B GIÁO D C ÀO T OỘ Ụ Đ Ạ
TR NG I H C VIƯỜ ĐẠ Ọ NH
LÊ THANH H IẢ
M T S BI N PH P QU N LÝ Ộ Ố Ệ Á Ả
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH
THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HOC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ; 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS - NGUT Ngô Sỹ Tùng
Nghệ An, 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trường
Đại học Vinh, Ban giám hiệu trường Đại học sư phạm Vinh, quý thầy cô
Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Quản lý – Giáo dục trường Đại học sư
phạm Vinh đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng chân thành và biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS.NGUT Ngô Sỹ Tùng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn Lãnh đạo phòng GD-ĐT huyện Thường Xuân, Ban giám
hiệu, đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Thường Xuân đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi tìm hiểu thực trạng và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
Cảm ơn các đồng nghiệp, các bạn bè đã cổ vũ, động viên, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học.
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Tác giả
3
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông
huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa …………………………… ………66
3.3. Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết và tính hợp lý của các biện pháp
đề xuất …………………………………………………………… ……….85
Tiểu kết chương 3……………………………………………………… … 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………………………………………………88
1. Kết luận ……………………………………………………….…………89
2. Kiến nghị ……………………………………………………… ……….90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………….…………92
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
CBQL : Cán bộ quản lý
CSVC : Cơ sở vật chất\
ĐHQG : Đại học Quốc gia
ĐHSP : Đại học sư phạm
GV : Giáo viên
GVBM : Giáo viên bộ môn
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HĐTH : Hoạt động tự học
HT : Hiệu trưởng
HS : Học sinh
NDDH : Nội dung dạy học
NXB : Nhà xuất bản
PPDH : Phương pháp dạy học
PPGD : Phương pháp giảng dạy
THCS : Trung học cơ sở
Bảng 2.14. Vai trò các lực lượng giáo dục trong việc quản lý và hướng
dẫn tự học…………………………………………………………… 57
Bảng 2.15. Thực trạng về tổ chức các hoạt động kiểm tra, đánh giá
HĐTH……………………………………………………………………… 59
Bảng 3.1. Ý kiến đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện
Pháp………………………………………………………………… 85
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học , công nghệ tiếp
tục phát triển với những bước tiến nhảy vọt, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên
công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời
tác động đến tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời
sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội. Lượng kiến thức nhân loại ngày
càng tăng nhanh. Theo ước tính, trung bình cứ 10 đến 15 năm thì lượng kiến
thức của nhân loại tăng lên gấp đôi. Khoảng cách giữa các phát minh khoa
học , công nghệ và áp dụng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp lại. Thế giới đang
diễn ra xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình đó,
các nước vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh với nhau để bảo vệ quyền
lợi quốc gia. Sự cạnh tranh kinh tế ngày càng quyết liệt đòi hỏi các nước phải
nhanh chóng đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lượng hàng hóa. Tất cả những điều đó đòi hỏi ngành giáo dục của mỗi nước
phải cung cấp cho xã hội một đội ngũ lao động mới, có trình độ, giỏi tay
nghề, có khả năng tiếp thu và nắm bắt công nghệ mới nhanh, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của xã hội.
Với sự bùng nổ của thông tin, khoa học kỹ thuật , công nghệ, sự hình
thành nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa nhanh như vậy
thì dù nhà trường có đầu tư, trang bị tốt đến mấy cũng không thể cập nhật kịp
thời hết thông tin cho học sinh, đáp ứng được nhu cầu đa dạng và phát triển
của cuộc sống. Vì vậy nhà trường phải cung cấp cho các em phương pháp học
hợp để nâng cao hiệu quả tự học cho học sinh.
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn nghiên cứu
đề tài: “Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trung
học phổ thông huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa”, chúng tôi mong
muốn góp phần đổi mới công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh, để
8
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của huyện nhà, đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục THPT trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề xuất một số
biện pháp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của học sinh
THPT huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể: Công tác quản lý hoạt động tự học của trường THPT.
3.2. Đối tượng: Biện pháp quản lí hoạt động tự học của học sinh THPT
huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xác lập và thực hiện các biện pháp quản lý phù hợp và đồng bộ thì
chất lượng và hiệu quả hoạt động tự học của học sinh các trường THPT huyện
Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa có thể được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu
mới giáo dục THPT trong giai đoạn hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự học của học sinh
các trường THPT
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động tự học
của học sinh ở các trường THPT huyện Thường Xuân- tỉnh Thanh Hóa
5.3.Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng tự học
của học sinh THPT huyện Thường Xuân- tỉnh Thanh Hóa
6. Phạm vi nghiên cứu
- Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu ở 02 trường
chính.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động tự học của học
sinh trung học phổ thông.
10
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh
ở các trường trung học phổ thông huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các
trường trung học phổ thông huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình tích lũy kinh nghiệm của bản thân, tự học là hình thức
học tập không thể thiếu đối với mọi người, đặc biệt là với học sinh, sinh viên
tự học lại càng quan trọng và có ý nghĩa thiết thực. Có thể nói rằng, tự học
gắn liền với cuộc đời của mỗi con người. vì vậy, vấn đề tự học, tự đúc rút
kinh nghiệm đã được loài người rất quan tâm nghiên cứu.
Trong khoa học giáo dục, nhiều tài liệu, nhiều nhà nghiên cứu khoa học
đã đề cập đến vấn đề tự học của học sinh và sinh viên dưới nhiều hình thức
khác nhau.
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
- Ngay từ thời cổ đại, các nhà sư phạm nổi tiếng như Khổng Tử, Aristot
đã cho rằng: Dạy và học phải trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức của
học trò và đòi hỏi học trò phải biết kết hợp với suy nghĩ, biết năng động trong
học tập và đã cố gắng gợi mở để trò tự học trong hoạt động học tập của mình.
- N.A.Rubakin với tác phẩm “Tự học như thế nào?” [21] đã đề cập đến
việc tự học và những đặc tính riêng của từng người, hướng dẫn cách đọc sách
mang lại hiệu quả, cách chọn sách, nghệ thuật chọn sách…
- J.A.Komensky (1592-1670), nhà sư phạm lỗi lạc của cộng hòa Séc đã
đảm thắng lợi của tự học, các trở lực cho việc tự học và kinh nghiệm khắc
phục.
- GS.TSKH Thái Duy Tuyên trong tác phẩm “Phương pháp dạy học
truyền thống và đổi mới”[25] cũng đã nêu rõ vấn đề cấp thiết của tự học trong
giai đoạn hiện nay là tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và bồi
dưỡng kỹ năng tự học cho học sinh THPT.
13
- TS Trần Văn Hiếu với luận án tiến sĩ: “Xây dựng quy trình làm việc
độc lập với sách cho sinh viên” (1999) và sau đó đề tài khoa học công nghệ
cấp bộ “Xây dựng và rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học cho sinh viên” (2002)
đã nêu rõ các kỹ năng tự học cần rèn luyện của sinh viên.
- PGS.TS Lê Công Triêm (2001) trong bài báo: “Bồi dưỡng năng lực tự
học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học” [24, tr.20] cũng đã nêu tự học là
bước đầu việc tự nghiên cứu của sinh viên.
Tác giả Lê Văn Chiến (2001) với đề tài: Một số biện pháp quản lý
nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh THCS [6].
Tác giả Phạm Thị Cẩm Lệ (2003) với đề tài: Thực trạng và các biện
pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trường cao đẳng
sư phạm Thanh Hóa [16].
Tác giả Lữ Thị Hải Yến (2007) với đề tài: Các biện pháp quản lý của
Hiệu trưởng đối với hoạt động tự học của sinh viên Trường Cao Đẳng Sư
Phạm Đắc Lắc [27].
Tác giả Nguyễn Văn Phước (2008) với đề tài: Biện pháp quản lý hoạt
động tự học của học sinh trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã Tây
Ninh - tỉnh Tây Ninh.
Các đề tài đã nghiên cứu thử nghiệm cụ thể và đề xuất các biện pháp
quản lý đối với HĐTH của học sinh ở các trường trung học cơ sở (THCS),
THPT, cao đẳng một số tỉnh, thành.
Tuy nhiên, vấn đề tự học của học sinh các trường THPT trên địa bàn
huyện Thường Xuân với những đặc thù riêng của nó vẫn chưa có một đề tài
đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [15, tr.8].
Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ lại cho rằng: "Quản
lý là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến
hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới" [18].
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ
tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản
15
lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến
đối tượng và khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý,
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt
được mục tiêu đề ra.
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của loài người, một hiện tượng có
mục đích mà chỉ xã hội loài người mới có, các hiện tượng giáo dục được nảy
sinh ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện và là nhu cầu cấp thiết của sự
phát triển xã hội. Nhờ đó, các thế hệ sau chiếm lĩnh được những kinh nghiệm,
những tri thức giúp họ có thể tham gia tích cực vào mọi hoạt động trong cuộc
sống và những lĩnh vực hoạt động khác, làm cho xã hội loài người luôn tồn tại
và phát triển không ngừng.
Vì giáo dục là một hiện tượng xã hội, do đó, quản lý giáo dục được
hình thành là một tất yếu khách quan từ quản lý xã hội, hay nói cách khác,
quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội, có nhiều quan niệm khác
nhau về quản lý giáo dục.
Theo PGS Đặng Quốc Bảo:
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối
hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường
xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi
người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo
dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong
Trong quá trình nghiên cứu về tự học theo thời gian mỗi nhà nghiên
cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau:
- Theo R. Rezke thì “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khoa học
không nằm trong các bước tổ chức giảng dạy của sinh viên” [20].
17
- Còn N.A.Rubakin lại cho rằng “Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự
học” [21].
- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tự học chính là nỗ lực của bản thân
người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh
thần tự động học tập, lại cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và sự
quản lý chỉ đạo giúp vào” [17].
- Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não sử dụng
các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi còn cả
cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, và cả động cơ,
tình cảm, các nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực khách quan, có chí
tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý
muốn thi đố, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực
hiểu biết của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [23].
Theo Vũ Văn Tảo: “học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại,
trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con
người bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống
của chủ thể” [22, tr.37].
Trên cơ sở tiếp nhận các quan điểm của các tác giả, chúng ta có thể
hiểu rằng: Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo củ chính bản thân người học. Trong quá trình đó,
người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các
chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã
định. Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo của mỗi
người.
Tự học không có nghĩa là không có thầy; Tự học có thể là tự mình động
thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính mình. Quản lý hoạt động tự học của
học sinh có liên quan chặt chẽ với quá trình tổ chức dạy học của giáo viên.
Như vậy, Quản lý hoạt động tự học của học sinh là một hệ thống có tác
động sư phạm có mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lục lượng giáo
19
dục trong và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của học sinh nhắm
thúc đẩy học sinh tính tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức bằng sự
cố gắng nỗ lực của chính bản thân.
Nội dung quản lý hoạt động tự học của học sinh bao gồm nhiều hoạt
động như: quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học; xây dựng và thực hiện kế
hoạch tự học; xây dựng nội dung tự học; bồi dưỡng phương pháp tự học; xây
dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả tự học; các điều kiện đãm bảo cho
hoạt động tự học.
1.2.5.1. Quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học.
Mọi hoạt động của con người đều có mục đích, được thúc đấy bởi động
cơ, động cơ hoạt động là lục đẩy giúp chủ thể vượt khó khăn để đạt được mục
đích đã định. Hoạt động tự học của học sinh THPT phải được xây dựng bởi
động cơ tự học, mà động cơ tự học lại được hình thành từ nhu cầu bản chất
của vấn đế giáo dục, trong đó hình thành nhu cầu, động cơ tự học cho học
sinh là yếu tố quyết định.
1.2.5.2. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học.
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một
cách hợp lý dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các
điều kiện được đảm bảo nhắm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từng
môn học. có kế hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập một
cách khoa học, năng động sáng tạo và hiệu quả hơn.
1.2.5.3. Quản lý việc xây dựng nội dung tự học.
Nội dung tự học là hệ thống kiến thức có tính bắt buộc phải hoàn thành
và hệ thống kiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung học tập mà
thầy cô giảng trên lớp.
Theo từ điển tiếng việt, biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải
quyết vấn đề một cách cụ thể.
Biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, các hình thức tiến hành
của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những
21
vấn đề cụ thể của hệ quản lý, làm cho hệ vận hành phát triển đạt được mục
tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan.
Biện pháp quản lý hoạt động tự học: là tổ hợp các phương pháp, các
cách thức tiến hành của lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tác
động đến toàn bộ quá trình tự học của học sinh nhằm thúc đẩy học sinh tự
giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính
bản thân học sinh.
Để quản lý tốt hoạt động tự học của học sinh có thể sự dụng nhiều biện
pháp khác nhau, nhưng có thể chia thành ba nhóm biện pháp chính:
- Biện pháp quản lý có tính chất hành chính, quy chế: Căn cứ điều lệ
trường THPT, quy định quản lý việc dạy học trên lớp của giáo viên và việc
học tập của học sinh.
- Biện pháp quản lý có tính chất đặc thù: Thông qua việc soạn bài
trước khi lên lớp, giáo viên thiết kế các tình huống để tạo hứng thú học tập,
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, thu hút học sinh vào
hoạt động tự học ngay trong các giờ lên lớp. Thông qua việc giao nội dung lý
thuyết, bài tập để học sinh tự học ngoài giờ lên lớp.
Biện pháp quản lý mang tính chất kích thich hoạt động cá nhân: Tổ
chức các hoạt động thi đua giữa các nhân, nhóm, tập thể lớp và trong toàn
trường. Động viên, khen thưởng kịp thời những cá nhân có thành tích cao
trong học tập, những tập thể có phong trào tự quản tốt trong học tập để kích
thích hứng thú và hình thành ý thức tự học trong học sinh.
1.3. Tự học của học sinh trung học phổ thông
1.3.1. Vai trò, ý nghĩa của tự học đối với sự phát triển nhân cách và
chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh
dục, người hiệu trưởng nhất thiết phải làm tốt công tác quản lý HĐTH của
học sinh.
Từ những phân tích trên cho thấy tự học đống vai trò quyết định đến sự
hình thành và phất triển nhân cách của HS, bởi nhân cách của HS chính là
23
phẩm chất và năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo
tại nhà trường THPT.
1.3.2. Nội dung và hình thức tự học.
* Nội dung tự học:
* Các hình thức tự học
Đối với học sinh THPT: Hình thức tự học là hoạt động học tập mà học
sinh tự tổ chức học tập theo một yêu cầu, chế độ nhất định nào đó nhằm đạt
hiệu quả học tập cao nhất.
Tự học giờ lên lớp có các hình thức:
+ Cá nhân: Suy nghĩ, nghe giảng, sắp xếp kiến thức để lĩnh hội trước
yêu cầu của giáo viên.
+ Tự học tập thảo luận theo nhóm: Thảo luận vấn đề dưới sự chỉ dẫn
của giáo viên để lĩnh hội kiến thức và phát hiện cái mới.
Tự học ngoài giờ lên lớp có các hình thức:
+ Cá nhân: Tự học một mình, tự vạch ra kế hoạch học tập phù hợp điều
kiện hoàn cảnh của mình, cũng có thể tự học một cách ngẫu hứng.
+ Đôi bạn học tập: Hai người có cùng một sở thích, một điểm chung
nào đó cùng tự học với nhau, bổ trợ kiến thức cho nhau.
+ Nhóm, tổ: Là hình thức học của một nhóm, tổ học sinh nhằm giúp đỡ
nhau học tập, tạo điều kiện cho nhau lĩnh hội kiến thức.
Do đó, tự học có thể diễn ra bất cứ không gian và thời gian nào; là một
bộ phận của hoạt động học tập nên là một khâu trong quá trình dạy và học
được nhà trường quản lí.
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tự học của học sinh trung
học phổ thông
môn học liên nghành, hình thành các môn học mới như: Khoa học Thực
nghiệm, Khoa học Nhân văn, Khoa học phục vụ đời sống và giáo dục, Khoa
học về giới tính…
* Phương pháp dạy học:
25