Ảnh hưởng của môi trường lên một số chỉ tiêu sinh lí, sức khỏe của công nhân khai thác đá tại xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ SỸ HỌC

ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU
SINH LÝ, SỨC KHỎE CỦA CÔNG NHÂN KHAI THÁC ĐÁ
TẠI XÃ CẨM THÀNH, HUYỆN CẨM THỦY
TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Nghệ An, 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ƠN
TRƯỜNGLỜI
ĐẠICẢM
HỌC
VINH
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu
từ phía nhiều tập thể và cá nhân.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Ngọc Hiền,
người đã quan tâm tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi từ những ngày đầu tiến hành đề tài

NGƯỜI THỰC HIỆN: NGÔ SỸ HỌC

cho đến khi luận văn được hoàn thành.
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, Khoa đào tạo Sau Đại Học Trường đại học Vinh, cùng toàn thể các thầy cô trực tiếp giảng dạy chuyên nghành
Sinh học Thực Nghiệm đã tạo mọi điều kiện để luận văn được hoàn thành.

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu
từ phía nhiều tập thể và cá nhân.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Ngọc
Hiền, người đã quan tâm tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi từ những ngày đầu tiến
hành đề tài cho đến khi luận văn được hoàn thành.
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, Khoa đào tạo Sau Đại Học Trường đại học Vinh, cùng toàn thể các thầy cô trực tiếp giảng dạy chuyên nghành
Sinh học Thực Nghiệm đã tạo mọi điều kiện để luận văn được hoàn thành.
Qua đây tôi cũng xin chuyển lời cảm ơn đến tập thể cán bộ y bác sĩ bệnh
viện đa khoa huyện Cẩm Thủy, Trung tâm Y tế Dự phòng Thanh Hóa, Trung tâm
Quan trắc và BVMT Thanh Hóa, Chi Cục Bảo vệ môi trường Thanh Hóa và tập thể
cán bộ công nhân của Công ty TNHH Tân Hồng Phúc.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân trong gia đình đã cổ vũ động viên
để tôi có thêm quyết tâm và nghị lực thực hiện thành công đề tài.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồng
nghiệp.
Vinh, ngày tháng năm 2012
Tác giả


MỤC LỤC
Trang

LỜI CẢM ƠN......................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................i
MỤC LỤC............................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC CHỮ TẮT VÀ KÍ HIỆU........................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG.....................................................................................v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ...............................................................................vi
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1


Thực trạng sức khỏe và tỷ lệ bệnh tật của công nhân................................55
Thực trạng sức khỏe của công nhân tại mỏ đá Cẩm Thành.........................................55
Tỷ lệ bệnh tật của công nhân........................................................................................57


KẾT LUẬN.........................................................................................................63
KIẾN NGHỊ........................................................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................68

DANH MỤC CÁC CHỮ TẮT VÀ KÍ HIỆU
Thứ tự
1
2
3
4
5
6
7
8

Chữ viết tắt
BC
ĐĐNC
ĐTNC
HSSH
HGB
HATT
HATTr


SX
SL
TSHH
TST
TCVSLĐ
WBC
WHO
BVMT

Red Blood Cell: Số lượng Hồng cầu
Sản xuất
Số lượng
Tần số hô hấp
Tần số tim
Tiêu chuẩn vệ sinh lao động
White Blood Cell: Số lượng Bạch cầu
World Health Organization: Tổ chức Y tế thế giới
Bảo vệ môi trường


DANH MỤC CÁC BẢNG


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các vấn đề môi trường và ô
nhiễm môi trường ngày càng được đặt ra một cách cấp thiết bởi diễn biến phức tạp

xuất VLXD nội địa và xuất khẩu.
Bên cạnh mặt tích cực về giải quyết nhu cầu việc làm và đảm bảo đời sống
cho nhiều người lao động thì thực trạng còn nhiều vấn đề đáng báo động về điều
kiện môi trường làm việc. Do đặc trưng công việc là loại hình lao động nặng nhọc
với cường độ lao động cao trong môi trường không khí bị ô nhiễm nặng vì bụi đá
và tiếng ồn quá lớn. Lao động trong điều kiện có nhiều yếu tố bất lợi như vậy bệnh
tật dễ phát sinh, thần kinh suy nhược dẫn đến sức khỏe giảm sút và gây ảnh hưởng
tới khả năng lao động cũng như năng suất lao động. Những ảnh hưởng xấu của điều
kiện môi trường lao động không chỉ tác động đến người công nhân trong hoạt động
lao động sản xuất mà còn gây tác hại trong suốt quá trình sống của họ. Đặc biệt tại
Thanh Hóa, với đặc thù khí hậu chịu ảnh hưởng của gió nóng khô Tây Nam tức
Phơn Trường Sơn và thường xuyên chịu tác động của các điều kiện tự nhiên bất lợi
như nhiệt độ cao, nóng ẩm và nóng khô, mưa nhiều, bức xạ lớn, vi sinh vật phát
triển thuận lợi,… thì mức độ ô nhiễm môi trường lao động tại các khu khai thác đá
càng trở nên trầm trọng.
Bởi vậy, công tác điều tra, xác định, đánh giá mức độ và tình trạng ô nhiễm
cũng như tác hại, ảnh hưởng của nó lên sự phát triển hình thái, sinh lý, sức khỏe,
bệnh tật của con người và đề ra biện pháp xử lý khoa học hữu hiệu nhằm ngăn chặn
và hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường là một yêu cầu cấp thiết. Mặt
khác, từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu, đánh giá cụ thể nào về ảnh hưởng
của môi trường lao động lên các chỉ tiêu sinh lý, sức khỏe, bệnh tật của công nhân
làm việc tại các khu khai thác đá trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Nhằm làm sáng tỏ thực trạng môi trường lao động và ảnh hưởng của nó tới
người lao động. Tôi thực hiện đề tài: “ Ảnh hưởng của môi trường lên một số chỉ
tiêu sinh lý, sức khỏe của công nhân khai thác đá tại xã Cẩm Thành, huyện
Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa”.


2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Đánh giá thực trạng và sự ô nhiễm môi trường không khí (một số chỉ số

biệt được đâu là môi trường của loài này mà không phải là môi trường của loài
khác. Chẳng hạn như mặt biển là môi trường của sinh vật màng nước
(Pleiston và Neiston), song không phải là môi trường của những loài sống ở đáy
sâu hàng ngàn mét và ngược lại [31].
Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn. Theo định
nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ
thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ
chứa...) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật...), trong đó con người
sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo
nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Như vậy, môi trường sống đối với con
người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là
con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của
con người”.
Cấu trúc môi trường tự nhiên gồm 4 thành phần cơ bản (4 môi trường
chính) như sau:
- Thạch quyển hoặc địa quyển hoặc môi trường đất (Lithosphere): bao gồm
lớp vỏ trái đất có độ dày 60-70 km trên phần lục địa và từ 2-8 km dưới đáy đại
dương và trên đó có các quần xã sinh vật.


- Thủy quyển (Hydrosphere) hay còn được gọi là môi trường nước (Aquatic
environment): là phần nước của trái đất bao gồm nước đại dương, sông, hồ,
suối, nước ngầm, băng tuyết, hơi nước trong đất và không khí.
- Khí quyển (Atmosphere) hay môi trường không khí: là lớp không khí bao
quanh trái đất.
- Sinh quyển (Biosphere) hay môi trường sinh vật: gồm động vật, thực vật và
con người, là nơi sống của các sinh vật khác (Sinh vật ký sinh, cộng sinh, biểu
sinh ...) [54].
Căn cứ vào luật bảo vệ môi trường do Quốc hội khóa XI (ngày 29 tháng 11
năm 2005) thông qua thì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân

Khí quyển có tác dụng duy trì sự sống trên trái đất, ngăn chặn tác động độc
hại của các tia tử ngoại, tia hồng ngoại hay các sóng từ. Khí quyển đóng vai trò
quan trọng trong việc giữ cân bằng nhiệt lượng của trái đất thông qua quá trình hấp
thụ tia tử ngoại phản xạ từ mặt trời và phản xạ tia nhiệt từ mặt đất lên. Khí quyển ở
tầng thấp có chức năng cung cấp oxy và dioxitcacbon cần thiết cho sự sống trên trái
đất, cung cấp nitơ cho quá trình cố định đạm ở thực vật và là môi trường vận
chuyển nước từ đại dương vào đất liền, tham gia vào quá trình tuần hoàn nước.
Thành phần không khí bao gồm 78,09 % thể tích khí N2; 20,94 % thể tích khí
O2; 1-4 % thể tích hơi nước; 0,03 % thể tích CO2; các khí trơ khác như Xe, He, H2 [41].
1.1.1.5. Môi trường lao động
Môi trường lao động bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội mà trong đó con
người tiến hành các hoạt động lao động chân tay và trí óc của mình [13].
1.1.1.6. Môi trường xã hội
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên sự
thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng
loài người [5].
1.1.1.6. Môi trường lao động
Môi trường lao động bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội mà trong đó con
người tiến hành các hoạt động lao động chân tay và trí óc của mình [11].

Ô nhiễm môi trường
Trước khi tìm hiểu về ô nhiễm môi trường chúng ta cần biết về tiêu chuẩn
môi trường. Trong bộ môn khoa học môi trường, tiêu chuẩn môi trường được hiểu
là những chuẩn mực cần thiết đảm bảo để thành phần môi trường đó phù hợp với
đối tượng sử dụng nó. Cụ thể như đối với môi trường nước thì tiêu chuẩn nước
phục vụ sinh hoạt khác với tiêu chuẩn nước phục vụ nông nghiệp, tiêu chuẩn nước


sinh hoạt nói chung như tắm giặt, ăn uống,… lại khác với chất lượng nước yêu cầu
cho công nghiệp thực phẩm (nước giải khát), nước y tế,...



được và ở mức 20.000 Hz là ngưỡng chịu đựng cuối cùng của tai những người
bình thường. Mức nghe bình thường là khoảng từ 500-5.000 Hz, khả năng tách
âm của tai ta giới hạn từ 0,3 đến 1 % Hz.
Về biên độ của tiếng ồn cũng là sự cộng hưởng của các biên độ hay
cường độ âm thanh cụ thể. Xuất phát từ áp lực của âm thanh lên thính giác chúng
tạo ra một năng lượng âm Egr/cm2/s, 1 Egr/cm2/s: 6,4 Bar (Bar là đơn vị đo áp
lực dễ thực hiện). Thông thường ngưỡng cảm ứng với áp lực âm thanh (tiếng
ồn) của tai ta là từ 109 Egr/cm2 còn ngưỡng đau tai ta không chịu được là đến
10+4 Egr/cm2/s. Trên cơ sở này người ta lấy khoảng cách từ 109-10+4 bao gồm 13
bậc và lấy làm đơn vị thể hiện cường độ của tiếng ồn, nó sẽ được quy định là 13
Bell. Trong thực hành vệ sinh lao động người ta còn chia nhỏ ra thành Dexibell
(dB) để dễ ứng dụng [35].

Khái niệm về sức khỏe và bệnh nghề nghiệp
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO – World Health Organization), Sức khỏe là
trạng thái thoải mái dễ chịu toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải
chỉ bao gồm có tình trạng không bệnh hay thương tật. Có một sức khỏe tốt nhất là
một trong những quyền cơ bản của con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo,
chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế – xã hội nào [64].
Sức khỏe là một đặc điểm, một nhu cầu thiết yếu đồng thời là một trong
những quyền cơ bản của con người. Mọi người đều có nghĩa vụ bảo vệ và nâng cao
sức khỏe cá nhân và cộng đồng. Sức khỏe cũng là một tài nguyên cơ bản mà mọi
người cũng như cộng đồng đều có trách nhiệm bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý
hơn bất cứ loại tài nguyên nào khác [4].
Bệnh nghề nghiệp là hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề
nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp. Do tác hại thường xuyên và kéo dài của
điều kiện lao động xấu.
Thông thường, người ta hiểu bệnh nghề nghiệp mang tính chất đặc trưng

thay đổi bất thường,... Các triệu chứng trên đây là những dấu hiệu chủ yếu của
một bệnh được gọi là bệnh ồn. Hậu quả của những rối loạn bệnh lý trên đây là
sức khỏe bị giảm sút, giảm khả năng lao động và tạo tiền đề cho những bệnh lý
tiếp theo [12], [14].
1.1.4.2. Tác hại tới cơ quan thính giác
Những âm thanh rất mạnh và đột ngột như tiếng bom, tiếng súng lớn,
tiếng mìn nổ,... có thể gây rách màng nhĩ, xô đẩy lệch các xương nhỏ ở tai
giữa, làm tổn thương cả tai trong, máu chảy ra ngoài tai, gây đau nhức dữ dội.


Các thương tổn này có thể phục hồi nhờ điều trị tích cực, nhưng chức năng
nghe của tai vẫn bị giảm sút nhiều.
Trong điều kiện lao động sản xuất, tổn thương bệnh lý ở cơ quan
thính giác thường xảy ra một cách từ từ, qua nhiều giai đoạn và khó phục hồi.
Hậu quả sau cùng là gây ra điếc nghề nghiệp. Điếc nghề nghiệp diễn biến rất
chậm, hàng chục năm. Chậm nhưng vẫn tiến triển và không có quy luật về thời
gian. Diễn biến lâm sàng có thể chia ra thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn thích nghi là thời gian mới tiếp xúc với tiếng ồn quá tiêu
chuẩn cho phép, ngưỡng nghe tạm thời tăng lên khoảng 10-15 dBA so với bình
thường (10 dBA) như vậy lúc này ngưỡng nghe khoảng 20-25 dBA, tuy nhiên
nếu tách ra khỏi môi trường có tiếng ồn cao thì ngưỡng nghe trở lại bình
thường (hồi phục).
Giai đoạn mệt mỏi thính giác: do thính giác chịu tác động quá lâu,
ngưỡng nghe tăng lên 30-40 dBA kéo dài nên khi ra khỏi môi trường lâu mới
hồi phục lại bình thường.
Giai đoạn điếc nghề nghiệp: cơ quan thính giác bị tổn thương không hồi
phục mặc dù người bệnh được đưa ra khỏi môi trường có tiếng ồn vượt tiêu
chuẩn cho phép. Cả cơ quan Cotri và dây thần kinh thính giác ở tai trong đều
bị tổn thương [16], [26].


so với oxy), lấy oxy của hemoglobin và tạo thành cacboxyhemoglobin, làm
mất khả năng vận chuyển oxy của máu và gây ra ngạt.
Nhiễm độc cấp CO thường bị đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, mệt
mỏi, co giật, rồi bị hôn mê. Nếu bị nhiễm nặng thì bị hôn mê ngay, chân tay
mềm nhũn, mặt xanh tím, bị phù phổi cấp. Nhiễm độc mãn tính CO thường bị
đau đầu dai dẳng, chóng mặt, mỏi mệt, sút cân.
- Sulfur dioxit: với nồng độ thấp gây kích thích hô hấp. Với nồng độ cao
gây ra bệnh tật và có thể tử vong.
- Khí clo: có tác dụng đoạn trên của đường hô hấp. Khí clo gây độc hại
cho người và động vật. Tiếp xúc với môi trường có nồng độ clo cao sẽ bị xanh
xao, vàng vọt, bệnh tật và có thể bị chết.
- Chì và các hợp chất của chì: Chì rất độc đối với người. Chì qua
đường hô hấp, tiêu hóa và gây độc cho hệ thần kinh, sự tạo máu và làm rối
loạn tiêu hóa. Người bị nhiễm chì có thể bị đau bụng, táo bón, kèm theo
huyết áp cao, suy nhược thần kinh, rối loạn cảm giác, tê liệt, giảm bạch cầu,
viêm dạ dày, viêm ruột,…


- Nitơ dioxit: Khí NO2 với nồng độ 100 ppm có thể làm chết người chỉ sau
vài phút, với nồng độ 5 ppm có thể gây tác hại bộ máy hô hấp sau mấy phút tiếp
xúc, với nồng độ 15-50 ppm gây nguy hiểm cho tim, phổi, gan sau vài giờ tiếp
xúc, với nồng độ khoảng 0,06 ppm cũng có thể gây bệnh phổi cho người nếu
tiếp xúc lâu dài. Đây là loại khí gây nguy hại nhiều cho người [19].
- Bụi có thể gây ra một số bệnh như:
+ Bệnh phổi nhiễm bụi: do người hít thở bụi khoáng, bụi amiang, bụi than
và kim loại. Người sẽ bị xơ phổi, suy giảm chức năng hô hấp.
+ Bệnh ở đường hô hấp: Tùy theo nguồn gốc các loại bụi mà gây ra
bệnh viêm mũi, họng, phế quản. Bụi hữu cơ như bông, gai, đay dính vào niêm
mạc gây viêm phù thụng tiết nhiều niêm dịch, về lâu dài bụi gai lanh có thể gây
viêm loét lòng khí phế quản.

đối với ô nhiễm môi trường không khí lớn hơn con người. Ở một số nước công
nghiệp lớn, một số loài động vật đã bị diệt vong vì ô nhiễm môi trường [20], [33].
1.1.5.2. Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với thực vật
Những thành phần ô nhiễm trong môi trường không khí như sulfurơ SO 2,
hydro florua HF, natri clorua NaCl, các hơi, bụi từ công nghiệp luyện đồng, chì,
kẽm, nhuộm,… Đặc biệt là hơi khí bốc ra từ các lò nung vôi, nung gạch thủ công,
ngay cả khi nồng độ của chúng còn thấp cũng đã làm chậm quá trình sinh trưởng
của thực vật, nồng độ cao làm vàng lá, làm hoa quả bị lép, bị nứt, bị thúi và mức
độ cao hơn thì lá cây cũng như hoa quả đều bị rụng, chết hoại. Các loại bụi đất đá
bám vào cây lá nhiều cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật vì làm giảm
quá trình lục diệp hoá quang hợp của cây.
Hầu hết các chất ô nhiễm trong môi trường không khí đều có tác hại xấu
đến thực vật, gây ảnh hưởng có hại đối với nghề nông và nghề làm vườn. Các loại
tác hại do chất ô nhiễm không khí có thể gây ra cho thực vật là: chết hoại, tổn hại
sắc tố và tác động đến sự sinh trưởng, phát triển. Trong đó, biểu hiện chính là làm
cho cây trồng chậm phát triển đặc biệt là sương khói quang hoá đã gây tác hại rất
lớn đối với các loại rau: rau diếp, đậu Hà Lan, lúa, ngô, các loại cây ăn quả và các
loại phong lan.
Tuy nhiên, cũng có chất ô nhiễm có tác dụng tốt đối với thực vật, có tác
dụng tăng cường sinh trưởng cây, đặc biệt là đối với các loại tảo như là các chất
photpho, nitơ và cacbon. Nhưng trong truờng hợp chúng làm kích thích sự phát
triển thì chúng lại phát triển các lá quá nhanh, là nguyên nhân làm cho các phiến là
bị quăn xoắn lại.
1.1.5.3. Ảnh hưởng đối với vật liệu


Chất ăn mòn kim loại nhiều nhất là SO2. Nó ăn mòn gián tiếp hợp kim
cứng như thép ở nồng độ trung bình 0,002 ppm. Ở nồng độ 0,009 ppm SO 2 có tác
dụng đối với vải sơn, tranh ảnh, công trình xây dựng. Giấy cũng đổi màu do SO 2
tác đồng làm chúng trở nên giòn và dễ rác. Sương mù H 2SO4 làm hư hỏng và làm

bình lưu của khí quyển (ở độ cao khoảng 25 km). Tầng ozon ở trạng thái bình
thường ngăn được 90 % tia tử ngoại loại B (UVB) (bước sóng λ = 280-320 nm) do
mặt trời chiếu xuống trái đất. Tuy nhiên khi trong không khí có các chất có khả
năng phản ứng với ozon trên tầng bình lưu dưới tác động của các tia tử ngoại, làm
giảm nồng độ ozon tại một số nơi trên trái đất (Nam cực). Các chất phá hủy tầng
ozon là dẫn xuất halogen của hydrocacbon được ứng dụng nhiều như CFCs
(cholorofluorocarbons) như CFC-11 (CFCl3) và CFC-12 (CF2Cl2) dùng làm tác
nhân lạnh, dung môi tẩy rửa, chất đẩy, chất tạo xốp,… halon 1301 là hóa chất chữa
cháy, cacbon tetraclorua (CCl4), metyl cloroform (C2H3Cl3) dùng làm dung môi,
metyl bromua (CH3Br) dùng làm chất diệt khuẩn, bảo quản lương thực, chất phụ gia
cho nhiên liệu vận tải, các hợp chất oxit nitơ (NO X) là sản phẩm của đốt cháy nhiên
liệu. Ozon ở tầng bình lưu suy giảm làm tăng các tia tử ngoại loại B (UV-B) trên bề
mặt trái đất gây bệnh ung thư da, đục thủy tinh thể cho con người và động vật, làm
biến đổi gen các sinh vật, ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, hủy hoại hệ sinh thái
trên trái đất.
Riêng với khí hậu địa phương, ô nhiễm không khí gây ra những ảnh hưởng sau:
- Tăng cao nhiệt độ
Nhiệt độ tối thiểu trong ngày ở vùng đô thị cao hơn vùng nông thôn xung
quanh 2-5 oC và nhiệt độ trung bình năm thường cao hơn 0,5-1,3 oC. Nguyên nhân
là do đốt nhiên liệu và các quá trình sản xuất theo phương pháp gia công nhiệt đã
tỏa lượng nhiệt lớn vào môi trường không khí, đồng thời diện tích bề mặt nhà cửa,
đường xá, sân bãi chiếm nhiều, chúng hút bức xạ mặt trời nhiều hơn mặt đất có
cây xanh ở nông thôn. Mặt khác, lượng nước bốc hơi hút nhiệt ở thành phố ít hơn
ở nông thôn. Ngược lại, độ ẩm tương đối của không khí ở thành phố thấp hơn ở
nông thôn 2-8 %.
- Giảm bức xạ mặt trời và tăng độ mây
Các bụi khói, sương mù ô nhiễm môi trường không khí đô thị có tác dụng
hấp thụ 10-20 % bức xạ mặt trời và làm giảm tầm nhìn, tức là làm giảm độ trong
suốt của khí quyển. Các bụi, các sol khí do hoạt động sản xuất, giao thông và sinh
hoạt của con người thải vào không khí có khả năng tạo ra các hạt nhân ngưng

qua đời cho thấy nguy cơ lớn nhất nằm trong khoảng vài trăm mét đến các khu ô
nhiễm trên [61].
Abbey đã tiến hành một nghiên cứu trong thời gian từ năm 1973-1992 để
ước tính tác động lâu dài của PM 10 và các yếu tố môi trường khác lên sức khỏe hô


hấp của người dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng PM 10 có mối liên hệ chặt chẽ
đến tỉ lệ tử vong do các bệnh hô hấp ở cả hai giới [53].
Tại Mỹ, nghiên cứu về ô nhiễm không khí tập trung tại 20 đô thị lớn nhất,
liên quan đến 50 triệu dân được tiến hành trong thời gian từ 1987-1994 cho thấy
nguyên nhân tử vong tăng lên 0,5 % khi tăng 10 μg/m3 lượng PM10. Nghiên cứu
cũng ước tính ô nhiễm không khí đã làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch và
hô hấp thêm 0,7 % [63].
Hoek. G tiến hành nghiên cứu trên 4492 số người tử vong trong thời gian từ
năm 1986-1994 tại Hà Lan cho thấy 489 trường hợp (11 %) liên quan đến việc sinh
sống tại những con đường giao thông chính [59].
Nghiên cứu của Rosenlund M và cộng sự năm 2001 về ảnh hưởng của tiếng
ồn máy bay lên dân cư lân cận sân bay Stockholm Arlanda cho thấy tỉ lệ tăng huyết
áp là 1,6 % khi độ ồn vượt quá 55 dBA và 1,8 % khi độ ồn vượt quá 72 dBA [62].
Năm 2004, Gauderman WJ, Frank Gilliland và cộng sự đã công bố kết quả
nghiên cứu được thực hiện trong vòng 8 năm trên 1.759 trẻ em đến từ khu vực Nam
California – nơi thường xuyên bị ô nhiễm bởi bụi hạt, khí nitơ,… cho thấy nguy cơ
thấp FEV cao hơn gần 5 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Như vậy, tác động của môi
trường ô nhiễm đã gây những phản ứng tiêu cực đến sự phát triển phổi ở trẻ em dẫn
đến những triệu chứng lâm sàng bất thường [57].
Theo nghiên cứu của Miller KA, DS Siscovick, Sheppard L, Shepherd K,
Sullivan JH, Anderson GL, Kaufman JD thuộc đại học Washington (2007) thì nguy
cơ tử vong do đau tim hoặc đột quỵ tăng 76 % khi tăng 10 microgram lượng bụi hạt
trên một mét khối không khí. Nhận định này được đưa ra khi phân tích hồ sơ y tế
của hơn 66.000 phụ nữ sau mãn kinh sống ở 36 thành phố với thời gian tối thiểu 6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status