Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam - Pdf 27

Chương 2
Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
2.1. Đặc điểm tính cách con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
2.1.1. Con người dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá tự
nhiên
Như chúng ta đã biết, U Minh - Rạch Giá - Cà Mau là mảnh đất cực
Tây Nam của Tổ quốc. Đó cũng là nơi dừng chân cuối cùng của đoàn người
Nam tiến. Khoảng những thập niên đầu thế kỷ XX, cùng với những biến đổi
lớn về tình hình chính trị xã hội, con người hội tụ về đây gồm
nhiều thành phần, nhiều lí do khác nhau. Phần lớn họ là những
người đem bàn tay, khối óc của mình để xâm rừng, lấn biển, mở làng
lập ấp, sinh cơ lập nghiệp. Trong số đó có không ít người đã từ bỏ quê hương
vì không chịu đựng được ách áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến, ách
đô hộ của thực dân. Họ tự tạm gọi bằng những cái tên là đi trốn thuế thân và
cố che đậy bằng hình thức giăng câu bắt rắn. Tuy nhiên, họ đều có chung một
mục đích cuối cùng là “đi tìm sự sống trong muôn ngàn cái chết”. Đến
đây, họ sinh sống bằng nhiều nghề, chủ yếu khai thác những nguồn
lợi từ nơi này như đốn củi, ăn ong, săn chim , săn khỉ… làm được ngày nào
ăn ngày ấy. Bốn bề rừng rậm hoang vu, để có được miếng cơm manh áo,
chẳng những họ phải đổ mồ hôi, công sức mà ngay cả tính mạng họ cũng bị đe
doạ nghiêm trọng. Những người đi chinh phục miền đất lạ dù có nhiều dũng
khí nhưng trước thiên nhiên đầy tai họa, đôi lúc họ cũng chạnh lòng vì cảm
giác:
“Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê”
Trong cuộc hành trình đầy gian lao của những người đi mở đất, dường
như Sơn Nam đã đặt họ trong tứ bề gian khổ như cái vốn dĩ hiện có của cuộc
sống mà không bỏ sót một chi tiết nào.Tác giả đã đề cập đến những
1
cuộc đấu tranh không cân sức giữa con người với các thế lực của tự nhiên,
qua đó ông đã hết lời ngợi ca sự dũng cảm, gan dạ, thông minh và đầy sáng

trong bụi rậm suốt ngày suốt buổi, chờ đợi để quan sát một chú chim cu sập
bẫy vì ghen tiếng hót.
Nhân vật trong truyện ngắn của ông là những con người trong buổi đầu
đi khai phá vùng đất sơn cùng, thuỷ tận. Đó là hình ảnh những ông thầy võ
Quảng Nam, thầy Râu đuổi cọp yên dân không cần tượng đồng, bia đá trong
Hết thời oanh liệt, là anh Tư Hưng xuống miệt Cà Mau lập nghiệp với duyên
phận long đong cùng cô Một con lão Bích trong Truyện Rừng tràm, là Tư Bình
Thuỷ, Tư Châu Xương trong Nhất phá sơn lâm nhì đâm hà bá với cái cơ cực
vất vả của nghề đốn củi ở rừng cho kịp phiên chợ kiếm sống… Nổi bật ở
những con người này là phẩm chất dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá
tự nhiên.
Những con người dũng cảm, mưu trí, gan dạ này sẵn sàng đối mặt
với những khó khăn nguy hiểm, đứng ra diệt trừ những loài thú dữ mang lại sự
yên bình cho nhân dân. Đó là ông Năm Hên trong truyện Bắt sấu rừng U Minh
Hạ, ông Năm Cháy, ông Năm Tự trong Con heo khịt, chú Tư Đức trong Sông
Gành Hào,… hoặc hình ảnh về những ông già Nam Bộ khỏe mạnh và lao
động cần cù siêng năng như ông Từ Thông trong Hòn Cổ Tron, ông Năm xay
lúa trong truyện Ông già xay lúa,....
Đoạn văn miêu tả cuộc chiến đấu giữa ông Năm Tự với con heo khịt
cho thấy sự dữ dằn của tự nhiên và sự dũng cảm chiến đấu đến cùng của con
người vì sự yên ổn cho mùa màng của xóm làng. Hành động của nhân vật
được nhà văn khắc họa trong thế chênh vênh hiểm nguy, có những phút con
người cận kề bên cái chết, phút ông Năm Tự một mình giữ chặt cái mác đang
đâm vào con heo khịt nước mắt ông tràn trề rưng rưng chảy trên má, là khi hai
con sấu xuất hiện một lúc chống lại Tư Đức nhưng trong lúc nguy hiểm đó
3
bằng sự quyết tâm nhanh trí và đoàn kết của con người họ đã chiến thắng
được kẻ thù bốn chân đem lại sự yên ổn trong cuộc sống. Dẫu cuộc sống có
khốc liệt, thiên nhiên có hung tợn hiểm nguy, "dưới sông sấu lội trên rừng cọp
đua" con người vẫn "rộn rịp hơn tết" dựng rạp để thưởng thức hát bội [ Hát bội

chạm trán với bầy heo rừng hung hăng [Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Sông Gành
Hào, Con heo khịt, tr.83-181]. Trong khi súng đạn của Tây cũng phải bất lực
trước những con sấu thần, sấu chúa thì không gì có thể sánh với trí thông
minh, sự gan dạ và lòng dũng cảm của con người. Dân làng Khánh Lâm gọi
ông Năm Hên là người kỳ tài, vì ông đi bắt sấu bằng chiếc xuồng ba lá,
trên đó chỉ có hũ rượu và bó nhang. Riêng ông thì khiêm tốn cho
rằng “tôi đây không có tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít”
[Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.88]. Nhờ vào tài trí, mưu mẹo, đặc biệt là sự
gan dạ, lòng dũng cảm của cha con chú Tư Đức và bà con dân làng nên họ đã
giết được con sấu lửa. Điều đó đã khiến cho ông Rốp - người đã
từng xem thường chú Tư, khinh rẻ người dân An Nam phải thán phục.
Quả là “thời thế tạo anh hùng”. Khi phải đối đầu với những khó khăn
thử thách, con người đã chứng tỏ bản lĩnh của mình. Hơn nữa, để duy trì sự
sống, con người đã tìm đủ mọi cách để tự vệ. Cuộc sống đã
dạy cho con người trí thông minh, sự gan dạ, và lòng dũng cảm. Đó là
một điều không thể phủ nhận. Sơn Nam đã xem những phẩm chất đáng quí ấy
như cái vốn có của người dân nơi này. Đối với thú dữ, họ đã nghĩ ra nhiều
mưu kế, nhiều “chiến thuật” để thu phục chúng. Cũng có lúc họ cúng vái, lập
bàn thờ… để cầu xin cuộc sống bình yên. Đối với thiên nhiên, họ đã sớm nắm
bắt được qui luật, thu thập được nhiều kinh nghiệm. Để rồi, bằng vốn sống
và những hiểu biết của mình, họ đã vận dụng những thuận lợi để
phục vụ cho mục đích sinh kế, lập nghiệp. Họ không quản ngại gian khó, và
5
dường như họ chưa bao giờ chùn bước. Đối với giống heo rừng hung hăng,
thứ heo sống bảy, tám năm “ nanh dài một tấc, mình mẩy nổi dấu chì, khi đổ
quạu là sôi bọt mồm… một đêm phá năm bảy công rẫy khoai mì”
thì dù có sợ hãi, lo lắng con người vẫn sáng suốt nghĩ cách đối phó. Không thể
đấu sức, họ dùng mưu.
Đọc truyện ngắn của Sơn Nam thời kì này chúng ta có dịp trở về với
hình ảnh của đất trời Nam bộ thời cha ông đi khai khẩn. Từ đó

sống với nhau bằng cái nghĩa. Hội tụ về đây là những con người xa lạ, có khi
không cùng họ mạc xóm làng, không cùng quê hương xứ sở; sống giữa trời
đất bao la, hiểm nguy gian khổ nên họ luôn thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó,
đùm bọc, yêu thương quí trọng lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau trên tinh thần
“Tứ hải giai huynh đệ”. Họ giúp người vì cảm thương những ai đang rơi vào
hoàn cảnh bế tắc, khốn khó và xem như đó là nhiệm vụ của mình mà không hề
vụ lợi, suy tính thiệt hơn. Dường như họ thuộc nằm lòng lời dạy của thánh
hiền “Thi ân bất cầu báo”. Đối với họ, tình luôn đi đôi với nghĩa. Nghĩa là
tình nghĩa, đạo nghĩa thể hiện trong sự ứng xử giữa con người với nhau, con
người với thế giới xung quanh. Khí chỉ tâm thế sống của con người vì cái
nghĩa mà có dũng khí, khí phách. Nguồn gốc cao đẹp của khí chính là xuất
phát từ cái nghĩa, vì nghĩa mà hành động. Ðây là một nét đặc biệt nữa mà ca
dao Nam Bộ ghi lại được:
Dấn mình vô chốn chông gai,
Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân.
Lao xao sóng bủa dưới lùm,
Thò tay vớt bạn chết chìm cũng ưng.
Sự nghĩa khí, hào hiệp ở đây thể hiện trước hết đối với những con
người gần gũi xung quanh làng mạc, xóm giềng. Đối với xóm giềng, họ tỏ ra
7
gắn bó khắng khít, quí mến thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Dẫu đôi khi có chút
hơn thua hiềm khích, họ cũng chín bỏ làm mười. Thầy Năm Điền với thầy Hai
rắn [Cây huê xà, tr.187] vốn là hai kẻ thù địch. Họ đã từng cạnh tranh nhau
trong nghề nghiệp, nhưng đến khi thầy Năm Điền với con Lài chết vì toa
thuốc rắn, thầy Hai tỏ ra vô cùng xót xa. “Chờ cho thưa khách, thầy tới
cầm tay nạn nhân mà ngửi rồi nước mắt thầy bỗng tuôn xuống” [Hương rừng
Cà Mau, tập 1, tr.197].. Phải chăng đó là giọt nước mắt của nhân tâm, của
nghĩa tình, của bao nhiêu điều ông muốn nói với người bạn đồng môn? Thầy
Hai Rắn từ bỏ nghề làm thuốc ngừa rắn đã từng cả đời gắn bó, là niềm kiêu
hãnh của thầy, là kế sinh nhai trước cái chết của cha con Lài. Tấm lòng của

ngần ngại đưa cho thằng Kìm chiếc nóp để nhờ ông Hai gói xác ba nó. Ông bà
Hai thì “lụm cụm” khiêng cái thớt trên của cối xay lúa để dằn xác người chết
xuống đáy nước. Điều quan trọng không chỉ là việc làm của họ mà qua tác
phẩm, người đọc có thể thấy được trong từng thái độ, cử chỉ, từng hành vi, lời
nói của họ đều đầy ắp nghĩa tình. Chú Tư Lập thì xông xáo, hớt hải khi thấy
tín hiệu cầu cứu của thằng Kìm. Ông bà Hai thì sốt sắng hỏi han, lo liệu. Sau
khi nghe thằng Kìm thuật lại hoàn cảnh của cha nó, ông Hai thở dài, gọi bà hai
nấu cơm thêm cho thằng Kìm cùng ăn. Thấy nó khóc, bà cũng rưng rưng nước
mắt rồi hết lời an ủi. Nhìn nó mệt lịm, ngả lên sàn mà ngủ, bà Hai thì thầm với
ông “tới mùa nước giựt, bề nào ông cũng ráng nhớ hốt xương, chôn cất kỹ
lưỡng dùm nó. Tôi khổ lắm” [Hương rừng Cà Mau, tập 3,tr.19 ]. Sơn Nam đã
khéo sắp đặt những tình tiết éo le của câu chuyện để qua đó tác giả đề cao vẻ
đẹp tinh thần của những người đi mở đất.
Rất nhiều nhân vật trong tác phẩm của Sơn Nam đã sống bằng tinh thần “Kiến
nghĩa bất vi vô dõng giã” mà cụ Nguyễn Đình Chiểu ngày trước đã nêu cao.
Thậm chí đến “phường khảo khấu lục lâm” cũng giàu tinh thần nghĩa hiệp. Họ
hiện lên trong truyện ngắn Sơn Nam như những tay anh hùng, giang hồ mã
9
thượng, có tài trí linh loạt. Đảng Cánh buồm đen tung hoành một dải từ Cà
Mau đến Hà Tiên khiến tàu đoan của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam mấy phen
thất điên bát đảo, nhưng tuyệt đối không xâm phạm tài sản của dân chài ven
biển. Đơn Hùng Tín chỉ “Ăn cướp của Tây tà, đem phân phát cho kẻ bần
cùng”. Có thể xem nghĩa cử của ông Tư Hiền trong Đảng Cánh buồm đen là
một điển hình. Nhân danh là một đảng cướp từng hùng cứ từ Mũi Cà Mau
đến địa phận Hà Tiên nhưng ông chỉ nhằm vào hai kẻ thù chính. Đó là “tàu
đoan của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam”, tuyệt đối không xâm phạm tài sản
của dân chài ven biển. Ông đã từng cứu con gái ông lão mò ngọc điệp ở hòn
Sơn Nhạn khi bị đảng cũ bắt. Ông cũng đã tuyên bố giải nghệ
sau khi đã giết lầm một lương dân. Hãy nghe lời ông tỏ bày với vị hôn
thê của mình: “Đây là lần đầu tiên trong đời mà anh đau đớn nhất.

anh hùng” [Hương rừng Cà Mau, tập 3, tr.201]. Ngoài ra, nét tính cách trọng
nghĩa khinh tài còn được Sơn Nam thể hiện rất rõ trong cách phản ứng của bà
con ở xóm rẫy Tân Bằng, ven rừng U Minh đối với cách “ăn to xài lớn” của
anh Giáo Trích và cô Tư Hạnh. Dân chúng vùng này vốn quý trọng tình nghĩa,
khi Giáo Trích xuất hiện, anh đã không tạo được sự đoàn kết mà còn đảo lộn
nhiều thứ. Vì thế, loại người vì tiền mà thay đổi ngay như cô Tư Hạnh cuối
cùng cũng đã bỏ anh đi [Ăn to xài lớn]. Trong truyện ngắn Tình bậu muốn
thôi, Sơn Nam chọn cách gián tiếp thể hiện nét tính cách này của con người
Nam Bộ. Trong truyện cách cư xử của cả người chồng và người vợ đều có chỗ
sai: anh chồng khi đã giàu có lại trở mặt đuổi vợ ra khỏi nhà., còn cô vợ khi
cưới chồng khác làm quan to thì lên mặt hỗn láo với người chồng cũ. Tuy
nhiên khi câu hát dân gian được cất lên thì đó là lời “nhắc nhở con người
nên ăn ở thủy chung, đừng ỷ thế giàu sang”, khinh khi nghèo khó.
Nhìn chung, họ là những người am hiểu tinh thần sách vở thánh hiền,
sống với tinh thần nhân văn cao cả. Điều đó không chỉ riêng có ở người Nam
11
bộ nhưng qua ý nghĩ và hành động của họ chúng ta thấy rõ hơn bản chất, khí
phách của người dân nơi này.
Tinh thần nghĩa khí, hào hiệp trong truyện của Sơn Nam còn được toát
lên trong mối quan hệ với các loài vật gắn bó với cuộc sống con người. Trong
truyện "Mùa len trâu", không gian tứ bề là nước, người nông dân, vượt đừng
dài thăm thẳm lội nước băng rừng để len trâu tìm kiếm thức ăn cho con vật
[Hương rừng Cà Mau, tập3, tr.39]. Cái nghĩa đối với con trâu của người nông
dân như là một hành động biết ơn đối với con vật xuất phát từ cái đạo đối với
nghề nông, như chú Tư nói: "Trâu giúp mình tạo ra hạt lúa, bù lại mình không
kiếm đủ cỏ cho nó ăn no. Như vậy là mình bất nhân"[Hương rừng Cà Mau, tập
3, tr.40].
Tinh thần nghĩa khí hào hiệp còn thể hiện ở tấm lòng đạo nghĩa với
những con thú hoang dã. Cha con người nông dân Tư Đức trong cuộc chiến
với con sấu hung dữ ở sông Gành Hào chỉ giết một con vì " giết một con là đủ,

thành một phẩm chất đặc trưng của Nam Bộ từ xưa đến nay. Trọng nghĩa
khinh tài được xem là một nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người dân Nam
Bộ.
Truyện ngắn Sơn Nam ngập tràn những cách ứng xử đậm đà tình nghĩa
vì thế nhiều ý kiến đã đồng tình với nhau khi cho “rừng của Sơn Nam
có hương thơm” là vậy. Thứ hương thơm quý giá của tình người vùng đồng
bằng sông nước Cửu Long. Tình nghĩa vốn là thứ giá trị quý báu của dân tộc
ta từ bao đời nay, nó đi theo người khai hoang đến vùng đất mới, gặp phải
điều kiện mới tình nghĩa lại có dịp biểu hiện đa dạng và phong phú hơn.
2.1.3. Con người gắn bó mật thiết với thiên nhiên
13
Đọc truyện ngắn Sơn Nam, người đọc luôn thấy hiện lên hình tượng
con người gắn bó với ruộng đồng, rừng núi quê hương bằng một tình yêu
mãnh liệt đến xao xuyến. Con người Nam Bộ luôn mở lòng cảm nhận cảnh
sắc thi vị, hấp dẫn của thiên nhiên. Trong câu chuyện "Hòn Cổ Tron", nhân
vật ông Từ Thông với cuộc sống hoang dã, ban sơ "tóc khi thả dài xuống khỏi
lưng quần, khi thì bới thành búi to sau ót gài lại bằng cọng gai kim quýt"
[Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.227]. Trong cuộc sống hoang sơ ấy, nhân vật
hiện lên với tâm thế hòa hợp với thiên nhiên, tận hưởng mở lòng với thiên
nhiên, xem thiên nhiên với thế giới riêng của mình. "Khi trời nực thì có những
khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự
nhiên, vô tình khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên
chập chờn như muốn rời nhánh mai, lơ thơ cúi nghiêng mình chấm mi nước…
hoặc có khi ông ngồi trên vồ cẩm thạch chậm rãi ăn buổi chiều, thỉnh thoảng
rứt từng miếng khoai sảy xuống nước. Loài cá nhỏ bu lại ngẩn ngơ"[Hương
rừng Cà Mau, tập 2, tr.228].
Trong nhiều truyện ngắn Sơn Nam, người đọc thật sự bị cuốn hút khi
lần bước trước thiên nhiên núi rừng kỳ vĩ, ẩn chứa nhiều bí mật. Nhưng có khi
nó hiện ra thật hiền hòa: “thầy đội trố mắt hồi lâu… Đôi ba trăm con rùa
đủ cỡ, đủ loại, đang cỡi đè lên nhau, chen lấn nghe lộp cộp. Con thì

Miền Tây]. Ở xứ sở sông nước bạt ngàn, các nghề bắt tôm, cua, lươn, cá, rùa,
rắn,… được người dân tìm cách khai thác và thu lại nguồn lợi vô cùng
phong phú từ thiên nhiên.
Người dân Nam Bộ đã tạo được sự thích ứng cao độ với thiên nhiên nơi
vùng đất mới. Kinh nghiệm kiếm sống được truyền lại cho nhau để cùng tồn
tại, bởi người dân nơi đây quan niệm đó là thứ cá nước chim trời chứ không
của riêng bất cứ một ai. Người ta biết được khi nào đến mùa cá chết dại, khi
nào đến ngày hội ba khía, mùa lươn, mùa rắn,… bằng cách đó họ đã kiếm ăn
15
trong những tháng nước lên hoặc đang kì xạ lúa. Truyện ngắn Con cá chết
dại giúp người đọc biết thêm một đặc điểm mà thiên nhiên ban tặng cho
người Nam Bộ. Mẹ con chị Hồng vì hoàn cảnh đã bỏ xứ Long Xuyên xuống
miệt Rạch Giá để gặt lúa mướn. Cuộc sống vất vả, khó khăn. May thay họ
gặp được Hai Tỵ và được biết đến mùa cá chết dại, nhờ thế hai mẹ con đã
không phải tay trắng trở về. “Xứ này miệt Rạch Giá, mỗi năm lại có một lần
“cá dại”. Nước mặn cuối năm tràn vô rạch. Bao nhiêu cá lóc quen nước ngọt
bị sa nước mặn, chạy trốn không kịp, chết trôi lờ đờ,…”. Nắm được đặc điểm
tự nhiên đó, người dân vùng đồng bằng sông nước như Hai Tỵ, mới có thể tồn
tại và lập nghiệp ngay cả trên những vùng đất xa xôi hẻo lánh. Qua truyện
ngắn Cấm bắt rùa, Sơn Nam đưa chúng ta về miệt Cà Mau xa xôi để tìm hiểu
một nghề rất đặc biệt: nghề bắt rùa. Ở xứ này, người ta ăn rùa độn cơm, thậm
chí trong chén cơm thịt rùa còn nhiều hơn cả hột cơm. Dân trong vùng hiểu
rất rõ cứ đến mùa hạn thì rừng tràm cháy. Tràm là loại cây có nhiều hột. Hễ
gặp lửa là hột nổ nghe lốp bốp. Do đã quá quen với cảnh ấy đến nỗi họ cho
rằng “mọi năm cháy như vầy hoài, rồi tràm mọc lại, rừng cũng hoàn toàn là
rừng”. Thiên nhiên khí hậu khắc nghiệt khiến cho rừng cháy nhưng con
người không lo lắng, trái lại họ vẫn lạc quan và thậm chí còn tỏ ra vui
mừng. Nhờ có rừng cháy, vợ chồng Bảy Đặng mới có được cái nghề tay trái
là bắt rùa để nuôi lũ con nhỏ trong lúc nông nhàn. Trong nhà Bảy Đặng xây
hẳn một cái hồ lớn có sức chứa đến đôi ba trăm con rùa đủ cỡ, đủ loại. Sự

hay con sấu lửa “tu luyện hàng trăm năm”. Cuộc đấu tranh giữa con người và
con thú kết thúc bằng vinh quang của con người thắng con thú, kiểu tượng
trưng thiện ác, văn minh và hoang dã, không phải là chủ đề, cũng không là
ngụ ý của tác giả. Chuyện về cọp trong Hết thời oanh liệt chẳng hạn, “...đánh
17
cọp không xong, dân xóm này mới bày đặt cất miếu thờ cọp. Ðó là ngụ ý:
chúng tôi là người làm ăn, không dám đá động tới ông, xin ông cứ ở trong
rừng để chúng tôi được yên ổn”. Ðến khi cọp đẻ ra bốn con, nghĩ sau này bầy
cọp đông đúc nguy hiểm cho người, dân xóm bèn “thừa lúc ông đi vắng có tới
xin bớt ba con, chừa lại cho ông một con. Như vậy không mích lòng ông mà
cũng không hẹp bụng chúng tôi”. Tương tự, ông Tư Ðức giết một con trong
cặp sấu lửa rồi thì tha cho con còn lại để nó... đi tu. Tư tưởng chia sẻ môi
trường sống, sống hài hòa giữa con người và các giống, loài trong tự nhiên là
tư tưởng “cấp tiến” trên thế giới hiện nay. Nhưng từ hơn nửa thế kỷ trước, nhà
văn Sơn Nam đã chan hòa tư tưởng ấy trong các tác phẩm của ông, một cách
tự nhiên, như đã thấu đạt lẽ đất trời.
Gắn bó mật thiết với thiên nhiên, người dân Nam bộ không chỉ coi thiên
nhiên là đối tượng chiêm ngưỡng, đối tượng khai thác, mà thiên nhiên còn lặn
sâu vào đời sống tâm linh của con người. Trong thế giới thiên nhiên muôn
màu muôn vẻ gợi nét đặc trưng của đất và người phương Nam, người đọc còn
có thể gặp những hình tượng động vật. Đó là con rắn dục tình đang sục
sôi trong lòng bà cai tổng [truyện Con rắn]. Ý nghĩa ẩn dụ của hình
tượng hiện lên rõ ràng trong đoạn cuối khi nhà văn cho biết thêm rằng: “Vài
tháng sau, bà cai tổng bỗng lớn bụng. Rồi sau tháng Giêng, bà xổ ra một
đứa “thầy rắn con”…” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.288]. Ở truyện
ngắn có màu sắc ma quái thần kỳ Hai con cá, hình tượng hai con cá “là
binh tướng, là gia nhân của ông hoàng” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.
154] – chỉ hoàng tử Nhựt, con vua Gia Long.
Với một tuổi thơ gắn liền với những cánh rừng đước, rừng tràm bạt
ngàn, được đắm mình giữa hương sắc của rừng U Minh với cây, hoa, chim,

19
cô Út về làm dâu đã khiến người làm cha mẹ như ông bà Cả không khỏi lo
lắng. Sơn Nam đã khéo léo khắc họa tâm trạng của họ dành cho cô con gái
yêu quý của mình. Nhưng rồi cuối cùng vì thương con bà cũng phải nhượng
bộ ông. “Phật trời thiêng liêng xin phò hộ, chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ
rồi, trên đất mình lắm người luống tuổi chịu cảnh sanh ly như ông Cả, cô Út.
Để cho nước mạnh, dân còn”[Cô Út về rừng, tr.47]. Đó là lời của một người
cha cũng chính là lời tâm huyết mà Sơn Nam muốn gửi gắm đến mọi người.
Trong những biểu hiện của đời sống hàng ngày, ta đã nhận ra tấm lòng
của dân Nam Bộ đối với quê hương đất nước. Khi Pháp đặt chân lên quê
hương họ thì tình thần yêu nước lại càng được con người nơi đây phát huy cao
độ. Cái nghĩa, cái tình sâu nặng biết bao với mảnh đất thấm đẫm
bao mồ hôi, xương máu của cha ông tạo dựng, giờ càng được phát huy mạnh
mẽ hơn bao giờ hết trước thế lực ngoại xâm. Bởi lẽ, với người dân đã từng
chung lưng đấu cật chống chọi với bao nhiêu hiểm nguy từ thiên tai đến địch
họa để tồn tại và phát triển, đất - nước là lẽ sống còn của họ. Cái tình, cái
nghĩa với đất nước, suy cho cùng, đó là tình nghĩa đối với con người. Đất và
nước là nguồn sống của con người nên con người phải ra sức giữ gìn. Sức
mạnh đấu tranh chống xâm lược bắt nguồn từ những tình cảm lớn lao như thế.
Lớp cha ông ngã xuống, lớp con cháu tiếp tục đứng lên. Người sống không
bao giờ quên người đã khuất. Lối sống nghĩa tình đã kết chặt họ với nhau làm
một. Ở vào vị trí đầu sóng ngọn gió của các cuộc xâm lăng từ phía Tây sang
như quân Xiêm trước kia, từ biển Đông vào như quân Pháp, Mỹ
sau này, nhân dân miền Nam với truyền thống yêu nước nồng nàn, với lối
sống nghĩa tình bền chặt, đã góp bao công sức máu xương, kế thừa và phát
huy truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc.
Trong nhiều truyện ngắn của Sơn Nam như Con ngựa đất, Miễu
Bà Chúa Xứ, tình yêu đất - nước được thể hiện như là tình yêu sâu nặng
nhất của con người. Ông hương cả Binh trong truyện Con ngựa đất
20

là họ buồn rầu khi nhìn cậu bé chăn trâu còn sống sót thuở trước giờ đây sống
hẩm hiu” Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.311].
Bác vật xà bông kịp thời đả phá chủ trương của chính quyền ào ạt đưa hàng
Mỹ vào khiến nhiều ngành hàng nội hóa truyền thống bị phá sản,
tiêu điều. Bác vật X đến vùng phù sa nê địa Xẽo Bần muốn cất một cái
xưởng lớn chế tạo xà bông, cần dùng hàng trăm công nhân, hy vọng
giúp bà con nơi đây có công ăn việc làm, cải thiện đời sống. Qua tiếp
xúc với ông, người dân xóm học lóm được nghề, tự làm ra xà bông đem bán.
Dần dần xà bông Xẽo Bần “giặt quần áo bọt cũng nhiều như xà bông
bên Tây” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.80]. Biết được chuyện, bác
vật X -được người dân gọi thân tình là Dượng Hai - không một lời trách cứ
bà con mà còn lấy làm mừng. Bởi vì suy cho cùng, “ý nghĩ của cuộc chiến đấu
mới nào có gì lạ hơn là làm cho dân giàu nước mạnh, phát triển
nội hóa” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.81]. Hành động yêu nước góp
phần vào cuộc chiến đấu chung của toàn dân tộc rất phong phú, không phải
chỉ có cầm súng là vậy.
Ở truyện ngắn Chiếc ghe ngo, Sơn Nam chỉ sử dụng một chi tiết nhỏ đã giúp
người đọc nhận ra tấm lòng yêu nước thương nòi của dân chúng vùng Gò
Quao, đặc biệt là Lục cụ Tăng Liên. Chứng kiến cảnh hương quản Hem im
lặng, từ từ mở gói ra một lá cờ tam sắc to tướng, lục cụ Tăng Liên
[Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.207-208] đau đớn, tủi nhục, xót xa đến
lặng người, “không nói nửa tiếng” trước “phần thưởng nhà nước” trao cho
chiếc ghe ngo chiến thắng của chùa. Có lẽ giữa chốn yên tĩnh của cảnh chùa,
cụ càng thấm thía hơn bao giờ hết cái nhục mất nước, cái nhục danh dự bị rẻ
khinh, và “nụ cười của đức Quan Âm bốn mặt” như muốn “khuyên ai nấy
trầm tĩnh vì sự đời mãi đổi thay, thay đổi” [Hương rừng Cà Mau, tập 1,
22
tr.208]. Chiến thắng trở về từ cuộc đua ghe ngo nhưng cả đội đua chùa Sóc
Ven, chú hương quản Hem và Lục Cụ đều ngậm ngùi cay đắng.
Câu chuyện xảy ra ở xóm Tà Lốc thời Pháp thuộc cũng giúp ta hiểu thêm về

ngắn Bà đầm Phô-xi-đông đã cho thấy sự mỉa mai nhẹ nhàng nhưng thấm
thía của nhà văn với hạng người như Cô Ba, vợ lẽ Tây Đầu Đỏ.
Từ cử chỉ đến cung cách, Cô Ba gián tiếp cho mọi người thấy rằng mình
không còn là người phụ nữ Nam Bộ truyền thống: “mỗi lời nói thường kèm
theo tiếng “à há” xa lạ; kiểu “cổ áo khoét rộng như hình trái tim” chỉ tiện
mặc trong phòng the; “hương vị thơm nồng ngoại lai” [Hương rừng Cà
Mau, tập 1, tr.44-45]; những trò “mua vui một vài trống canh” bày cho đám
thanh niên tá điền… Đó là lối sống nửa Tây nửa ta, mà những người có ăn học
như thầy Hai chỉ càng thấy nhục nhiều hơn. Cô đâu biết rằng, mình cũng là
nạn nhân của Tây Đầu Đỏ. Là người Việt Nam, nhưng ở Cô Ba tinh
thần dân tộc đã phai nhạt đến mức khó có thể nhận ra.
Những kẻ sống bám gót giày giặc, đánh mất tinh thần dân tộc còn được
tìm thấy trong nhiều truyện ngắn khác của Sơn Nam. Đó là Hai Tâm [Mối
tình…đầm lai, tr.315 ] với chân tướng “bất tài, thất đức mà đòi làm ông cha
thiên hạ” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.326.], thực chất chỉ giỏi đánh giặc
miệng và “o mèo” kiểu Tây; là hương quản Cò [Hai mẹ con, tr.157] cấu kết
với Tây đoan biến bà chủ Mẹo thương con thành con tốt cho
những mưu đồ cá nhân; là thầy giáo Chích [Hai ông già, tr.171] cam tâm làm
Việt gian vẫn mạnh miệng nói đến hai chữ “công dân” và đột ngột cảm thấy
“đau xót lạ lùng” khi tên quan hai Tây Phẹt-năng “đưa tay vỗ nhẹ lên đầu …
như người cha khen đứa con có hiếu” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.185.]…
Ý nghĩa mỉa mai nhẹ nhàng mà thâm thúy, truyện ngắn Sơn Nam đã tác động
đến tình cảm, tư tưởng người đọc, đánh thức tinh thần dân tộc, ý chí chống
24
ngoại xâm từ những câu chuyện như những lát cắt khác nhau của đời sống con
người và thiên nhiên vùng đất U Minh, hay vùng căn cứ địa cách mạng Tây
Nam Bộ thời kháng Pháp ông từng gắn bó.
Nhân vật ông Từ Thông [Hòn Cổ Tron, tr.225] tiêu biểu cho tinh thần
khảng khái yêu nước, yêu tự do.Không biết từ bao nhiêu niên kỷ rồi, ông ra
cất chòi ở Hòn Cổ Tron để nương náu. Mặc dù sống giữa bốn bề sóng nước,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status