ramadan, sinh
nhật
Muhammed hoặc trong dịp cưới hỏi thì người Hoa lại góp phần vào đời sống văn hóa Nam
Bộ những câu hát Tiều, hát Quảng,… Những điểm riêng đặc sắc đó của mỗi tộc người
ngày
một phát triển và hội nhập vào nhau, tạo nên nét đặc trưng riêng không thể trộn lẫn của văn
hóa Nam Bộ, tạo nên tính cách chung của người Nam Bộ trọng nghĩa, khinh tài,
phóng
khoáng và hiếu khách,…
Và vượt lên trên tất cả, từ rất sớm các cộng đồng dân cư Nam Bộ đã có truyền thống
đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, không phân biệt người đến trước, người đến sau, không kỳ thị
dân tộc. Truyền thống quý báu này được hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ chung
lưng đấu cật cùng nhau khai phá, phát triển vùng đất Nam Bộ trước đây và trong quá trình
đấu tranh chống áp bức của phong kiến và thực dân sau này. Cũng cần nói thêm rằng, nếu
như nhu cầu khai khẩn vùng đất mới đã tạo điều kiện hình thành sự đoàn kết của cộng
đồng
thì yếu tố làm cho sự đoàn kết đó trở thành một giá trị lâu bền chính là ý thức dân tộc, là tư
tưởng, tình cảm, tâm hồn gắn bó với mảnh đất yêu quý của họ, là yêu cầu của sự sống còn
trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của cả dân tộc.
Nam Bộ là một khu vực bao gồm nhiều dân tộc, cư dân trong vùng theo nhiều tôn giáo,
tín ngưỡng khác nhau, nhưng các cộng đồng ở đây không tồn tại biệt lập theo nhiều không
gian văn hóa tộc người riêng rẽ mà sống xen kẽ nhau trong một đơn vị hành chính. Chính
điều kiện cộng cư này làm cho các dân tộc có điều kiện tiếp xúc với nhau nhiều hơn. Trong
quá trình đó các dân tộc vừa giao lưu vừa tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhau để làm
giàu thêm bản sắc văn hóa vốn có của mình.
Nam Bộ là vùng đất với những sắc thái văn hóa đặc trưng dựa trên những nét cơ
bản:
Thứ nhất, người dân Nam Bộ cơ bản vẫn là những người nông dân, những người
làm ruộng vườn, những việc lao động đồng áng. Như vậy, văn hóa truyền thống của vùng
đất này vẫn là văn hóa, văn minh nông nghiệp. Tuy vậy, nông nghiệp và người dân Nam

Bộ rất dễ nhận thấy, đó chính là bộ bà ba đen và tấm khăn rằn, hình ảnh đặc trưng của
nông
dân Nam Bộ qua nhiều thăng trầm của thời gian đến nay vẫn còn được duy trì, phát huy và
đã có những cách tân đáng kể. Môi trường sinh thái ở đây là sông nước vì vậy kênh rạch,
sông ngòi cũng chính là đường giao thông, là đầu mối giao lưu và thuyền bè chính

phương tiện đi lại, chuyên chở chính yếu, bởi thế từ lâu dân gian Nam Bộ đã có câu “sắm
xuồng để làm chân”.
Ngoài ra, nói tới sắc thái văn hóa Nam Bộ, chúng ta không thể không nói tới ngôn
ngữ - tiếng Nam Bộ. Đó chính là phương ngữ Việt, được hình thành trong quá trình người
Việt đến khai thác đồng bằng Nam Bộ. Nó thu hút vào mình ngôn ngữ của những
con
người từ muôn nơi lưu lạc đến, nhưng đồng thời cũng sản sinh và phản ánh thế giới
tự
nhiên và con người nơi vùng đất mới với bao màu sắc mới mẻ và đa dạng. Người Nam Bộ
cũng để lại sắc thái rất riêng biệt trong cách diễn xướng dân gian theo kiểu nói như nói vè,
26
nói thơ, nói tuồng,… Người ta dễ dàng nhận ra “dấu vết của ngôn ngữ nói trong ngôn ngữ
văn học và ngược lại, ngôn ngữ văn học cũng dường như dễ dàng hơn hòa nhập cuộc đời
thường”[06, 22]. Họ còn được biết đến là những con người yêu thích âm nhạc và ca hát.
Âm nhạc Nam Bộ thể hiện rõ trong dân ca Nam Bộ với các làn điệu lý, hát ru, hò,…và đặc
biệt là sân khấu cải lương, hát bội, đờn ca tài tử. Những sáng tác và biên khảo của Sơn
Nam
đạt được điều này như một đặc điểm truyền thống vốn có của văn học Nam Bộ.
Nói tới sắc thái văn hóa Nam Bộ người ta thường không quên nhắc tới một đặc điểm
đó là tính cách Nam Bộ. Tính cách là một khía cạnh văn hóa ứng xử và để lại dấu ấn rõ rệt
trong mọi mặt đời sống văn hóa. Tính cách Nam Bộ đã từng được người xưa lưu ý tới,
Trịnh Hoài Đức cho rằng người Nam Bộ là người “trọng nghĩa khinh tài”, Lê Quý Đôn thì
xem dân Nam Bộ là dân “dám làm ăn lớn”,… Những người đầu tiên đặt chân đến vùng đất
này có gốc gác từ dân tội đồ, lưu tán, dám bỏ quê hương tới khai thác vùng đất mới với

đất phù sa đều có những điểm khác nhau. Trong ngôn ngữ Việt Nam, phương ngữ Nam Bộ
có nét đặc thù. Cư dân vùng này yêu nước, đoàn kết, kiên cường nhân hậu, giàu lòng nhân
ái.
1.3 Nhà văn Sơn Nam với vùng đất Nam Bộ
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nhà văn Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài sinh năm 1926 tại làng Đông Thái, huyện
An Biên tỉnh Rạch Giá nay là Kiên Giang, mất năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Cuộc đời và sự nghiệp của Sơn Nam gắn liền với vùng đất và con người Nam Bộ.
Quê gốc của Sơn Nam vốn ở Long Xuyên, An Giang, sau đó ông nội nhà văn đưa cả
gia đình đến lập nghiệp tại ven rừng U Minh với bạt ngàn cỏ cây chim muông, phong cảnh
hoang sơ, con người thưa thớt. Đây chính là nơi sinh ra và nuôi ông lớn lên. Đây
cũng
chính là bối cảnh không gian được nhà văn thể hiện trong nhiều sáng tác của mình sau này,
đặc biệt là trong các tập truyện Hương rừng Cà Mau và Biển cỏ Miền Tây.
Sơn Nam vốn xuất thân trong một gia đình nông dân, thủa nhỏ ông học tiểu học ở quê
nhà, lớn lên theo học trường Collège tại Cần Thơ. Đây là thời gian đầu tiên Sơn Nam tiếp
xúc với cuộc sống thị thành và biết đến những vấn đề chính trị xã hội. Sau khi tốt nghiệp
Thành chung năm 1945, Sơn Nam dự định quay về Rạch Giá làm việc thì Cách mạng
tháng
Tám bùng nổ. Ông gia nhập Thanh niên Tiền phong, tham gia cướp chính quyền ở
địa
phương, rồi tiếp tục tham gia kháng chiến Nam Bộ. Tại mặt trận Rạch Giá, Sơn Nam giữ
trọng trách Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Rạch Giá, phó bí thư Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc,
tiếp đó tham gia công tác tại Hội Văn hóa Cứu quốc Tỉnh và về phòng chính trị quân khu
9.
Đến năm 1950, Sơn Nam chuyển qua làm cán bộ văn nghệ thuộc Ban tuyên huấn Xứ ủy
Nam kỳ. Sau Hiệp định Genève, Sơn Nam được phân công trở lại Rạch Giá, tiếp tục hoạt
động văn nghệ và báo chí trong lòng địch. Trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp
gian khổ, ông hoạt động cách mạng ở địa bàn chiến khu IX. Và cũng chính trong thời gian
này, Sơn Nam đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình. Tiêu biểu là sự ra đời của các tập

từ khắp nơi đến đây khai phá lập nghiệp và qua đó dần hình thành nên nếp sống, phong tục
tập quán, văn hóa nơi vùng đất mới. Tập truyện ngắn này ngay từ khi mới ra đời đã được
đánh giá cao và được xem như là mốc định hình phong cách khảo cứu về văn hóa Nam Bộ
-
rất Sơn Nam. Trên đà sáng tác ấy, Sơn Nam cho ra đời những tác phẩm như: Chim quyên
xuống đất (1963), Hình bóng cũ (1964), Hai cõi U Minh và Vọc nước giỡn trăng (1965).
Những tác phẩm này tiếp tục men theo con đường đã định hình của Sơn Nam ngay lúc đầu
– viết về đất và người Nam bộ.
Tên tuổi và uy tín của Sơn Nam ngày càng lan rộng, lôi cuốn nhiều độc giả trong khu
vực. Tuy vậy, chính quyền ngụy bấy giờ cũng tập trung khai thác ông trên danh nghĩa xem
trọng tài năng của những người kháng chiến cũ. Trước tình hình đó, Sơn Nam được Trung
ương Cục đề nghị trở vào vùng kháng chiến nhưng ông đã từ chối và tiếp tục ở lại Sài Gòn.
Với quan điểm “sáng tác văn học là để yêu nước”, Sơn Nam cho rằng dù ở đâu cũng có thể
đánh giặc bằng ngòi bút. Trong thời gian này, ông cho ra đời tập truyện vừa Truyện ngắn
của truyện ngắn, lấy bối cảnh về đất và người Sài Gòn nơi ông đang sống trước sự du nhập
ào ạt của văn minh Mỹ.
Với định hướng ngay từ đầu, Sơn Nam đã tiếp tục sự nghiệp sáng tác và biên khảo của
một con người thật sự có lòng yêu quê hương đất nước. Tập truyện ngắn Biển cỏ miền tây
ra đời như sự tiếp nối vững chắc cho tư tưởng của chính nhà văn trong Hương rừng Cà
29
Mau. Tiểu thuyết Xóm Bàu Láng (1968), Bà Chúa Hòn (1969), Vạch một chân trời (1969)
và các tập khảo cứu Nói về miền Nam (1967), Người Việt Nam có dân tộc tính
không
(1970), Văn minh miệt vườn (1970) đã được ra đời trong khoảng thời gian này. Cây bút
Sơn
Nam đã tự tin vững bước đi vào vùng đất Nam Bộ và để lại những giá trị lâu bền cùng thời
gian. Xuất phát từ cơ sở đó, với vốn kiến thức tích lũy rộng qua nhiều nguồn khác nhau từ
thực tế tìm hiểu trên đường đi chiến khu qua những vùng miền khác nhau và từ những kiến
thức đọc được từ sách vở đầu những năm 70, Sơn Nam đã liên tiếp cho ra đời hàng loạt
những công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa xã hội có giá trị của Nam Bộ như: Miền

vùng đất Nam Bộ, đi từ ngọn nguồn của đường nét văn hóa Nam Bộ bao la để hiểu, để suy
nghĩ cho đúng; từ khi cầm bút đến nay ngoài 80, tôi vẫn không từ bỏ ý định đó, dù hiện giờ
sức khỏe không cho phép”. Đầu những năm 2000, Sơn Nam cho ra đời bộ hồi ký Từ U
Minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu 9, 20 năm giữa lòng đô thị, Bình An. Tác phẩm không chỉ
giúp chúng ta nhìn nhận cuộc đời và sự nghiệp của cá nhân nhà văn từ lúc sinh ra, lớn lên,
rời khỏi đất U Minh cho đến khi đặt chân và định cư tại đất Sài Gòn mà còn thể hiện được
bức tranh lịch sử xã hội Nam Bộ đương thời. Người đọc thấy qua các trang hồi ký ấy một
con người lặng lẽ đi, lặng lẽ ngắm nhìn, quan sát và kể lại. Kiên Giang, Cần Thơ, Sài
Gòn...
những vùng đất hiện lên trên từng trang viết qua tâm tưởng và tình cảm của một người tha
thiết muốn tìm hiểu và khám phá, muốn truyền lại cho thế hệ sau tình yêu đất đai, bờ cõi
của chính quê hương mình. Bên cạnh đó, hồi ký Sơn Nam cũng chính là nguồn tư liệu giúp
chúng ta xác định hoàn cảnh ra đời của nhiều sáng tác quan trọng của ông từ những truyện
ngắn đầu tay cho đến những ghi chép cuối cùng khi đã hơn tám mươi tuổi tại đất Sài Gòn
ồn ào náo nhiệt.
Sự nghiệp của Sơn Nam trải rộng trên nhiều thể loại nhưng có thể nói phong cách Sơn
Nam là phong cách đặc sắc rừng U Minh, nhà văn đã giữ gìn và hoàn thiện trong hơn 60
năm, với hàng loạt sáng tác mà bạn đọc cả nước nhớ, yêu. Trong đó nổi bật lên trên nhiều
mặt vẫn là truyện ngắn Sơn Nam. Ở độ tuổi ngoài 80, Sơn Nam vẫn là cây bút cộng tác
đáng tin cậy của nhiều tờ báo tại Sài Gòn, đồng thời ông còn được mời đi nhiều nơi để nói
chuyện về phong tục tập quán địa phương của đất và người miền Tây Nam bộ. Hình dáng
một ông già ốm yếu, người gầy gò, trên tay luôn cầm điếu thuốc lá với một vốn kiến thức
sâu rộng về văn hóa và con người Nam Bộ đã để lại nhiều ấn tượng rốt đẹp cho người tiếp
xúc. Vì thế, nhiều đoàn làm phim đã mời ông tham gia làm cố vấn về văn hóa và phong
tục.
Một số truyện ngắn của Sơn Nam cũng đã được chuyển thể thành phim như: Cây huê xà,
Mùa len trâu.
Không chỉ là nhà văn, nhà khảo cứu, Sơn Nam còn là một kho tư liệu sống về con
người, văn hóa, địa lý, lịch sử… của vùng đất phương Nam. Với những tác phẩm của
mình,

nghệ thuật. Ngay từ những sáng tác đầu tay, Sơn Nam đã sớm biết khơi nguồn và bồi đắp
tài năng, phong cách từ hồn cốt văn hóa dân tộc. Có lẽ vì vậy danh xưng nhà văn hóa Nam
Bộ đối với Sơn Nam quả thật rất xứng đáng.
Dù nói về quá khứ hay hiện tại, viết về con người hay cảnh sắc thiên nhiên, về nông
thôn hay đô thị, hồi ký hay là những ghi chép cá nhân, Sơn Nam cũng chú ý đi sâu vào tâm
hồn tính cách con người Việt Nam, quê hương Việt Nam và điểm chú ý của ông chính là
vùng đất và con người Nam Bộ nơi ông sinh ra và lớn lên. Người đọc trong và ngoài nước
rồi đây còn chú ý đến Sơn Nam và sự nghiệp của ông cũng chính vì Sơn Nam không chỉ là
một nhà văn miệt vườn mà còn là nhà Nam Bộ học, nhà văn hóa Nam Bộ. Sự nghiệp của
Sơn Nam mở ra một hướng đi lớn đầy hứa hẹn trong sự vận động và phát triển của văn học
hiện đại Việt Nam ở khu vực phía Nam. Đến khi tuổi đã ngoài 80 lang thang trên đường
phố Sài Gòn nóng bức chật chội, Sơn Nam vẫn đặt bên lòng mối quan tâm xem xét người
Việt Nam có dân tộc tính không và đi tìm sự lý giải một cách thuyết phục và đầy
tình
người. 32
Dù viết ở dạng nào sự nghiệp của Sơn Nam cũng xoay quanh vùng đồng bằng sông Cửu
Long, đô thị Sài Gòn và đất Nam Bộ. Vấn đề nhà văn quan tâm luôn hướng về văn hóa dân
tộc mà đặc biệt là vùng văn hóa Nam Bộ. Sống ở đô thị hơn nửa cuộc đời, lại là người có
vốn hiểu biết sâu rộng nhưng chất nông dân của miền đồng bằng sông nước vẫn in đậm
trong tâm trí và cả những sáng tác của Sơn Nam.
Có thể nói ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Sơn Nam được
thể hiện khá rõ nét qua tìm hiểu sự nghiệp của nhà văn này. Đặc biệt là qua tập hồi ký về
cuộc đời ông. Từ lúc ông sinh ra lớn lên, học tiểu học ở địa phương cho đến giai đoạn đầu
tiên từ U Minh đến đất Cần Thơ học trung học, những năm ở chiến khu IX và 20 năm sống
giữa lòng đô thị Sài Gòn. Chính khoảng thời gian này, Sơn Nam đã đi nhiều nơi, tiếp xúc

Trích đoạn Vài nét về cách sử dụng thành ngữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status