i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THẾ LƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU
SINH LÝ VÀ SỨC KHỎE CỦA DÂN CƯ QUANH NHÀ MÁY
TINH BỘT SẮN XÃ HOÁ QUỲ - NHƯ XUÂN – THANH HOÁ
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 604230
LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÀNH SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS: Nguyễn Ngọc Hiền
Vinh, 2012
ii
LỜI CẢM ƠN
Xin cảm ơn chân thành đến TS. Nguyễn Ngọc Hiền, đã tận tình hướng
dẫn và quý thầy cô khoa sinh học, khoa sau đại học đă truyền dạy những kiến
thức quý báu trong quá trình học tập và giúp đỡ về kinh nghiệm để cho luận
văn đươc hoàn thành thuân tiện.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Tập thể y bác sĩ Khoa Xét nghiệm máu,
bệnh viện Đa khoa Như Xuân Thanh Hóa. Trung tâm quan trắc môi trường
Thanh Hóa. Đảng ủy, UBND, Trạm y tế, nhân dân xã Hóa Quỳ, Như XuânThanh Hóa. Trạm y tế xã Xuân Quỳ, xã Hóa Quỳ, Như Xuân- Thanh Hóa.
Lãnh đạo, công nhân viên nhà máy chế biến tinh bột sắn Như Xuân đã tạo
điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu.
HGB (Hemoglobin)
Nồng độ Hemoglobin trong máu
HSSH
Hằng số sinh học
MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin)
Lượng huyết sắc tố trung bình
NT
Nước Thải
trong Hồng cầu
NC
Nghiên cứu
RBC (Red Blood Cell)
Số lượng Hồng cầu
SL
Số lượng
TB
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cum, điểm công nghiệp, các làng nghề
thủ công truyền thống có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của mổi địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường của các làng nghề
ngày càng nghiêm trọng.Tình hình ô nhiểm không khí, chủ yếu là than, kim
loại nặng, các chất tẩy rửa, đăc biệt là các chất khí co, co 2, sox thải ra trong
quá trình sản xuất khá cao, Theo thống kê việt nam có khoảng 2790 làng nghề
phân bố rộng khắp cả nước. Tuy nhiên do sản xuất mang tính tự phát sử dụng
công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá mặt bằng sản xuất không đạt tiêu chuẩn
việc đầu tư xây dựng hệ thống sử lý nước thải ít được quân tâm, ý thức bảo vệ
và nhân thức về việc bảo vệ môi trường sinh thái của người dân còn kém, cơ
chế quản lí giám sát của cơ quan chức năng còn yếu và thiếu về năng lực và
trình độ chuyên môn, chưa có những chế tài và biện pháp sử lý quyết liệt và
hiệu qủa. Ô nhiểm môi trường ở các làng nghề không những gây ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe của cư dân thực tại mà còn dân cư ở các vùng lân cận.
Bên cạnh các làng nghề, các khu công nghiệp ô nhiểm, tại các khu đô
thị lớn ,tình trạng ô nhiểm báo động đó là ô nhiểm về nước thải, rác thải sinh
hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn. Ở các thành phố lớn dân số ngày càng
tăng lên nhanh chóng các nhu cầu về điện, trường, trạm. nước sinh hoạt, giao
thông ...thiếu và xuống cấp. Bên cạnh đó hàng trăm mét khối nước sinh
hoạt ,chất thải y tế và các khí thải do phương tiện giao thông thải ra.
Sự khủng hoảng kinh tế đã tạo nên sự cạnh tranh của các cơ sở sản
xuất, để hạn chế đến mức tối đa các chi phí không ít các nhà máy đã xã chất
thải trực tiếp ra môi trường gây anh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và
sức khỏe con người. Có thể nói vấn đề môi trường ngày càng trở nên nghiêm
trong và rất cấp bách không của riêng quốc gia nào mà cả thế giới quan tâm.
vii
phương và giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm lao động. Tuy nhiên từ
viii
khi mới đi vào hoạt động cho đến nay, người dân nơi đây đã phải chịu những
ảnh hưởng từ bởi mùi hôi thối nồng nặc từ nhà máy, mùi hôi thối nay còn có
thể ở cách xa hàng vài chục cây số do các xe trở bã sắn đến các nơi khác tiêu
thụ. Nước thải của nhà máy sắn có màu đen chảy tràn vào các khu vực dân cư
quanh nhà máy.
Bởi vậy, công tác điều tra, xác định, đánh giá mức độ và tình trạng ô
nhiễm cũng như tác hại, ảnh hưởng của nó lên sự phát triển hình thái, sinh lý,
sức khỏe của con người và đề ra biện pháp xử lý khoa học hữu hiệu nhằm
ngăn chặn và hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường là một yêu cầu
cấp thiết.
Nhằm góp phần làm sáng tỏ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường ở các
nhà máy sản xuất đóng trên địa bàn các khu dân cư, chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của môi trường lên một số chỉ tiêu sinh lí và
sức khoẻ của dân cư quanh nhà máy tinh bột sắn xã Hóa Quỳ, Huyện Như
xuân, Thanh Hóa” .
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng môi trường không khí (bụi, tiếng ồn), môi trường
nước (thành phần hóa học, vi sinh vật) quanh nhà máy tinh bột sắn xã Hóa
Quỳ .
- Xác định một số chỉ tiêu sinh lý, huyết học và tình hình sức khỏe của
dân cư xã Hóa Quỳ.
- Đề xuất các vấn đề cần được quan tâm về môi trường.
3. Nội dung của đề tài
3.1. Đánh giá thực trạng môi trường không khí
3.1.1. Nồng độ bụi và thành phần khí CO.
3.1.2. Tần số và cường độ âm thanh ở địa điểm nghiên cứu.
Từ khái niệm tổng quát này môi trường còn được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau:
Theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện
tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc sự kiện. Bất cứ một vật
thể nào, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong môi trường. Đối với
cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có
ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể [30], [31].
Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các
thực thể của tự nhiên,... mà ở đó, cá thể, quần thể, loài,... có quan hệ trực tiếp
hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình [30], [34].
Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu
tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, sự phát
triển và sinh sản của sinh vật (Hoàng Đức Nhuận, 2000) [25], [34], [55].
Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng lớn hơn. Theo
định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn
bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình
(tập quán, niềm tin) trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài
xi
nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình [31],
[55].
Đối với hoạt động và đời sống của con người khoa học thường phân ra
các loại môi trường sau:
1.1.1.2. Môi trường không khí
Khí quyển hay môi trường không khí: là lớp không khí bao quanh trái
đất. Gồm nhiều tầng khác nhau tùy theo độ cao và sự chênh lệch nhiệt độ.
Năng lượng từ mặt trời chuyền qua khí quyển thông qua sự trao đổi điện từ,
phóng xạ, đối lưu, sự bay hơi và cuối cùng là sự thay đổi nhiệt độ theo mùa,
theo độ cao và theo thời gian [25], [34], [50].
3%), đồng thời nước cũng là thành phần quan trọng nhất của thuỷ quyển, 4%
còn lại là các chất hoà tan, trong đó chủ yếu là các ion. Ngoài ra, trong nước
còn có rất nhiều chất rắn như: bùn, cát, các chất hữu cơ,… nhưng chiếm tỷ lệ
rất nhỏ [31], [34].
1.1.1.5. Môi trường lao động
Môi trường lao động: bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội mà
trong đó con người tiến hành các hoạt động lao động chân tay và trí óc
của mình [33].
1.1.1.6. Tiêu chuẩn môi trường
Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam: tiêu chuẩn môi trường là những
chuẩn, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản lí môi trường.
Tiêu chuẩn môi trường có mối quan hệ mật thiết với sự bền vững của
mỗi quốc gia. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên
ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ tổ chức quản lí và tiềm lực
kinh tế xã hội có tính đến dự báo phát triển [25], [31], [55].
1.1.2. Ô nhiễm môi trường
1.1.2.1. Khái niệm chung
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự
làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường” [43].
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là sự biến đổi các
yếu tố, thành phần việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi
xiii
trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự
phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác
nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước
thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và
các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm
khoảng 10 m3, do đó nếu trong không khí có lẫn nhiều chất độc hại thì phổi và
nhiều cơ quan hô hấp sẽ hấp thu toàn bộ các chất độc hại đó, tạo điều kiện cho
chúng xâm nhập sâu vào cơ thể, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho
sức khỏe và tính mạng của con người [10], [11], [27].
Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con
người, đặc biệt là đối với đường hô hấp. Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho
thấy, khi môi trường không khí bị ô nhiễm sức khỏe con người suy giảm, quá
trình lão hóa trong cơ thể bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm, gây
bệnh hen suyễn, viêm phế quản, gây bệnh ung thư, suy nhược thần kinh, tim
mạch và làm giảm tuổi thọ của con người. Các nhóm cộng đồng nhạy cảm
nhất với sự ô nhiễm không khí là những người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ
em dưới 15 tuổi, người đang mang bệnh, người thường xuyên phải làm việc
ngoài trời. Mức độ ảnh hưởng đối với từng người tùy thuộc vào tình trạng sức
khỏe, nồng độ, loại chất ô nhiễm và thời gian tiếp xúc với môi trường ô
nhiễm. Người lao động là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp khi môi trường
không khí của khu vực sản xuất bị ô nhiễm. Người lao động trong cơ sở sản
xuất công nghiệp thường bị mắc các bệnh hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, mắt,
ngoài da và một số hiện tượng ngộ độc CO, SO2, chì,...[6].
Ô nhiễm không khí từ các khu vực sản xuất công nghiệp, làng nghề
không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn ảnh hưởng tới cộng đồng
dân cư sống ở các khu vực xung quanh. Một số nghiên cứu y tế đối chứng đã
cho thấy các bệnh hô hấp cả cấp tính và mãn tính ở các vùng gần các khu vực
sản xuất cao hơn rõ rệt so với các vùng nông thôn. Ngoài ra các bệnh về mắt,
bệnh tim mạch, hội chứng dạ dày, thiếu máu, rối loạn thần kinh ở vùng ô
nhiễm cũng cao hơn [6].
Phần lớn các chất gây ô nhiễm đều gây tác hại đối với sức khỏe con
người, ảnh hưởng cấp tính gây ra tử vong. Vụ ngộ độc khói sương ở Luân
Đôn năm 1952 đã gây tử vong hơn 5.000 người, ảnh hưởng mãn tính để lại
tác hại lâu dài như các bệnh viêm phế quản mãn tính, bệnh ung thư phổi.
nghiệp khác
Nito ôxy
Giao thông,
công nghiệp
Kích thích hô hấp, làm trầm trọng các
điều kiện hô hấp như bệnh hen và viêm
phổi mãn tính
Làm giảm khả năng vận chuyển O2 của
Cacbon monoxyt
Giao thông,
máu, đau đầu và mỏi mệt nếu ở mức độ
công nghiệp
thấp, nếu ở mức độ cao có thể mắc bệnh
tâm thần và chết.
Ôzon
Được hình
Tác động đến mắt, hệ thống hô hấp, gây
thành trong khí
1.1.4. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước hiện nay là hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới.
Nguồn gây ô nhiễm nước chủ yếu là nước thải, chất thải từ các nhà máy, bệnh
viện, trang trại chăn nuôi, các cơ sở giết mổ gia súc - gia cầm, nhà hàng, gia
đình chưa qua xử lý, do vô tình hoặc hữu ý đã xả vào nguồn nước chung.
Trong nước thải này có chứa nhiều chất độc hại như thuốc trừ sâu, thuốc diệt
cỏ, thuốc kích thích, các kim loại nặng (chì, thủy ngân, ca-đi-mi, crôm), chất
phóng xạ, dầu mỏ, vi sinh vật có hại [6].
Các nguồn nước là nguồn truyền bệnh rất nguy hiểm. Ô nhiễm môi
trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây
ra các bệnh tiêu chảy do vi rút, vi khuẩn, vi sinh vật đơn bào, lị trực trùng, tả,
thương hàn, viêm gan A, giun sán,… Các bệnh này thường gây suy dinh dưỡng,
làm thiếu máu, thiếu sắt, gây kém phát triển, tử vong, nhất là ở trẻ em [33].
Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với con người có thể thông qua hai
con đường: một là do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại rau quả thủy
sản, hải sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm; hai là do tiếp xúc với môi
xvii
trường nước trong quá trình sinh hoạt và lao động. Theo thống kê của Bộ Y
tế, gần một nửa trong số 26 bệnh truyền nhiễm có nguyên nhân liên quan tới
nguồn nước bị ô nhiễm. Điển hình nhất là bệnh tiêu chảy cấp. Ngoài ra có
nhiều bệnh khác như tả, thương hàn, các bệnh về đường tiêu hóa, viêm gan A,
viêm não, ung thư,…[6].
Các con sông là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho đô thị và
nông thôn. Đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn và những người có nguồn
thu nhập thấp thường sử dụng trực tiếp nguồn nước sông. Khi nguồn nước
mặt bị ô nhiễm thì đây chính là yếu tố làm gia tăng bệnh tật của tại các tỉnh
thuộc lưu vực sông đặc biệt là các khu vực bị ô nhiễm nặng. Tỷ lệ mắc các
bệnh của các xã thuộc khu vực ven sông ô nhiễm thường cao hơn so với các
nhau. Tất cả màu sắc đều tác động đến số lượng, chất lượng của ánh sáng
mặt trời chiếu tới và do đó ảnh hưởng tới hệ sinh thái nước. Để đánh giá
màu sắc của nước, người ta dùng các máy đo màu hoặc máy đo độ thấu
quang của nước [31].
- Nhiệt độ: Nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu,
thời tiết của khu vực hay môi trường khu vực. Nhiệt độ nước tăng làm giảm
hàm lượng oxi hòa tan và tăng nhu cầu oxi của cá lên 2 lần. Tăng nhiệt độ
nước còn xúc tiến sự phát triển của sinh vật phù du. Trong nước xảy ra hiện
tượng “nở hoa” làm thay đổi màu sắc, mùi vị của nước. Ô nhiễm nhiệt độ tác
động trực tiếp tới quá trình hô hấp của các sinh vật trong nước và gây chết cá.
Nước nóng còn làm thay đổi thành phần các quần thể động vật và thực vật,
phá vỡ cân bằng sinh thái thủy vực. Để đo nhiệt độ của nước người ta dùng
các loại nhiệt kế [14], [30], [31], [34].
- Chất rắn tổng số: Tổng số gồm các chất rắn lơ lửng và chất rắn hòa
tan. Nước có hàm lượng chất rắn cao là nước kém chất lượng và có thể bị ô
nhiễm. Chất rắn ô nhiễm thường làm nước bẩn đục hoặc bẩn không thể dùng
cho sinh hoạt. Chất rắn lơ lửng còn làm giảm tầm nhìn của động vật nước, cản
trở ánh sáng chiếu xuống làm giảm quá trình quang hợp của thực vật nước và
còn lắng đọng gây bồi lấp thủy vực. Để xác định hàm lượng chất rắn lơ lửng
người ta thường để lắng sau đó lọc qua giấy lọc [31].
- Độ pH: Là yếu tố tác động rất mạnh tới sinh vật thủy sinh. Khi độ pH
của vực nước thay đổi, cân bằng sinh thái của vực nước sẽ bị tác động, nếu
xix
thay đổi lớn sẽ phá vỡ cân bằng sinh thái, nhiều loài thủy sinh sẽ bị tiêu diệt.
Có thể xác định bằng phương pháp điện hóa, chuẩn độ hoặc bằng các loại
thuốc thử khác nhau [14], [30], [31], [34].
- Nồng độ ôxy hòa tan trong nước (DO): Tất cả các sinh vật hiếu khí
cần ôxy cho quá trình hô hấp. Động vật và thực vật trên cạn sử dụng ôxy từ
xx
- Photpho (P): Trong tất cả các nguồn tự nhiên như nước ngầm, nước
hồ, nước sông,… P thường ít và ở dạng ion như: H 2PO4, HPO4. Tuy là một
nguyên tố cần thiết, nhưng nếu quá nhiều sẽ xúc tiến sự phát triển mạnh mẽ
của tảo xanh hoặc thực vật lớn gây tắc nghẽn thủy vực. Quá trình này được
gọi là thừa dinh dưỡng hay “phú dưỡng”. Ở những thủy vực thừa dinh dưỡng
thường có mùi hôi thối do sự phát triển quá mạnh của các sinh vật phân giải,
làm cạn kiệt oxy hòa tan, phân hủy và thối rữa tảo, thực vật lớn đã chết. Do
đó cần tiến hành sự xâm nhập của phốt phát để tránh hiện tượng thừa dinh
dưỡng, nếu không tảo xanh lúc đầu phát triển mạnh sau đó chết hàng loạt, sau
đó DO giảm, BOD5 tăng và bốc mùi các khí thối [31], [36].
- Oxit Nitơ và Amon: Nitơ tồn tại ở những dạng khác nhau như nitrat,
nitrit, amon và các dạng hữu cơ. Chúng có vai trò quan trọng trong hệ sinh
thái nước. Nitơ là một loại khí chứa nhiều trong khí quyển và tối cần thiết cho
đời sống vi sinh vật vì là một thành phần của protein [14], [30], [31], [34].
Nhưng một lượng lớn nitrat sẽ gây nên tác động dây chuyền, đặc biệt
trong các hệ sinh thái nước. Trước hết, nó tăng sự sinh trưởng, phát triển của
thực vật và tăng sức sản xuất sơ cấp. Sau khi chết, chúng làm tăng lượng chất
hữu cơ và các quần thể vi sinh vật phong phú phát triển trên các cơ chất hữu cơ
này. Trong quá trình hô hấp, hầu như tất cả ôxy hòa tan được sử dụng. Sự thiếu
ôxy gây nên quá trình lên mem, thối rữa, làm chết cá và ô nhiễm trầm trọng.
Nitrat và nitrit thường chứa ít ở nước bề mặt, nhưng ở nước ngầm lại có
thể cao. Nồng độ cao của nitrat và nitrit trong nước uống sẽ gây ra bệnh tật,
đặc biệt ở trẻ em gọi là bệnh “xanh bủng”. Hàm lượng nitrat không được lớn
hơn 10 mg/l trong nước uống.
Nitrit cũng có tác động gây bệnh xanh da vì nó tạo thành axit nitơ trong
nước tác động với amin để hình thành aitrosamin, một trong số các chất này là
tác nhân gây bệnh ung thư. Do hiểm họa của nitat và nitrit đối với sức khỏe
của con người cho nên chúng được coi là những chỉ tiêu quan trọng đánh giá
chất lượng nước.
được quan tâm nhiều nhất [14], [30], [31], [34].
Coliform: Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là
phân, rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước và rác thải bệnh viện,...
Để đánh giá mức độ ô nhiễm sinh học, người ta dùng chỉ số coliform. Đây là
chỉ số phản ánh lượng vi khuẩn E.coli trong nước, thường không gây bệnh
cho người và sinh vật. Để xác định chỉ số coliform người ta thường nuôi cấy
xxii
mẫu trong dung dịch đặc biệt và đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất
định [14], [30], [31], [34].
1.2. Tình hình nghiên cứu
Khi công nghiệp tinh bột trở thành một nghành công nghiệp quan
trọng, thì người ta bắt đầu quan tâm đến quá trình biến đổi của tinh bột. Bắt
đầu từ sự khám phá quan trọng của Keerchoff vào năm 1811. Ông cho rằng
đường có thể sản xuất từ tinh bột khoai tây với axit là chất xúc tác trong quá
trình thuỷ phân tinh bột. Sau đó là sự khám phá tình cờ một phương pháp sản
xuất dextrin hiện nay gọi là Gum Anh quốc.
ở Châu Âu, việc sử dụng tinh bột lúa mì và đại mạch đã cho tinh bột
khoai tây trắng được sản xuất một lượng lớn ở Netherlands và Đức.
ở Châu Mĩ, nhà máy tinh bột đầu tiên do Gilbert sáng lập ở Vtica, New
york năm 1807, sau đó được thay đổi để sản xất tinh bột ngô năm 1849. Sự
thay đổi từ bột mì sang tinh bột bắp bắt đầu bằng những tiến bộ trong sản xuất
của Thomas Kingsford vào năm 1842, trong đó tinh bột ngô được tinh chế
bằng phương pháp kiềm. Nhà máy bột mì George Fox bắt đầu từ năm 1842 ở
Cincinnati cũng được biến đổi thành nhà máy bột bắp vào năm 1854. Việc sử
dụng tinh bột khoai tây tăng nhanh cho đến năm 1895, có 64 nhà máy hoạt
động trong đó 44 là ở Vlaine. gần ba tháng hoạt động đã sản xuất 24 triệu
pound tinh bột chủ yếu cung cấp cho các nhà máy dệt.
Sau khám phá của Keerchoff vào năm 1811, siro dextrose, tức là D –
bột ngô, 3.7106 (10%) là tinh bột sắn, 2.9 106(8%) là tinh bột lúa mì và 2.7 106
(7%) là tinh bột khoai tây. Tinh bột đước sản xuất vượt trội ở các nước 1.2.2.
Tình hình sản xuất và sử dụng tinh bột ở Vệt Nam
ở nước ta, lương thực chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp và là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nhiều nghành công
nghiệp, trong đó có công nghiệp sản xuất tinh bột và các dẫn xuất của tinh
bột. Nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất tinh bột là các loại củ như sắn,
khoai lang, khoai tây, dong riêng, huỳnh tinh… Và các nguyên liệu hạt như
hạt gạo, ngô.. (7). Trong những năm gần đây, năng suất vầ diện tích trồng các
cây lương thực nói trên ngày càng tăng. Năm 1997, diện tích trồng ngô là
xxiv
12253 ha với sản lượng 1034200 tấn/năm, diện tích trồng khoai lang là 4018
ha với sản lượng 2399900 tấn/năm, diện tích trồng sắn 277400 ha với sản
lượng 2211500 tấn/năm. Như vậy, hàng năm nước ta có 2 triệu tấn sắn củ
(12). Hiện nay, chính phủ đang tập trung nỗ lực đẩy mạnh thâm canh để tăng
sản lượng lúa ngô, mở rộng diện tích cây trống sản lượng từ 2 triệu tấn năm
2000 tăng lên 2.183 triệu tấn năm 2003, đầu tư phát triển vùng nguyên liệu
cho 41 nhà máy chế biến sắn, sản lượng phấn đấu đạt 3.2 triệu tấn/năm (10).
Ngoài ra còn có các nguồn nguyên liệu khác như khoai tây, dong riềng…
cũng có một sản lượng đáng kể.
Tuy nhiên, một phần nhỏ các nguồn nguyên liệu nói trên mới chỉ được
chế biến thành các sản phẩm thực phẩm như tinh bột, đường mật tinh bột, mì
chính, miến sợi, hạt chân châu… theo nhiều quy trình khác nhau với qui mô
lớn, vừa và nhỏ (4), (11). Còn lại chủ yếu được làm thức ăn cho gia súc (8).
Tinh bột chủ yếu sản xuất theo phương pháp thủ công nên hiệu xuất thu
hồi thấp, hàm lượng tinh bột chưa cao và phẩm chất chưa tốt. Gần đây ở nước
ta đã nhập một số dây chuyền công nghệ chế biến tinh bột sắn trên qui mô
công nghiệp. Một số nhà máy chế biến tinh bột như: Vi thai tapico.Co, ltd ở
phương pháp axit và ứng dụng trong công nghiệp sản xuất giấy… Các kết quả
nghiên cứu về một số tính chất như kích thước, nhiệt độ hồ hoá, mức độ trùng
hợp của tinh bột một số giống khoai mỡ phổ biến và có giá trị cũng đã được
đề cập đến (2).
2.2.2. Những nghiên cứu về biến tính tinh bột ở nước ta và trên thế giới
Việc xử lí tinh bột hồ hoá bằng axit được tiến hành trước năm 1811, khi
Keerchoff tạo ra được phân tử D – glucozơ từ tinh bột bằng các thuỷ phân
tinh bột bằng axit. Sau đó, xử lí tinh bột không hồ hoá bằng axit đã được
Naegeli đưa ra, khi ông tìm thấy sự hoà tan nhiều của hạt tinh bột và việc tạo
thành những phân tử tinh bột có mạch ngắn do xử lí tinh bột tự nhiên trong
nước với 15% axit sunfuric ở 20 oC trong một tháng.