ảnh hưởng của môi trường lên một số chỉ tiêu sinh lý và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Quang Tiến, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 29

B GI O D C V O T OỘ Á Ụ À ĐÀ Ạ
TR NG I H C VINHƯỜ ĐẠ Ọ

NGÔ TH HI NỊ Ề
NH H NG C A MÔI TR NG LÊN M T S CHẢ ƯỞ Ủ ƯỜ Ộ Ố Ỉ
TIÊU SINH LÝ V S C KHO C A D N C L NGÀ Ứ Ẻ Ủ Â Ư À
NGH CH BI N H I S N PH NG QU NG TI N,Ề Ế Ế Ả Ả ƯỜ Ả Ế
TH X S M S N, T NH THANH HÓAỊ Ã Ầ Ơ Ỉ
LU N V N TH C S KHOA H C SINH H CẬ Ă Ạ Ĩ Ọ Ọ
NGH AN - 2014 Ệ
ii
B GI O D C V O T OỘ Á Ụ À ĐÀ Ạ
TR NG I H C VINHƯỜ ĐẠ Ọ

NGÔ TH HI NỊ Ề
NH H NG C A MÔI TR NG LÊN M T S CHẢ ƯỞ Ủ ƯỜ Ộ Ố Ỉ
TIÊU SINH LÝ V S C KHO C A D N C L NGÀ Ứ Ẻ Ủ Â Ư À
NGH CH BI N H I S N PH NG QU NG TI N,Ề Ế Ế Ả Ả ƯỜ Ả Ế
TH X S M S N, T NH THANH HÓAỊ Ã Ầ Ơ Ỉ
Chuyên ng nh: Sinh h c th c nghi mà ọ ự ệ
Mã s : 60.42.01.14 ố
LU N V N TH C S KHOA H C SINH H CẬ Ă Ạ Ĩ Ọ Ọ
Ng i h ng d n khoa h c: PGS.TS. NGUY N NG C H Iườ ướ ẫ ọ Ễ Ọ Ợ
NGH AN - 2014 Ệ
iv
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện và hoàn thành tại trường Đại học Vinh
dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hợi. Tác giả xin
trân trọng bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất của mình
đối với thầy giáo hướng dẫn, thầy đã tận tình dẫn dắt chỉ bảo, luôn quan tâm,
động viên và giúp đỡ tác giả ngay từ những bước đi đầu tiên cũng như trong

SS (Solid Solved): Chất rắn lơ lững
TSS: Tổng chất rắn lơ lững
n: Số lượng mẫu
GRAN: Bạch cầu trung tính
HGB (Hemoglobin): Nồng độ hemoglobin trong máu
LYM (Lymphocyte): Bạch cầu lympho
MCH (Mean Corpusular Hemoglobin): Lượng huyết sắc tố trung bình
trong hồng cầu
RBC (Red Blood Cell): Số lượng hồng cầu
TST: Tần số tim
WBC (White Blood Cell): Số lượng bạch cầu
WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế thế giới
iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với Việt Nam, làng nghề là một nét đặc thù quan trọng không thể
thiếu. Bởi lẻ, lịch sử phát triển của các làng nghề luôn gắn liền với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa ở nước ta.
Do trước đây nền kinh tế của nước ta nghèo nàn và lạc hậu nên các làng
nghề truyền thống thường có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp với thiết bị
cũ và công nghệ lạc hậu. Nhưng trong những năm gần đây, các làng nghề đã
và đang dần thay đổi bộ mặt. Những làng nghề truyền thống trước đây đã
được đầu tư phát triển với quy mô lớn và kĩ thuật cao hơn. Hàng hóa sản xuất
ra không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị

làng nghề đã có ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe của cộng đồng dân cư.
Thanh Hóa là một tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có chiều dài
đường bờ biển dài hơn 102km, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
ngành nghề khai thác hải sản và chế biến hải sản. Vậy nên, hiện nay ở Thanh
Hóa có rất nhiều làng nghề đánh bắt và chế biến hải sản. Trong đó, tại phường
Quảng Tiến thuộc địa bàn thị xã Sầm Sơn – nơi có khu du lịch biển Sầm Sơn
nổi tiếng, từ lâu đã được nhiều người biết đến với truyền thống nghề đánh bắt
và chế biến hải sản nhất nhì ở xứ Thanh. Làng nghề không chỉ giải quyết việc
làm cho người dân lao động, giải quyết đầu ra cho lượng rất lớn hàng hóa
hằng năm mà còn là nơi thu hút sự tò mò của những người khách du lịch đã
đặt chân đến biển Sầm Sơn. Sản phẩm chính của làng nghề khá đa dạng,
ngoài những đặc sản đặc trưng như nước mắm, các loại đồ hải sản khô và tươi
sống như: tôm, cá, mực, ốc, cua, ghẹ… thu hút khách du lịch; hiện nay tại
làng nghề đã và đang đầu tư chế biến và xuất khẩu thức ăn chăn nuôi với quy
mô công nghiệp.
Thế nhưng, cũng như các làng nghề khác, làng nghề đánh bắt và chế
biến hải sản phường Quảng Tiến không tránh khỏi những hạn chế về vấn đề
2
môi trường. Hơn nữa đây còn là làng nghề nằm gần một khu du lịch biển nổi
tiếng. Vì vậy ô nhiễm môi trường làng nghề và giải pháp khắc phục là vấn đề
cấp bách cần được quan tâm và xử lý kịp thời.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế với mong muốn tìm hiểu rõ ảnh hưởng của
các yếu tố môi trường ở làng nghề phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn lên
đời sống dân cư nhằm đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và cho công
tác bảo vệ, chăm sóc tốt sức khỏe người dân ở làng nghề, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của môi trường lên một số chỉ tiêu sinh lý
và sức khỏe của dân cư làng nghề chế biến hải sản phường Quảng Tiến,
thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa”.
2. M c tiêu nghiên c u c a t iụ ứ ủ đề à
2.1. Đánh giá thực trạng môi trường không khí, môi trường nước tại làng

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở phương pháp luận của đề tài
1.1.1. Môi trường và sức khỏe
1.1.1.1. Môi trường
* Khái niệm về môi trường là một chủ đề đã được đưa ra thảo luận rất
nhiều từ rất lâu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung
nhất về môi trường trong khoa học sinh học. Tùy vào cách nghiên cứu và cách
tiếp cận khác nhau mà các tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về môi
trường. Cụ thể, ta có thể điểm qua một số khái niệm sau:
Theo Masn và Langenhim (1957) cho rằng môi trường là tổng hợp các
yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật.
Theo Joe Whiteney (1993) thì cho rằng môi trường là tất cả những gì
ngoài cơ thể, có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con
người như: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozôn, sự
đa dạng của các loài.
Theo UNEP chương trình môi trường của liên hợp quốc (1980) môi
trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội tác động
lên từng cá thể hay cả cộng đồng.
Theo Vũ Trung Tạng (2000) môi trường là một phần của ngoại cảnh,
bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên… mà ở đó cá thể, quần
thể, loài… có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi
của mình. Từ định nghĩa này ta có thể phân biệt được đâu là môi trường của
loài này mà không phải là môi trường của loài khác.
Theo một số tài liệu nước ngoài khác như: The Random House College
Dictionary – USA cho rằng môi trường là tập hợp các vật thể hoàn cảnh và
ảnh hưởng bao quanh một đối tượng nhất định nào đó; theo G.Tyler môi
trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc
5
một cơ thể nhất định đang sống, là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định;
hay môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học bao quanh các sinh vật

dưỡng khí (O
2
), đạm khí (N), than khí (CO
2
) và một số khí hiếm như argon,
neon, heli và còn chứa một số khí trơ, hơi nước, bụi, vi sinh vật…[21].
Không khí là một trong các yếu tố quan trọng không thể thiếu đối với
sự sinh trưởng và phát triển của con người và các loài sinh vật [71].
- Môi trường nước
Thủy quyển bao gồm tất cả các thành phần nước của Trái đất như:
nước ao hồ, sông ngòi, suối, đại dương, băng tuyết, nước ngầm…. Thủy
quyển là thành phần không thể thiếu được của môi trường toàn cầu, nó duy trì
sự sống cho con người và sinh vật [67].
Nước là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của môi trường
sống. Nước là một loại tài nguyên thiên nhiên quý giá và có hạn, là động lực
chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người. Nước được
sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải,
chăn nuôi, thủy sản…. Bởi vậy, tài nguyên nước có giá trị kinh tế và được coi
như là một loại hàng hóa [52].
- Môi trường đất
Thạch quyển hoặc địa quyển hoặc môi trường đất bao gồm lớp vỏ Trái
đất có độ dày 60 – 70 Km trên phần lục địa và từ 2 – 8 Km dưới đáy đại
dương, trên đó có các quần xã sinh vật [36].
Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô
sinh sắp xếp thành cấu trúc nhất định, các thực vật, động vật và vi sinh vật
sống trong lòng Trái đất. Các thành phần này có liên quan mật thiết và chặt
chẽ với nhau. Môi trường đất được xem như là môi trường thành phần của hệ
môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu…[59].
Theo chức năng, môi trường sống của con người được chia thành:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa

Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được
quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường [21].
8
* Các dạng ô nhiễm môi trường
- Ô nhiễm môi trường nước
Hiến chương Châu Âu đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói
chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây
nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi,
giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” [52].
Ô nhiễm nguồn nước do nông nghiêp và công nghiệp sẽ gây hậu quả là
ô nhiễm nguồn nước uống và sinh hoạt. Một cách tổng quát, bất cứ sự thay
đổi chất lượng nước về mặt vật lý, hóa học hay sinh học, mà sự thay đổi này
có tác hại đến sinh vật, hay sự thay đổi này làm cho nước không thích hợp
cho bất cứ mục đích sử dụng nào thì được xem là ô nhiễm môi trường nước
[59].
- Ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm không khí xảy ra khi không khí có chứa các thành phần độc
hại như các loại khí, bụi lơ lửng, khói, mùi. Hay nói cách khác những chất
này trong không khí có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe hoặc sự thoải mái của
con người, động vật hoặc có thể dẫn đến nguy hại đối với thực vật và các vật
chất khác. Trong không khí bị ô nhiễm có chứa các loại khí, các hạt vật chất
lơ lửng và các hạt chất lỏng dưới dạng bụi (aerosol) làm thay đổi thành phần
tự nhiên của khí quyển. Một số loại khí là những thành phần của không khí
sạch như CO
2
cũng sẽ trở nên nguy hại và là chất ô nhiễm không khí khi nồng
độ của nó cao hơn mức bình thường. Ô nhiễm không khí có nguy cơ ảnh
hưởng tới sức khỏe con người và những thành phần khác của môi trường như
đất, nước [31], [56].
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của chất khí trong bầu khí quyển do

1.1.1.4. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường lên sức khỏe
Nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng 80% các loại bệnh tật của
con người có liên quan đến ô nhiễm môi trường và trong vòng 30 năm qua, đã
10
xuất hiện thêm 40 loại bệnh mới bắt nguồn từ các vấn đề môi trường như ô
nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm
trường điện từ, ô nhiễm phóng xạ… [09].
Sức khỏe có mối quan hệ mật thiết với môi trường. Sự phụ thuộc của
sức khỏe vào môi trường sống đã được đề cập từ thời xa xưa của lịch sử. Từ
Thế kỉ XIX, trong cuốn “ Nghiên cứu y học thực nghiệm” nhà sinh lý học
người Pháp Claode Bernat đã viết : “Hiện tượng về sự sống đã được quy định
từ hai phía, một là mặt cơ thể mà trong đó sự sống diễn ra, mặt khác là môi
trường bên ngoài trong đó cơ thể sống đã tìm thấy những điều kiện chủ yếu
cho sự xuất hiện của những hiện tượng của bản thân mình”.
- Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường không khí lên sức khỏe con người
* Ô nhiễm do nhiệt độ
Theo một nghiên cứu mới từ Trường Y tế cộng đồng Harvard được
công bố trực tuyến trên tạp chí “Proceedings of the National acedemy of
Sciences” về những thay đổi nhỏ của nhiệt độ về mùa hè có thể rút ngắn tuổi
thọ ở người cao tuổi bị các bệnh mạn tính. Họ thấy rằng, ở mỗi thành phố,
những năm có nhiệt độ mùa hè biến thiên càng lớn thì tỷ lệ tử vong càng cao
hơn so với những năm nhiệt độ biến thiên càng ít. Cứ tăng 1
o
C trong mùa hè
thì tỉ lệ tử vong ở người cao tuổi bị các bệnh mạn tính tăng 2,8 – 4 %, tùy
thuộc vào tình trạng bệnh. Nguy cơ tử vong tăng 4% đối với người mắc bệnh
tiểu đường; 3,8% đối vời người đã từng bị đau tim; 3,7% đối với người bị
bệnh phổi mạn tính và 2,8% đối với người bị suy tim. Dựa vào sự gia tăng
nguy cơ tử vong, các nhà nghiên cứu ước tính rằng sự biến thiên lớn nhiệt độ
mùa hè ở Mỹ có thể gây thêm hơn 10.000 ca tử vong mỗi năm .

nhiễm gây ra mùi là chất nào. Tuy nhiên trong một số trường hợp, người ta
vẫn nhận diện được các chất gây mùi hôi, ví dụ như trong công nghiệp cao su,
nhựa: các hợp chất nitơ, SO
x
, dung môi, hydrocacbon bị oxy hóa chưa hoàn
toàn (aldehyde, keton, phenol, ); từ xác súc vật chết: các hợp chất sulfua hữu
12
cơ, disulfua, mercaptan, aldehyde, trometyl amin, ; sản xuất thuốc trừ sâu:
H
2
S, mercaptan, NH
3
, aldehyde, amin, [42], [71].
* Khí chứa Lưu huỳnh
Khí acid SO
x
khi tiếp xúc với oxy và hơi nước trong không khí sẽ biến
thành các hơi acid gây kích thích khi tiếp xúc với niêm mạc. Hơi acid vào cơ
thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hóa sau
đó phân tán vào máu. Hơi acid khi kết hợp với bụi tạo thành các hạt bụi acid
lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2 -3 micromet sẽ vào tới phế nang, bị đại
thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết.
* Khí NO
2
, NO và NH
3
Khí NO
2
, NO là khí acid và có tác động tương tự như khí SO
x

của NO
2
phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc. Ở nồng độ thấp thường
13
gặp trong môi trường lao động hoặc không khí xung quanh, tác hại của NO
2
tương đối chậm và khó nhận biết.
Amoniac (NH
3
): có mùi khó chịu và gây viêm đường hô hấp cho người,
động vật, gây loét giác mạc, thanh quản, khí quản. NH
3
thường gây nhiễm độc
cấp tính. Là một chất khí gây kích thích đường hô hấp, có mùi khai đặc trưng
và có khả năng gây ngạt. Người làm việc trong môi trường có nồng độ NH
3
cao thường gặp các triệu chứng cay mắt, khó thở, viêm phế quản, ở nồng độ
quá cao có thể gây chết người. Tác động của NH
3
lên cơ thể tùy thuộc vào
nồng độ của NH
3
trong môi trường lao động. Nồng độ không gây tác hại đáng
kể khi tiếp xúc trong vòng 1 giờ là 0,33% thể tích, khi tiếp xúc trong vòng 4 –
5 giờ là 0,01% thể tích. Trong trường hợp phải hít nhiều NH
3
và đột ngột, khí
NH
3
chưa vào đến phổi mà đã gây phản xạ ở thanh quản, cuống họng, co rút

thư da. Ngoài ra, asen còn gây nhiễm độc hệ thống tuần hoàn khi uống phải
nguồn nước có hàm lượng asen khoảng 0,1mg/l. Vì vậy, cần phải xử lý nước
nhiễm asen trước khi dùng trong sinh hoạt và ăn uống. Người nhiễm chì lâu
ngày có thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm amino, nitrat, nitrit gây mắc
bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư; metyl tert – butyl ete là chất phụ
gia phổ biến trong khai thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao; nhiễm
natri gây bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch; lưu huỳnh gây bệnh về đường
tiêu hóa; kali, cadimi gây bệnh thoái hóa cột sống, đau lưng; hợp chất hữu cơ,
thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trưởng,
thuốc bảo quản thực phẩm, photpho…gây ngộ độc, viêm gan, nôn mửa, tiếp
xúc lâu dài sẽ gây ung thư nghiêm trọng các cơ quan nội tạng; chất tẩy trắng
xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp; oxalate kết
hợp với calxium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật; vi khuẩn, kí
sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm giun,
sán; Kim loại nặng các loại như titan, sắt, chì, cadimi, asen, thủy ngân, kẽm
gây đau thần kinh, thân, hệ bài tiết, viêm xương, thiếu máu [68].
15
Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế cho thấy tròn số 10
trên 26 bệnh truyền nhiễm gây dịch được giám sát có tỷ lệ mắc trên 100.000
dân, cao nhất là cúm, tiêu chảy, sốt rét, sốt xuất huyến, lỵ trực khuẩn, quai bị,
lỵ amip, viêm gan virut, thủy đậu… có liên quan đến nguồn nước bị nhiễm
asen và nhiều chất hữu cơ khác.
- Ảnh hưởng của các chất thải rắn lên sức khỏe con người
Việc quản lý và xử lý chất thải rắn không hợp lý không những gây ô
nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người, đặc biệt
là đối vời người dân sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn
lấp chất thải Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các
bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác.
Một nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ người ốm và mắc bệnh như tiêu
chảy, da liễu, hô hấp tại khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn hẳn so


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status